Giới thiệu
Tin tứcSự kiện & Đối thoại
Sáng Tác
Nghệ thuật
Lý luận & Phê bìnhNgười & Đất quê hương
MultiMedia
Zalo

Tư duy liên căn phi tuyến tính

VÕ QUỐC VIỆT    17/05/2026    30
Tư duy liên căn phi tuyến tính (rhizomatic thinking) là một quan niệm được phát triển bởi triết gia người Pháp Gilles Deleuze và Félix Guattari - cộng sự thường xuyên của ông. Quan niệm này xuất hiện trong nhiều nghiên cứu của Deleuze nhưng chủ yếu được bàn luận trong trước tác A Thousand Plateaus: Capitalism and Schizophrenia (1980/1987). Rhizome, một thuật ngữ vốn thuộc lĩnh vực thực vật học, đề cập đến một mạng lưới rễ lan rộng theo chiều ngang (như tre hoặc gừng), đóng vai trò như phép ẩn dụ cho khung triết lý của họ. Deleuze và Guattari sử dụng hình tượng thân rễ (rhizome) để gợi mở cách tư duy. Hai ông đặt tư duy thân rễ và tư duy hình cây trong thế đối lập. Tư duy hình cây biểu hiện như hệ thống dẫn xuất từ rễ, gốc, thân, cành, nhánh, lá. Rễ cắm vào đất ở nơi xác định; theo đó hệ thống dẫn xuất tư tưởng như vậy cũng được xác định. Trái lại, tư duy thân rễ không có xu hướng hệ thống hóa, phân cấp hóa, và cố định hóa.

Tư duy liên căn phi tuyến tính

VÕ QUỐC VIỆT

 

1. Để xác định lối tư duy liên căn, như Deleuze và Guattari đề ra một cách tiên quyết, cần phân biệt giữa cái năng tri và cái năng tưởng. Năng tri là việc phân loại hóa, phạm trù hóa và căn tính hóa để tạo nên điều biết, kiến thức. Khi điều gì đó trở thành kiến thức, tức nó được xác định. Khi nó đã được phân loại hóa, phạm trù hóa và căn tính hóa; nó thành ra thuộc vào tập xác định khả tri của trí năng người. Điều này có nghĩa là gì? Nghĩa là nó suy giảm khả năng khêu khích, kêu gọi tương tác trong suy nghĩ. Ta không còn cảm thấy phải thao tác trí năng với nó nữa, cũng không còn nhu cầu chế tác nó nữa. Từ đó, nó thành ra một thứ gì như đã được thiết lập sẵn và quen thuộc, nó nép mình vào trong căn tính đã được lập thành.

Trong khi đó, nghĩ tưởng được coi như khả thể. Nó là diễn trình hoàn toàn chủ động, năng sản, đang trong tư thế “đang là” và “khả dĩ”. Nhờ đó, nghĩ tưởng là quá trình mang tính sáng tạo và tiến hóa. Sự tiến hóa của nghĩ tưởng bao hàm trong nó sự lập thành tiến hóa, phản tư tiến hóa và tái thiết tiến hóa. Lối nghĩ tưởng như thế, ta đã bắt gặp trong sự phục hưng tinh thần nhân văn cổ đại của thời Phục Hưng, ngõ hòng chống lại giáo điều giáo hội, mà nhờ đó thời đại ấy phô nở vẻ đẹp rực rỡ của nhân tính. Một lần nữa, khi nhân văn Phục Hưng (gia cố bởi tinh thần duy lý Khai Sáng) dần trở nên xơ cứng thì tư duy ấy lại phục hưng tinh thần Phục Hưng để hướng đến thiết lập phản nhân bản luận; lấy đó làm điểm tựa tiến tới nhãn quan khác về nhân loại: trào lưu tư tưởng hậu nhân bản. Sở dĩ nó làm được như vậy, bởi nó không duy trì lối nghĩ tưởng một chiều, tuyến tính; trái lại nó vực mình tách ra khỏi và phản vấn. Nhờ đó, tư duy thành ra phi tuyến tính, và thông qua các kết nối khả dĩ hết sức đa dạng, đích đến của tư duy như vậy hoàn toàn không thể đoán trước. Theo nhận định của Deleuze và Guattari, sự nghĩ tưởng được xem như lành mạnh khi nó không thể xác định được điểm khởi đầu, điểm kết thúc; và ở bất kỳ điểm nào của dòng nghĩ tưởng như thế, người ta đều có thể khởi phát rẽ hướng nghĩ tưởng, đều có thể tách dòng để tạo thành mạng lưới vô biên nghĩ tưởng. Nghĩ tưởng lành mạnh là kiểu tư duy luôn luôn “đang lên đường”. Chẳng hạn, hành động trần thuật trong một số sáng tác Tiểu thuyết mới. Đường nghĩ tưởng với chiều hướng không định sẵn, mãi mãi là những điểm trung chuyển chứ không có điểm tận cùng; như hành trình lữ thứ vô biên, kiếp đời du mục mãi mãi, liên tục kết giao bằng hữu trên đường đi, liên tục đảo chiều đổi hướng. Nghĩ tưởng tức không thể không lưu đày xê dịch nghĩ tưởng. Trong văn bản, biểu hiện của nghĩ tưởng là sự năng sản, phân hạch liên tục thành đa tuyến tư duy, biểu hiện ra thành sự luận giải miên viễn vô biên. Sự luận giải như thế không hề nhắm đến một điểm đích “chân lý tri kiến” nào. Giá trị của nó ở chỗ liên tục phân hạch, liên tục luận giải. Đó là lối luận giải muôn đời phát tiết, vĩnh viễn phi thăng. Đó là lối tư duy liên căn phi tuyến tính.

2. Tư duy liên căn phi tuyến tính (rhizomatic thinking) là một quan niệm được phát triển bởi triết gia người Pháp Gilles Deleuze và Félix Guattari - cộng sự thường xuyên của ông. Quan niệm này xuất hiện trong nhiều nghiên cứu của Deleuze nhưng chủ yếu được bàn luận trong trước tác A Thousand Plateaus: Capitalism and Schizophrenia (1980/1987). Rhizome, một thuật ngữ vốn thuộc lĩnh vực thực vật học, đề cập đến một mạng lưới rễ lan rộng theo chiều ngang (như tre hoặc gừng), đóng vai trò như phép ẩn dụ cho khung triết lý của họ. Deleuze và Guattari sử dụng hình tượng thân rễ (rhizome) để gợi mở cách tư duy. Hai ông đặt tư duy thân rễ và tư duy hình cây trong thế đối lập. Tư duy hình cây biểu hiện như hệ thống dẫn xuất từ rễ, gốc, thân, cành, nhánh, lá. Rễ cắm vào đất ở nơi xác định; theo đó hệ thống dẫn xuất tư tưởng như vậy cũng được xác định. Trái lại, tư duy thân rễ không có xu hướng hệ thống hóa, phân cấp hóa, và cố định hóa. Todd May nói đến loài sắn dây (kudzu) như cách cụ thể hóa quan niệm của Deleuze và Guattari. Bởi loài sắn dây có hình thức sinh sản sinh dưỡng; nó có thể mọc rễ ở mỗi đốt và có thể tạo nên cá thể mới từ thân rễ. Nó có thể tái sinh và luân chuyển ở bất cứ mấu/mắc/chốt/đốt/điểm tư duy nào. Theo cách hiểu của Deleuze, “nó có thể đâm rễ từ bất kỳ điểm nào, nảy lá và mọc chồi từ bất kỳ điểm nào. Nó không có khởi đầu: không rễ. Nó không có đoạn giữa: không thân. Và nó không có điểm kết thúc: không ngọn. Nó vốn luôn lưng chừng, vốn luôn trong quá trình. Không có hình dạng cụ thể nào mà nó phải có và không có mảnh đất nào mà nó phải chôn chân. Nó có thể kết nối từ bất kỳ bộ phận nào của chính nó với một cái cây, với nền đất, với rào dậu, với cây cối khác, với chính nó”. Thế nên, tôi đã gọi tên thuật ngữ này như là “liên căn phi tuyến tính” để có thể phản ánh yếu tính của hình thức tư duy này.

Để giải thích cho cách chuyển ngữ “liên căn phi tuyến tính”, tôi muốn dẫn lại Deleuze và Guattari: “Thân rễ không có điểm khởi đầu hay chấm dứt; nó vốn luôn lưng chừng, vốn luôn ở giữa muôn vật, liên hữu thể, liên biến chuyển. [Tư duy] hình cây thì phân nhánh, nhưng [tư duy] thân rễ thì liên giao/liên hợp, một liên giao/liên hợp độc đáo. Tư duy cây áp đặt động từ “là”, còn sự kết dệt thân rễ là liên từ, “và… và… và… ”. Liên từ này đủ sức làm rúng động và nhổ tận gốc động từ “là””. Theo như nhận định này, ta thấy tư duy cây bộc lộ tính hệ thống, dẫn xuất, tuyến tính và ràng buộc xác định. Nói khác, nó mang tính đặt để, áp chế, quy phạm. Nó có xu hướng thiết chế hóa, trung tâm hóa, độc tôn hóa. Tư duy cây có thể thấy qua ý chí bá quyền của thực dân - đế quốc; hoặc cách thế áp đặt ứng xử và luật chơi của các siêu cường. Ngược lại, tư duy liên căn không cô kết ở một (nhóm) khái niệm đơn lẻ; nghĩa là không có điểm nào như là trung tâm và trọng tâm; mà có thể bột phát truyền lan sinh triển từ bất cứ khái niệm nào; nó tăng sinh liên kết, tăng sinh khái niệm, tăng sinh tư tưởng. Tư duy cây tạo nên sinh thể chôn chân, cứng đọng; tư duy liên căn tạo nên sinh thể truyền lan, liên tục và đồng thời biến hóa sinh mệnh. Thế nhưng, điều này không có nghĩa tư duy hình cây và tư duy thân rễ/liên căn trong thế đối lập và tách rời nhau; ngược lại hai hình thái tư duy này không tách rời mà nội tạo lẫn nhau. Tư duy cây là tiền đề, là tiềm thể của tư duy liên căn; ngược lại, tư duy liên căn đòi hỏi, truy cầu, xui khiến kiến tạo tư duy cây. Mối tương quan này có thể thấy ở chỗ: giải cát cứ hóa (deterritorialization) vốn đã tàng ẩn trong việc cát cứ hóa (territorialization). Chính nhờ tương quan như thế, Deleuze và Guattari nhận thấy hai lối tư duy có khả năng giúp nhận thức và giải trừ độc tố của việc thiết chế hóa tư tưởng; nhất là trong thời đại hậu sự thật. Từ đó, việc này có thể vận dụng để tiếp cận nhiều lĩnh vực học thuật khác nhau (triết học, văn học, văn hóa học, xã hội học,…).

Trong phần giới thiệu tư duy liên căn thuộc trước tác A Thousand Plateaus: Capitalism and schizophrenia, Deleuze và Guattari diễn giải cách thế tồn tại siêu hình của cuốn sách đồng dạng với tự nhiên, đồng dạng với thế giới. Hai ông phát hiện ra hệ nhị nguyên của lối tư duy phổ biến. Luận lý nhị phân là thực tại mang tính tâm linh của cây-gốc. Deleuze và Guattari đưa ra quan niệm thông qua việc ví von tồn tại siêu hình của cuốn sách. Một cuốn sách hay lối tư duy: từ kiểu tư duy cây rễ cọc/rễ chùm đến tư duy thân rễ-liên căn. Đúng hơn, trong A Thousand Plateaus, hai ông đề xuất ba lối tư duy. Trong đó, tư duy cây rễ chùm, “rễ chính/cọc đã bị thui chột, hoặc đầu rễ của nó đã bị phá hủy; [tại đầu rễ thui chột đó] một lượng lớn rễ phụ vô hạn lập tức nảy ra và trải qua quá trình tăng trưởng mạnh mẽ. Lúc này, thực tính tự nhiên là cái phá hủy rễ chính/cọc, nhưng tính thống nhất của gốc rễ vẫn còn tồn tại, dù đã qua hay chưa tới, dù ít hay nhiều”. Lối tư duy này cho thấy vòng luân chuyển hồi quy - sự lan tỏa tăng sinh trong thống nhất. Hai ông minh chứng tư duy rễ chùm qua lời văn Joyce - như lời văn được thi triển như thể có “nhiều gốc rễ”, và như thế nó phá vỡ sự thống nhất tuyến tính của ngôn từ, để từ đó cho thấy tính thống nhất tuần hoàn của câu, văn bản và cái năng tri; tương tự những cách ngôn của Nietzsche đã phá vỡ tính thống nhất tuyến tính của cái năng tri để gợi lên quy hồi vĩnh cửu, bày ra cái bất khả tri của năng tưởng. Nhưng tôi nghĩ, có vẻ như hai ông đã chỉ ra lối tư duy rễ chùm như nỗ lực phá vỡ tính tuyến tính, nhưng thực ra nó chưa phá vỡ tính thống nhất, không phủ nhận nỗ lực nhưng nó hẳn còn vướng trong lối luận lý nhị nguyên. Thực chất, tư duy rễ chùm chỉ bội phân luận lý nhị nguyên của tư duy rễ cọc.

Vượt qua lối suy nghĩ nhị nguyên tuyến tính một chiều, tư duy liên căn phi tuyến tính không phải một phát minh, càng không phải điều gì mới mẻ. Đóng góp của Deleuze và Guattari chính là việc nhắc nhớ ta quay trở lại lối tư duy thuần phác lành mạnh của trí năng người. Sức khỏe tư duy suy giảm nếu bị đặt trong tình thế thiết chế hóa, quy phạm hóa, phạm trù hóa, căn tính hóa. Và thêm đó, hai ông còn cho ta thấy “ý lực” nào đó đã khiến cho tư duy của ta trở nên nhị phân, tuyến tính, đơn phương, khiến ta sa lầy vào những cái bẫy diễn ngôn, đến mức ta không nhận ra quyền lực đằng sau diễn ngôn. Nó khiến thể trạng tư duy ta trở thành đám đông cùng hiệp sức gia cố cho huyền thoại nào đó. Điều dễ thấy trong đời sống cá nhân mỗi người, với cái đà xã hội tiêu thụ giải trí được trợ lực bởi truyền thông đa-liên-xuyên-tân phương tiện, chúng ta ngày càng lao mình về phía giành ăn, giành ở, giành mặc, giành nói, giành sự chú ý. Quyền lực của diễn ngôn ngày càng hùng mạnh hơn, bởi nó đã duy trì được lối tư duy tuyến tính một chiều, và nó khiến tư duy ấy dần dà mất khả năng tự xoay chiều/tự vận động, dần dà trở nên trì độn mòn ruỗng chức năng. Chủ thể tính trong thời đại hậu sự thật và tư bản giám sát - đặc trưng của xã hội phương Tây - đang bị thách thức tận gốc rễ bản thể. Nhận thức này kêu gọi mỗi cá nhân tự bảo vệ sự lành mạnh của tư duy mình; hãy bảo vệ sức khỏe tinh thần bản thân, nhất là trong thời buổi trí năng nhân tạo hiện diện mọi ngóc ngách đời sống.

Quyền lực của diễn ngôn ngày càng hùng mạnh hơn, bởi nó đã duy trì được lối tư duy tuyến tính một chiều, và nó khiến tư duy ấy dần dà mất khả năng tự xoay chiều/tự vận động, dần dà trở nên trì độn mòn ruỗng chức năng. Chủ thể tính trong thời đại hậu sự thật và tư bản giám sát - đặc trưng của xã hội phương Tây - đang bị thách thức tận gốc rễ bản thể. Nhận thức này kêu gọi mỗi cá nhân tự bảo vệ sự lành mạnh của tư duy mình; hãy bảo vệ sức khỏe tinh thần bản thân, nhất là trong thời buổi trí năng nhân tạo hiện diện mọi ngóc ngách đời sống.

3. Nhưng cốt tủy nguyên nhân gây xói mòn tri nhận và “rễ cọc hóa” tư duy không phải bởi thực thể thông minh nhân tạo, cũng không phải tác nhân công nghệ mới nổi. Đến đây, tôi muốn nhắc lại lời của Heidegger:

“Mối đe dọa trước hết đối với con người không đến từ những cỗ máy và thiết bị công nghệ tiềm ẩn nguy cơ gây chết người. Mối đe dọa thực sự vốn luôn ảnh hưởng đến con người nằm ngay tại chính bản tính người. Chính ý lực quyền quản hình thái hóa (Enframing/ Gestell) đe dọa con người; nó đe dọa bằng khả năng ngăn cản con người tiến nhập vào sự khải thị uyên ủy hơn, và theo đó ngăn cản con người nghiệm chứng tiếng gọi của chân lý uyên nguyên hơn. Thế nên, hễ ở đâu ý lực hình thái hóa của công nghệ ngự trị thì nơi đó hiểm nguy dâng lên cực độ”.

Chính tại đây, trang văn trở thành miền tư tưởng có khả năng kháng cự lực hình thái hóa của công nghệ; bằng cách hình thành, bồi đắp và dung dưỡng lối tư duy khỏe khoắn đầy tính sáng tạo; cũng như miền tư tưởng rèn giũa cho tâm hồn con người có khả năng tiến nhập khải thị uyên ủy; để ta nghe ra tiếng gọi vĩnh cửu của chính linh hồn mình. Thực hành sáng tạo còn là ấn chứng cho trải nghiệm người sống động. Thế nên, chủ thể sáng tạo và chủ thể tiếp nhận đồng thời thực thi ý chí tự do khi hội giao trên trang văn. Bằng thực hành sáng tạo như thế, ý chí tự do ấn chứng cho trải nghiệm chủ thể tính, cũng tức là trải nghiệm lập thành nhân tính. Do đó, có thể nói, sức mạnh của trang văn nằm ở chỗ chống lại sự suy giảm khả năng tri nhận và chống lại sự xói mòn nhân tính. Nhất là, “Trong nền văn hóa bị mã hóa đầy thách thức vốn vẫn được cho là tự do nhờ công nghệ, chúng ta đã bị dẫn đạo một cách chu đáo đến kiểu nhận thức mới: ta nhìn như một thuật toán, ta cảm như dòng dữ liệu, ta nghĩ như máy phân tích [thông tin], với chủ thể tính chẳng khác gì cái máy bay không người lái - bị xuôi khiến bởi tốc độ kết nối với hỏa nhãn kim tinh chẳng khác gì cỗ máy truy vết; bị cám dỗ phải moi ra phơi trần hết thẩy lòng dạ ruột gan càng nhiều càng tốt với sự chú tâm lan truyền chẳng khác gì đám đông nhảy flashmob cẩu thả, và ta để hồn chìm đắm trong tình nồng mê li của hàng ngàn bè bạn xa xôi, nhưng chẳng có nổi mối thân tình gần gũi trước mặt”.

Giữa guồng quay mã hóa xã hội đương thời, con người cần một phương thức chữa lành những tổn thương của tâm hồn. Như một hệ lụy của vòng vây ma trận truyền thông nhiễu loạn tinh thần, con người cần một không gian đủ để hít thở và nghĩ tưởng như một sinh thể biết long lanh đôi mắt, biết nồng nàn đôi môi và biết thắt thẻo trái tim nóng hổi. Thế nên, hãy dấn thân vào trang văn, hãy chan sớt tâm hồn mình vào trang thơ, để ánh mắt và nhịp tim phập phồng cùng những rung cảm văn thi sĩ muôn đời. Bằng cách đó, ta có thể giữ lại phần hồn nguyên thủy - tấm linh hồn ấn chứng cho một con người chân phương thuần túy. Giữa thời đại bị trung gian hóa ngày càng sâu sắc bởi thiết bị công nghệ thì những đụng chạm nồng ấm của xác phàm, những giao cảm mê ly của hồn người trở nên quý giá như vàng ngọc!

Rừng Dầu, tháng 12/2025

V.Q.V