Giới thiệu
Tin tứcSự kiện & Đối thoại
Sáng Tác
Nghệ thuật
Lý luận & Phê bìnhNgười & Đất quê hương
MultiMedia
Zalo

Lần “Theo dấu bụi vàng tích Việt” của Phan Hoàng

HOA NẮNG    04/06/2026    434
Trước khi dấn thân vào ký, Phan Hoàng sớm tạo dấu ấn riêng bằng những vần thơ cách tân, được khẳng định qua các giải thưởng trong nước và quốc tế dành cho Bước gió truyền kỳ, Chất vấn thói quen. Gần đây, anh còn khởi xướng thể thơ mới 1-2-3 được đông đảo bạn yêu thơ trên khắp mọi miền đất nước hưởng ứng. Song hành với thi ca, bản lĩnh đối thoại của anh cũng bộc lộ sắc sảo qua các tập phỏng vấn chân dung như Phỏng vấn Tướng lĩnh Việt Nam, Phỏng vấn Người Sài Gòn, Phỏng vấn Người Hà Nội… Thế nhưng, dường như tất cả những trải nghiệm ấy chưa đủ thỏa mãn khát vọng đi và viết của anh, anh tìm đến ký, dấn thân vào sân chơi của ký. Rời Sài Gòn đất lành chim đậu và Sài Gòn đất thiêng khí tụ, anh tiếp tục rong ruổi qua nhiều vùng miền, lần ngược về lịch sử, đối thoại sòng phẳng với quá khứ trong tâm thế người lữ hành tìm về cội nguồn để viết nên tập ký Theo dấu bụi vàng tích Việt (Nxb Hội Nhà văn, 2025).

 

 

Tôi thường gặp anh Phan Hoàng trong những buổi sinh hoạt văn chương hay đôi khi là những cuộc anh em trà lá chuyện trò thân tình. Ấn tượng trong tôi vẫn là một Phan Hoàng luôn rạng rỡ nụ cười và đầy ắp sự hài hước. Hễ có mặt anh, không khí hôm đó dường như hân hoan, nhẹ nhõm hơn. Càng quý mến Phan Hoàng phóng khoáng, lãng tử ngoài đời bao nhiêu thì khi đọc tác phẩm của anh, tôi lại càng trân trọng nội lực và sự nghiêm cẩn của anh bấy nhiêu.

Phan Hoàng, tên thật là Phan Tấn Hùng, sinh năm 1967 tại Phú Yên. Anh học chuyên văn ở Tuy Hòa và Nha Trang, sau đó tốt nghiệp ngành Ngôn ngữ học tại Đại học Tổng hợp TP.HCM. Hoạt động trong lĩnh vực báo chí và văn học với nhiều vai trò đa dạng, từ phóng viên, biên tập viên, chủ biên đến người tổ chức, ở vị trí nào, anh cũng cho chúng ta thấy niềm đắm mê và trách nhiệm với con chữ.

Trước khi dấn thân vào ký, Phan Hoàng sớm tạo dấu ấn riêng bằng những vần thơ cách tân, được khẳng định qua các giải thưởng trong nước và quốc tế dành cho Bước gió truyền kỳChất vấn thói quen. Gần đây, anh còn khởi xướng thể thơ mới 1-2-3 được đông đảo bạn yêu thơ trên khắp mọi miền đất nước hưởng ứng. Song hành với thi ca, bản lĩnh đối thoại của anh cũng bộc lộ sắc sảo qua các tập phỏng vấn chân dung như Phỏng vấn Tướng lĩnh Việt NamPhỏng vấn Người Sài GònPhỏng vấn Người Hà Nội… Thế nhưng, dường như tất cả những trải nghiệm ấy chưa đủ thỏa mãn khát vọng đi và viết của anh, anh tìm đến ký, dấn thân vào sân chơi của ký. Rời Sài Gòn đất lành chim đậu và Sài Gòn đất thiêng khí tụ, anh tiếp tục rong ruổi qua nhiều vùng miền, lần ngược về lịch sử, đối thoại sòng phẳng với quá khứ trong tâm thế người lữ hành tìm về cội nguồn để viết nên tập ký Theo dấu bụi vàng tích Việt (Nxb Hội Nhà văn, 2025).  

Dọc theo bản đồ đất nước

Theo dấu bụi vàng tích Việt gần 500 trang, được chia làm năm phần: Linh thiêng Đất Tổ, Hào khí biên cương, Vỗ yên bờ cõi bồi đắp biên thùy, Lưng kiếm túi thơ rừng nghinh biển đón  Kiên trì khẩn hoang mở đất phương Nam. Tác phẩm nặng ký theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng, hàm chứa tri thức, tâm huyết cùng những suy nghiệm của nhà thơ Phan Hoàng. Cấu trúc tập ký được anh sắp xếp như tấm bản đồ Việt Nam khởi từ kinh đô Phong Châu, Đền Hùng (Phú Thọ), men theo các vùng đất hiểm trở đầu sóng ngọn gió như Cao Bằng, Điện Biên, các cột mốc biên giới phía Bắc, tiến về vùng duyên hải và hải đảo như Trà Cổ - Quảng Ninh, Phú Yên, Bình Thuận... rồi dừng chân với dấu ấn các bậc tiền nhân khẩn hoang như Nguyễn Hữu Cảnh, Nguyễn Cư Trinh... Và cảm xúc hành trình xuyên Việt của anh dâng lên thành cao trào ở bài ký cuối về quần đảo Trường Sa.  

Ngay nhan đề bài ký đầu tiên Đất Tổ tiếp năng lượng cho ta biết ứng xử làm người, Phan Hoàng đã nhấn mạnh văn hóa là nền tảng vô giá bồi dưỡng nhân cách và hướng con người tới những điều tốt đẹp. Tư tưởng này chạy xuyên suốt, chi phối toàn bộ bài viết trong Theo dấu bụi vàng tích Việt. Anh đã dành nhiều tâm huyết, huy động tối đa vốn tri thức, trực giác về cội nguồn để nhẫn nại tìm trong lớp bụi thời gian những ánh vàng lấp lánh của tâm hồn Việt. Đứng trước dãy núi, con sông hay mỗi di tích, người đọc thấy mình như được tắm táp trong mạch nguồn dồi dào của văn hóa dân tộc, thấy bóng dáng đất nước hiện lên gần gũi, rạng rỡ, kiêu hùng.  

Trong cả 5 phần ký, Phan Hoàng đều bộc lộ niềm tin vào sự gắn kết giữa đất đai, văn hóa và đạo lý làm người. Những bước chân trải nghiệm, những ghi chép thực địa và những phút giây suy tưởng, luận giải của anh đã bày ra trước mắt chúng ta nhiều góc nhìn về cội nguồn dân tộc. Những chi tiết khảo cổ về di chỉ Làng Cả, ngã ba Trung Hà, sự phân dòng giữa sông Thao và sông Đà được anh dẫn chứng, kể lại cụ thể, xác nhận vị trí địa lý cũng là căn cứ xác đáng, là chìa khóa giải mã các lớp huyền thoại. Đề cập đến chuyện Miếu Lang Liêu bị tháo dỡ đầu thập niên 1960, giọng văn của anh không dừng lại ở nỗi niềm nuối tiếc quá khứ mà mục đích lớn hơn là đặt vấn đề về ý thức trách nhiệm gìn giữ ký ức văn hóa dân tộc. Những địa danh như Cao Bằng, Trà Cổ, Đồng Văn, Điện Biên Phủ có sự giao thoa giữa không gian địa lý và không gian ký ức. Những câu chuyện về các dòng họ ở Đồng Văn hay hành trình Lê Thánh Tông xác lập chủ quyền tại Trà Cổ được anh kể lại thấu đáo, cho chúng ta thấy ý thức bảo vệ biên cương đã hiện diện từ lâu đời. Nét riêng độc đáo của mỗi vùng đất đã cùng nhau làm nên diện mạo Việt Nam giàu có kỳ vĩ với những vỉa tầng văn hóa đã được bồi đắp qua hàng ngàn năm. Theo anh đến những miền đất ấy, chúng ta càng hiểu hơn những giá trị đã nuôi dưỡng tâm hồn mình, biết mình là ai và mình thuộc về đâu.

Phan Hoàng mở rộng tầm nhìn từ biên giới về phía đồng bằng, gửi gắm niềm tin sự vẹn toàn lãnh thổ luôn gắn với sự gìn giữ di sản tinh thần. Đi qua Tràng An, Hoa Lư, Phượng Hoàng Trung Đô đến Phố Hiến và Dương Kinh, anh phân tích mối quan hệ giữa di tích và lễ hội làm bằng chứng cho tính liên tục của mạch nguồn văn hóa dân tộc. Rồi anh tiếp tục đưa người đọc đến miền Trung, dải đất gắn liền với chí lớn và những vần thơ, giữa chiến công hiển hách và khát vọng thanh cao. Những nhân vật như Đào Duy Từ, Huyền Trân công chúa hay Hàn Mặc Tử được anh diễn giải, hiện lên như những biểu tượng văn hóa, thể hiện khí chất riêng của vùng đất đầy nắng gió bão tố.

Đến phần cuốiPhan Hoàng đề cập đến những vấn đề thời sự trong công cuộc phát triển đất nước hiện nay. Anh quan sát Đắk Nông dưới góc độ địa chất và sinh thái, xem công viên địa chất toàn cầu, hệ thống hang động bazan và văn hóa Mơ Nông như những minh chứng về mối liên hệ mật thiết giữa con người và tự nhiên. Lữ trình Nam tiến được tái hiện qua dấu ấn của các bậc tiền nhân và anh hùng dân tộc như N’Trang Lơng, Trần Thượng Xuyên, Nguyễn Cư Trinh, Trương Định, Thủ Khoa Huân,... Đặc biệt, thanh âm chuông chùa Trường Sa được anh chọn ở vị trí cuối cùng của tập ký là một dụng ý nghệ thuật. Tiếng chuông vượt lên vai trò bằng chứng văn hóa trở thành biểu tượng kết nối linh thiêng giữa lịch sử dựng nước của cha ông và trách nhiệm bảo vệ chủ quyền biển đảo của thế hệ hôm nay.

Theo bước chân Phan Hoàng dọc dải đất hình chữ S, ta như được đối diện với từng lớp ký ức của cha ông. Mỗi địa danh, mỗi câu chuyện dẫu mang vẻ trang nghiêm, thâm trầm của lịch sử, nhưng dưới ngòi bút của anh tất cả đều hiện lên thật thân thuộc, dấy lên trong ta lòng trân quý đối với những giá trị đã bồi đắp nên tâm hồn và cốt cách của người Việt. 

Lần giở lớp bụi thời gian

Trong Theo dấu bụi vàng tích Việt, Phan Hoàng vận dụng vốn tri thức văn hóa tích lũy qua những chuyến đi để nhận diện và lý giải các giá trị truyền thống từ góc nhìn đa chiều, khách quan. Kinh nghiệm của một người đi nhiều, biết rộng mang lại cho anh sự tinh tường khi vén mở màn sương quá khứ, giải mã các huyền thoại theo hướng thuyết phục và giàu tính nhân văn. Anh cẩn trọng lần giở lớp bụi thời gian, tìm kiếm những tầng nghĩa đạo lý ẩn sau mỗi tích xưa. Truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ hay Lang Liêu qua ngòi bút anh là những hình tượng nghệ thuật giàu tính giáo dục về lòng hiếu nghĩa. Yếu tố thiêng lúc này đóng vai trò lực đẩy tinh thần, cố kết cộng đồng và nuôi dưỡng khát vọng sống thiện. Trong mạch cảm xúc đó, tín ngưỡng Hùng Vương, lễ hội Hai Bà Trưng hay tiếng cồng Tây Nguyên đều hiện lên như những không gian thiêng liêng lưu giữ trọn vẹn ký ức dân tộc.

Sức nặng của tập ký còn nằm ở phương pháp khảo sát thực địa và nỗ lực đối chiếu sử liệu miệt mài của Phan Hoàng. Anh nhẫn nại truy tìm từng dấu tích còn hiện hữu trong đời sống để khẳng quyết việc am hiểu tường tận địa chí là tiền đề cần thiết giao cảm với linh hồn văn hóa dân tộc. Phân định sự khác biệt giữa ngã ba Hạc và ngã ba Trung Hà hay ngược dòng thời gian tìm về cội nguồn tên gọi sông Thao, anh khéo léo vận dụng kiến thức địa lý để soi sáng huyền thoại, trả lại vẻ đẹp nguyên bản cho di sản trước những cách hiểu chưa thấu đáo. Cách làm ấy cho thấy một tâm thế nghiên cứu nghiêm cẩn cùng nỗi lòng đau đáu muốn bảo tồn ký ức bằng tri thức khoa học.

Phan Hoàng luôn dựa vào những bằng chứng xác thực để tiếp cận và kiến giải văn hóa. Anh khảo sát di tích với sự cẩn trọng, tỉ mỉ lần theo nguồn gốc, đối chiếu niên đại và tham chiếu các tư liệu được công bố trong hồ sơ UNESCO. Tuy vậy, bên dưới lớp tư liệu khô khan, bất động, người đọc vẫn nhận ra giọng văn giàu rung cảm, đầy ắp suy tư. Những trang viết về Tràng An, Phượng Hoàng Trung Đô hay Đắk Nông vì thế vừa mang dáng dấp của những khảo cứu địa văn hóa, vừa ngân lên tiếng lòng của một người lữ hành say mê cái đẹp. Thơ ca, ca dao và truyền thuyết cũng được anh đưa vào tự nhiên, gợi nhiều tầng liên tưởng, làm mềm hóa chất liệu tư liệu và giúp lập luận trở nên uyển chuyển hơn, dẫn dắt người đọc bước vào hành trình khám phá những ý nghĩa còn giấu trong lòng huyền thoại.

Giá trị nhân văn có thể xem là dòng chảy xuyên suốt tập ký của Phan Hoàng. Đề cập đến sự phai nhạt của ký ức, sự thương mại hóa di tích hay những biểu hiện xói mòn đạo lý trong đời sống hiện đại, giọng văn của anh trầm lắng như muốn nhắn nhủ nhẹ nhàng nhưng thấm thía với chúng ta về trách nhiệm đối với lịch sử và văn hóa. Anh nhấn mạnh phẩm giá con người và ý thức gìn giữ bảo tồn di sản luôn là những giá trị vững bền, cần được phát huy nuôi dưỡng trong mọi thời đại.

Ở hai phần Hào khí biên cương và Vỗ yên bờ cõi bồi đắp biên thùy, anh thường vận dụng lối viết đa thanh, đặt nhiều giọng nói tồn tại song song, có tiếng nói sử liệu, tiếng nói dân gian và tiếng nói cá nhân. Mỗi bài ký của anh do đó như một không gian mở, lôi cuốn người đọc cùng anh ngược dòng thời gian nhập cuộc, tiếp cận và ngẫm lại về những ký ức đã qua.

Phan Hoàng lần giở lớp bụi thời gian nhưng anh không né tránh những điều gây đau xót đang hiện hữu trước mắt chúng ta. Sự việc ngôi miếu cổ bị phá dỡ lấy gạch ngói xây nhà kho hay những di tích vang bóng một thời nay chỉ còn là phế tích giữa cỏ dại lau sậy được anh viết với giọng văn tự tình thủ thỉ trầm buồn. Anh cảnh tỉnh chúng ta đừng vì nhận thức hạn hẹp nhất thời mà làm tổn thương cội nguồn, bởi giữ trọn lòng tri ân và sự tử tế với tiền nhân mới là điều quý giá hơn cả.

Dấu chân người lữ hành

Dấu ấn Phan Hoàng nằm ở sự song đôi giữa nhãn quan báo chí thực tế và tâm hồn thi sĩ nhạy cảm, do vậy, mỗi trang viết của anh luôn giữ được thế cân bằng giữa độ tin cậy tư liệu với chiều sâu cảm xúc. Viết về Đắk Nông, từ việc thống kê 65 điểm di sản, dẫn giải hồ sơ UNESCO về hệ thống hang động núi lửa đến việc tìm hiểu nguồn cội BuNoong, nghĩa là “chung một lồng”, chung tổ tiên, anh làm rõ bề dày văn hóa ẩn sau những tọa độ địa lý mà ta cứ ngỡ đó chỉ là các số liệu khô cứng. Đối diện phế tích miếu Lang Liêu ở đất Tổ Phong Châu, anh nói về vị tổ nghề nông cùng sự tích bánh chưng bánh giầy để tha thiết hồi sinh không gian văn hóa đang dần bị mai một. Lần theo dấu tích Lê Thánh Tông nơi biên ải Trà Cổ, trang viết của anh làm bừng sáng tâm thế giữ đất đầy bản lĩnh và tầm nhìn xa trông rộng của các bậc tiền nhân. Anh lắng nghe mạch ngầm lịch sử vang vọng trong tiếng gió đại ngàn, tiếng sóng khơi xa, tiếng chuông ngân,… rồi khảm vào trang viết điệp khúc “tôi như nghe” nhiều lần trong tập ký: “tôi như nghe thấp thoáng đâu đây hình ảnh, bước chân của tổ tiên hiện về cùng con cháu dòng giống Lạc Hồng” [tr.19]; “tôi như nghe âm vang đâu đây tiếng vọng của người xưa…” [tr.84]; “tôi như nghe bước chân người xưa vọng về trong tiếng chuông ngân” [tr.305]; “tôi như nghe đâu đây âm vang bước chân những nghĩa sĩ năm xưa…” [tr.425]… Đó là sự lặp lại có chủ đích cho thấy trạng thái nhập thân quyết liệt của anh trong hành trình tìm hiểu giải mã văn hóa dân tộc, và ta thấy anh như thể đang đứng bên trong di sản, đang thực hiện những cuộc đối thoại tâm linh.

Phan Hoàng viết Theo dấu bụi vàng tích Việt với tâm thế ham muốn khám phá và hiểu biết cặn kẽ về nguồn cội. Mỗi vùng đất trong tập ký đều hiện ra với vẻ đẹp và sức sống riêng. Anh giữ sự mực thước, trang trọng khi đối diện với di tích nhưng cũng rất quyết liệt trong việc biểu đạt những nghiền ngẫm và quan điểm riêng trước lịch sử: “Thắp hương tưởng nhớ tiền nhân, tôi đứng giữa đỉnh núi Dũng Quyết nhìn gió lộng mây bay mà ngẫm tiếc cho số mệnh Hoàng đế Quang Trung, tiếc cho Phượng Hoàng Trung Đô xứ Nghệ, mà cũng tiếc cho số phận dân tộc. Lịch sử không thể quay lại, nhưng nếu như Hoàng đế Quang Trung sống thêm vài mươi năm nữa thì chắc chắn nhiều điều kỳ diệu đặc biệt sẽ diễn ra” [tr.149]. Đến với các cột mốc biên cương, ngòi bút anh chuyển sang tông giọng đầy khí phách, mượn lời tiền nhân khẳng định chủ quyền dân tộc và nhắc nhớ chúng ta về trách nhiệm giữ gìn từng tấc đất của cha ông: “Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại nên vứt bỏ? Ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần. Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứ sang phương Bắc trình bày rõ điều ngay lẽ gian. Nếu ngươi dám đem một thước núi, một tấc đất của Thái tổ làm mồi cho giặc, thì tội phải tru di!” [tr.82]. Sức thuyết phục của tập ký còn nằm ở những đoạn tự sự, khi anh dừng lại ngẫm nghĩ về chuyện đời, chuyện người: “Có chiến thắng oai hùng kinh thiên động địa/ Có thất bại bi thương quỷ khốc thần sầu/ Việt Nam ơi, lịch sử sinh tồn sao lắm bể dâu?” [tr.15]. Lấy ra một số ví dụ này để thấy sự đa dạng về giọng điệu của anh trong viết ký, giúp anh giữ mạch viết cân bằng, không sa vào kể lể hay cảm xúc một chiều, văn bản vẫn hấp dẫn đủ giúp người đọc “hiểu hơn đường bay đất nước hôm qua hôm nay và mai sau” [tr.9].

Phan Hoàng luôn ý thức rõ trách nhiệm của người viết ký trước sự thật, nên mọi hoạt động đi, quan sát, phỏng vấn và ghi chép đều được anh thực hiện cẩn trọng. Chúng ta có thể coi tác phẩm của anh như những ghi nhận văn hóa lịch sử đáng tin cậy. Anh sử dụng các nguồn tư liệu học thuật (như báo cáo khoa học, hồ sơ UNESCO) và lồng ghép những góc nhìn từ bên ngoài (chẳng hạn dẫn lời Tổng thống Mỹ Donald Trump về Hai Bà Trưng) làm cho các bài ký của mình thêm đáng tin cậy và có sức nặng.

Và một điểm dễ nhận thấy là tinh thần đối thoại luôn thường trực trong ký của anh. Trên đỉnh Dũng Quyết, anh thắp nén tâm nhang đối thoại với tiền nhân, tỏ bày nỗi niềm tiếc nuối về vận mệnh dở dang của Hoàng đế Quang Trung cùng những giả thiết cho lịch sử dân tộc. Bước chân đến dòng Nậm Rốm, mạch đối thoại được anh chuyển thành những câu hỏi xoáy vào quá khứ: “Sao người bảo rằng sông sâu?/ Có phải lòng sông vẫn lưu giữ một thời bi hùng trận mạc” [tr.118]. Ký ức trong văn anh dường như luôn được đánh thức, khi lắng sâu trong không gian, khi hiện lên rõ mồn một trong tâm khảm mỗi người. Ngòi bút anh đã thẳng thắn bóc tách những nghịch lý hiện thời như sự phai nhạt cội nguồn, sự lung lay đạo lý hay tình trạng di sản văn hóa bị thương mại hóa… Giọng văn trầm lắng như lời thủ thỉ mang theo nỗi day dứt khôn nguôi trước những biến đổi đang tác động không ít đến bản sắc văn hóa dân tộc.

Hành trình của Phan Hoàng minh chứng rằng viết ký cũng như các thể loại khác đều cần sự tự nguyện đày ải trên cánh đồng chữ nghĩa. Anh không lặp lại chính mình trong các tập ký trước mà đã đẩy ngòi bút vào những thử thách khác, đào sâu vào lòng sử liệu để tìm kiếm cái mới. Trang văn của anh luôn nén chặt khát vọng tìm tòi, thể hiện thái độ tôn trọng sự thật và khát khao gắn bó cùng cội nguồn.

Phan Hoàng thổ lộ trong bài ký của mình: “Tôi nghĩ rằng bất cứ người Việt nào cũng mơ ước một lần trong đời được sống trong không gian văn hóa cội nguồn linh thiêng” [tr.16]. Có lẽ suy nghĩ này đã chi phối cách anh đi và viết luôn hướng về nguồn cội. Phía sau nụ cười hóm hỉnh trong những buổi trà lá cùng anh em, độc giả còn nhận ra bóng dáng người lữ hành mê say, nghiêm cẩn gạt lớp bụi thời gian trò chuyện cùng tiền nhân trong Theo dấu bụi vàng tích Việt. Những dặm dài rong ruổi của anh rốt cuộc cũng tìm về những điều tử tế của cha ông để lại và nhận ra giá trị của chúng trong đời sống hôm nay. 

H.N