Giới thiệu
Tin tứcSự kiện & Đối thoại
Sáng Tác
Nghệ thuật
Lý luận & Phê bìnhNgười & Đất quê hương
MultiMedia
Zalo

Thị hiện: pháp giới thơ như là

MAI NHUNG    04/06/2026    82
Thi tập gồm 23 bài, mỗi bài là một pháp thoại bằng thi ca, được trình bày dưới ba lớp: nguyên tác Hán văn, phiên âm Hán - Việt, và dịch thơ tiếng Việt. Bên cạnh đó, mỗi bài thơ đều được trình bày cùng những bức thư pháp và tranh thủy mặc. Những “tệp đính kèm” này không nhằm minh họa giản đơn, mà nhằm nới giãn chiều kích cảm thụ, đồng thời hiển lộ tinh thần thiền học Phật giáo qua thị giác. Dù dùng tranh và thư pháp, thi tập không rơi vào phô phang kĩ thuật. Trái lại, tất cả đều được đặt trong một thế an tĩnh biện chứng: an trong ngôn từ, an trong bút lực, an trong tánh không.

Thị hiện: pháp giới thơ như là

(Đọc Thị, tập thơ cổ phong của Nguyễn Thành Hưởng, NXB Hội Nhà văn, 2025)

MAI NHUNG

 

 

 

Nguyễn Thành Hưởng sinh tại Lệ Thủy, Quảng Trị, hiện sống và làm việc tại Hà Nội. Thời gian gần đây, anh xuất bản loạt tác phẩm gây chú ý: Dưới chân núi Tu Di (thơ, NXB Hội Nhà văn, 2025); Thị (thơ cổ phong, NXB Hội Nhà văn, 2025); Cuộc hẹn kì vĩ ở xứ sở không tôi (thơ Hoàng Vũ Thuật qua mĩ học thiền - tịnh) (chuyên luận, NXB Hội Nhà văn, 2026).

Thị là một thi tập đặc biệt, vì sự đầu tư chăm chút về nội dung và hình thức, và quan trọng hơn là vì tinh-thần-nội-tại: tinh thần buông xả, tỉnh thức, vô trụ, đúng như tên “Thị”. Đơn tiết, nhưng đa chiều. Là “nhìn”, là “chỉ”, là “thấy”, là “chứng”, cũng là “thị hiện”, “thị ngộ”, “thị chân như”.

Không phải ngẫu nhiên mà bài thơ Thị được đặt ở vị trí cuối tập thơ:

Diệu tâm vốn đã sẵn thường

Trụ nơi không trụ tỏ tường thênh thang

Khởi tâm vọng biệt hèn sang

Vốn thật vạn pháp rỡ ràng chân nguyên

Thi tập gồm 23 bài, mỗi bài là một pháp thoại bằng thi ca, được trình bày dưới ba lớp: nguyên tác Hán văn, phiên âm Hán - Việt, và dịch thơ tiếng Việt. Bên cạnh đó, mỗi bài thơ đều được trình bày cùng những bức thư pháp và tranh thủy mặc. Những “tệp đính kèm” này không nhằm minh họa giản đơn, mà nhằm nới giãn chiều kích cảm thụ, đồng thời hiển lộ tinh thần thiền học Phật giáo qua thị giác. Dù dùng tranh và thư pháp, thi tập không rơi vào phô phang kĩ thuật. Trái lại, tất cả đều được đặt trong một thế an tĩnh biện chứng: an trong ngôn từ, an trong bút lực, an trong tánh không.

Điều đó thể hiện rõ qua tư tưởng vô thường - vô ngã - tùy duyên - bất nhị xuyên suốt tập thơ. Ngay bài Duyên đã khẳng định một trong những nguyên lí nền tảng của nhà Phật:

Duyên đi làm sao giữ

Duyên đến khó thể hay

Tùy duyên mà quán chiếu

Bậc trí chính là đây

Không nỗ lực nắm giữ, cũng không cần truy tầm nguyên nhân - kết quả, vì mọi khổ đau đều từ chấp thủ. Buông được là thấy, thấy được là buông.

Bài Tầm Phật nan (Tìm Phật khó) đi sâu hơn một tầng nữa:

Phật xưa nào ở non ngàn

Thích Ca Phật tổ niết bàn từ xưa

Đâu Suất Di Lặc đang chờ

Rời Phật tìm vọng mịt mờ Phật đâu

Không phải không tìm thấy Phật, mà vì “tầm” là một dạng vọng. Vọng là tâm khởi, là sai biệt. Trong tinh thần Phật giáo Đại thừa, đặc biệt là Thiền tông, Phật không ở ngoài tâm, chân lí không ở ngoài hiện tiền. Bài thơ này, do đó, không khuyên tìm mà khuyên ngừng. Không bảo hướng thượng mà nhấn vào nội chiếu.

Phẩm chất không phân biệt, một ý niệm then chốt trong kinh Bát-nhã, được diễn giải thi vị trong Sám Bồ Đề (Bài sám giác ngộ):

Sát Phật xin chớ sát sanh

Chẳng đâu là chị là anh là mình

Thảy không tánh tướng nhân sinh

Biết là biết vọng, hóa thành mà thôi

Đây là cái biết đã vượt qua “nhị kiến”, nghĩa là cái biết không khởi phân biệt ta - người, Phật - chúng sinh, chân - vọng. Bài thơ vừa nhẹ như gió thoảng, vừa hàm ẩn tri kiến phá chấp sâu sắc: sát Phật không phải là diệt hình tượng, mà là vượt qua sự bám víu vào chính Phật như một đối tượng chấp thủ.

Những bài thơ như Thiền tảoNhẫnSắc hành… là những minh chứng sinh động cụ thể cho tuệ giác vô trụ - bất sinh - thường chiếu.

Thiền tảo (Thiền sớm) mở ra không gian nội tâm đồng nhất với vũ trụ:

Sao lặn vào ta trăng trong ta

Thinh không ôm ấp cả thiên hà

Vũ trụ thật trong ánh sáng trong

Thênh thang chiếu rạng tâm Di Đà

Không còn chủ thể - khách thể. Không còn “ta” đang nhìn bầu trời, mà “ta” là một phần của ánh sáng, của trăng sao, của pháp thân.

Bài Nhẫn lại đưa người đọc vào trung tâm của giáo lí đại hùng - đại lực - đại từ bi:

Đao kề tâm, tâm không vương bận

Nghiệp báo đến rồi ta trả đi

Đao áp tâm, tâm không oán hận

Rỗng rang tâm nhuận ánh từ quang

Đao xuyên tâm, tâm không run sợ

Tâm không: đao hại được bao giờ

Vĩ đại thay nhẫn của bậc trí

Đại hùng đại lực đại từ bi

Ở đây, nhẫn không còn là nhịn. Nhẫn là định, là xả, là thấy qua mọi thương tổn. Người biết nhẫn là người đã vượt khỏi pháp đối đãi của khổ - vui, được - mất.

Tuy nhiên, Thị không phải chỉ là một bộ thiền thi tập khô khan, phi hiện thực. Một số bài như Bán khẩu tiếuTiểu tâmViêm xoang nan thụyNan đề… mang yếu tố trào tiếu - hiện sinh, thể hiện tinh thần Phật học nhập thế.

Tinh thần đó có mặt trong nụ cười “hi hi”:

Nào hay thiên tử xuống trần

Cửa quan cầu cạnh kết thân bao người

Vợ rằng tri kỉ mấy ai

Lãng tai mắt kém miệng cười hi hi

(Bán khẩu tiếu/ Cười nửa miệng)

Có mặt trong một động thái đánh thức mà không làm người ta giật mình:

Nhân sinh thất thập nào hết dại

Bạc đầu đâu ngờ lại sự sanh

Coi chừng mấy chữ sắc thanh

Mua danh ba vạn bán danh ba đồng

(Tiểu tâm/ Coi chừng)

Và có mặt trong cả hơi thở tắc nghẽn của một người bị viêm xoang đang lo chuyện công vụ:

Nhắm mắt mong ngủ, ngủ chẳng xong

Há miệng để thở, thở không thông

Việc công ngổn ngang lòng chỉ muốn

Đêm tàn trời rạng ánh hừng đông

(Viêm xoang nan thụy/ Viêm xoang không ngủ được)

Đó là Phật giáo đi vào đời sống, như hơi thở chánh niệm giữa những bộn bề thường nhật. Ở đây, người viết không nhị phân đời và đạo, mà nhất thể hóa, để cả hai lẫn tan vào nhau không vết gợn.

Tập thơ cũng có những bài mang cảm thức lịch sử, không nương chuồi theo quán tính “hào hùng”, mà đầy tuệ cảm về vô thường - biến dịch - vô ngã.

Mộng hải hồ là một ví dụ:

Không mong mà tự nhiên thành

Ngàn thu kim cổ cũng đành chiêm bao

Anh hùng được - mất tro tàn

Ngàn thu mộng tưởng rồi tan thôi mà

Danh vọng, sự nghiệp, chiến công…, tất cả cũng chỉ là “hải hồ” chiêm mộng. Tư tưởng này đậm đặc trong kinh Kim Cang: “Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng”.

Thị là một tập thơ để đọc, đồng thời là một pháp thân thơ để hành. Không phải để tìm sự “hay”, “độc”, “lạ”, mà để được ở lại. Ở lại với một dòng chảy ngôn từ tịch nhiên, không tạp niệm, không biện biệt.

Nhất thi, nhất họa, nhất thư pháp. Mỗi thi phẩm là một chỉnh thể nghệ thuật, dĩ nhiên không tách rời nhau, như sắc - thọ - tưởng - hành - thức là ngũ uẩn bất li. Tất cả cùng nhau kiến dệt nên một pháp giới đầy ánh sáng, đầy an lạc, đầy tính “thị hiện”.

Người viết đã không viết bằng tâm phô bày. Người đọc, vì vậy, cũng không nên đọc bằng tâm mong cầu. Chỉ đọc như một cách “thấy”. Một khi tâm “trụ nơi không trụ”, mọi câu chữ đều là thị hiện. 

 M.N