Tuy nhiên, lịch sử văn học luôn có những giai đoạn tự điều chỉnh. Việc phục hồi các giải thưởng từ năm 2021 và đặc biệt là Cuộc vận động sáng tác văn học về đề tài thiếu nhi (2021 - 2025) do Hội Nhà văn Việt Nam phối hợp với Nhà xuất bản Kim Đồng tổ chức đã cho thấy những chuyển biến tích cực trong nhận thức và định hướng phát triển. Văn học thiếu nhi không dừng lại ở sân chơi dành cho trẻ em, nó còn là một “chiến lược lớn”, như cách nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đã nhận định. Đầu tư cho văn học thiếu nhi chính là đầu tư, bồi đắp, kiến tạo tương lai đất nước. Thơ thiếu nhi Việt Nam, vì vậy, cũng xác lập những đặc điểm và quy luật vận động riêng.
Có thể nói, văn học thiếu nhi chưa thực sự được
quan tâm đúng mức, thậm chí có lúc bị xem như vùng ngoại biên của đời sống văn
học. Sự thiếu vắng các công trình nghiên cứu, phê bình chuyên sâu càng cho thấy
những khoảng trống về mặt lý luận. Từ những năm 1980 đến nay, số lượng công
trình nghiên cứu về văn học thiếu nhi, đặc biệt là thơ, vẫn còn rất hạn chế so
với mặt bằng chung.
Tuy nhiên, lịch sử văn học luôn có những giai đoạn tự điều
chỉnh. Việc phục hồi các giải thưởng từ năm 2021 và đặc biệt là Cuộc vận động
sáng tác văn học về đề tài thiếu nhi (2021 - 2025) do Hội Nhà văn Việt Nam phối
hợp với Nhà xuất bản Kim Đồng tổ chức đã cho thấy những chuyển biến tích cực
trong nhận thức và định hướng phát triển. Văn học thiếu nhi không dừng lại ở
sân chơi dành cho trẻ em, nó còn là một “chiến lược lớn”, như cách nhà thơ
Nguyễn Quang Thiều đã nhận định. Đầu tư cho văn học thiếu nhi chính là đầu tư,
bồi đắp, kiến tạo tương lai đất nước. Thơ thiếu nhi Việt Nam, vì vậy, cũng xác
lập những đặc điểm và quy luật vận động riêng.
1.
Khái lược tiến trình thơ thiếu nhi Việt Nam
Trước năm 1945, thơ thiếu nhi xuất hiện ở một
vài tác giả, chưa để lại thành tựu. Đó là Tản Đà với một số bài như “Lên sáu”
(1919), “Lên tám” (1920); Nguyễn Văn Ngọc với tập Nhi đồng lạc viên (1929); Bác Hồ với một số bài như “Kêu gọi thiếu
nhi” (1941), “Trẻ chăn trâu” (1942); Nguyễn Văn Vĩnh với một số bản dịch thơ
ngụ ngôn của La Fontaine...
Từ 1945 đến 1975 là giai đoạn thơ thiếu nhi
chính thức phát triển toàn diện và có nhiều khởi sắc. Dấu ấn quan trọng là ngày
1/6/1954, báo Thiếu niên Tiền phong ra số đầu tiên vào năm 1957, Nhà xuất bản
mang tên người anh hùng Kim Đồng dành cho thiếu nhi Việt Nam được thành lập.
Những sự kiện này là cú hích để thơ thiếu nhi trở thành sân chơi, điểm đến của
nhiều thi sĩ, viết cho/về các em. Chúng ta có Võ Quảng với tập Gà mái hoa (1957), Thấy cái hoa nở (1962), Anh đom đóm (1970), Măng tre (1971); Nguyễn Xuân Sanh với Chiếc bong bóng hồng (1957); Phạm Hổ với tập Em thích em yêu (1958), Những người bạn nhỏ (1961); Thy Ngọc với Tiếng hát chim non (1962), Tên lửa bút chì (1972); Vũ Ngọc Bình với Mười nàng tiên (1962); Tú Mỡ với Ông và cháu (1970), Tế Hanh với Chuyện em bé cười ra đồng tiền (1960), Thơ viết cho con (1974), Trần Thanh Địch với Đôi tai mèo (1975), Định Hải với Chồng nụ chồng hoa (1970), Hươu cao cổ (1975),... Và nhiều tác giả khác như Huy
Cận, Bảo Định Giang, Xuân Quỳnh, Nhược Thủy, Thanh Tịnh, Thiên Ngọc, Trần
Nguyên Đào, Nguyễn Thanh Toàn, Nguyễn Viết Bình, Nguyễn Lê, Minh Chính...
Giai đoạn chống Mỹ cứu nước, ngoài thơ của người
lớn viết về trẻ em, còn có thơ của các em viết về chính cuộc sống, lứa tuổi của
các em như Trần Đăng Khoa với Góc sân và khoảng trời (1968), Hoàng Hiếu Nhân với nhiều bài thơ
như “Mặt trời”, “Quả địa cầu”, “Biển” (sau này được Nxb Kim Đồng tập hợp in
trong tập Quả
địa cầu năm
2016), Nguyễn Hồng Kiên, Chu Hồng Quý, Cẩm Thơ, Khánh Chi,... đưa đến những góc
nhìn sống động, chân thực, tinh nguyên.
Từ 1975 đến nay, hòa trong sự vận động và phát
triển của văn học thiếu nhi, thơ thiếu nhi vẫn không ngừng chuyển biến, đổi
mới, đa dạng, phong phú về mặt nội dung lẫn nghệ thuật. Những tượng đài thơ
thiếu nhi tiếp tục tỏa sáng: Phạm Hổ với Đỗ đen đỗ trắng (1991), Võ Quảng với Quả đỏ (1980), Định Hải với Nhành hoa trong vườn sớm (1979),... Đặc trưng giai đoạn này là ngôn
ngữ thuần khiết, giàu nhạc điệu đồng dao, gắn liền với đời sống hồn nhiên. Bên
cạnh những cây bút quen thuộc này, chúng ta còn có một lực lượng sáng tác đông
đảo như Trần Mạnh Hảo, Đoàn Thị Lam Luyến, Vũ Quần Phương, Nguyễn Quang Thiều,
Cao Xuân Sơn, Nguyễn Ngọc Phú, Hoàng Vũ Thuật, Lê Hồng Thiện, Nguyễn Hoàng Sơn,
Phạm Đình Ân, Hoài Khánh, Lê Minh Quốc, Nguyễn Lãm Thắng, Nguyễn Thụy Anh,
Nguyễn Thế Hoàng Linh, Hồ Huy Sơn, Lữ Mai, Huỳnh Mai Liên...
Thập niên 90, những cây bút quen thuộc như
Nguyễn Hoàng Sơn (Dắt
mùa thu vào phố), Trần
Mạnh Hảo (Mèo
đi guốc),
Đoàn Thị Lam Luyến (Cánh
cửa nhớ bà),
Dương Thuấn (Cưỡi
ngựa đi săn),
Hoài Khánh (Dắt
biển lên trời),
Nguyễn Lãm Thắng (Giấc
mơ buổi sáng)...
tiếp tục phát huy nội lực sáng tạo dồi dào, dấu ấn cá nhân vốn đã trở thành
thương hiệu trong lòng bạn đọc thiếu nhi. Đồng thời, đây cũng là thời kỳ chứng
kiến sự tiếp nối của các cây bút trẻ, những người bắt đầu tạo luồng sinh khí
mới và làm đa dạng hóa diện mạo thơ thiếu nhi như Đặng Chân Nhân với Hình dung (2008), Giấc mơ (2011), Ngô Gia Thiên An với Những ngôi sao lấp lánh (2013), Đỗ Nhật Nam với Đường xa con hát (2015),...
Trong khoảng mười lăm năm trở lại đây (2010 - 2025), đời sống
sáng tác cho thiếu nhi ở Việt Nam đã có những chuyển động. Một dấu mốc quan
trọng là sự ra đời của Giải thưởng Thiếu nhi Dế Mèn vào năm 2020 do báo Thể
thao và Văn hóa (Thông tấn xã Việt Nam) tổ chức, hướng tới tôn vinh các sáng
tạo nghệ thuật dành cho thiếu nhi. Tiếp đó, ngày 30/5/2023, Nhà xuất bản Kim
Đồng công bố thành lập Giải thưởng Văn học Kim Đồng (giai đoạn 2023 - 2025),
tập trung riêng vào lĩnh vực văn học. Tuy chưa thể nói là một “sự bùng nổ” về
hệ thống giải thưởng, nhưng rõ ràng đã hình thành những không gian khích lệ
sáng tác mới, trong đó thơ thiếu nhi cũng dần có vị trí trở lại.
Sự vận động ấy còn được thể hiện qua việc mở
rộng biên độ đề tài. Thơ thiếu nhi hôm nay đã hướng đến những vấn đề rộng hơn
như khoa học, vũ trụ, môi trường và cả những suy tư nội tâm tinh tế. Lã Thanh
Hà với Vương
quốc nhỏ bí mật được
trao Giải Khát vọng Dế Mèn 2024. Một số gương mặt trẻ thuộc thế hệ Gen Z bắt
đầu xuất hiện với những thử nghiệm đáng chú ý, chẳng hạn, Lý Thăng Long (sinh
năm 2000) với bản thảo Có một Trái Đất phẳng trong mắt em đã nhận Giải Khát vọng Dế Mèn 2025.
Cuộc vận động sáng tác văn học về đề tài thiếu
nhi (2021 - 2023) do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức tiếp tục củng cố lực lượng
sáng tác. Kết quả đợt 1 công bố cuối năm 2023 đã vinh danh nhiều tác giả, trong
đó có 7 tác giả thơ: Dắt mẹ đi chơi (Đố mẹ, Dế mèn học chữ) của Mai Quyên; Sông vừa đi vừa lớn của Nguyễn Minh Khiêm; Cái bếp kể chuyện của Đinh Công Thủy; Ở đây & Bây giờ của Đặng Huy Giang; Chúc ngủ ngon của Nguyễn Phong Việt; Mặt trời khỏi ốm của Đặng Toán; Áo đất, áo trời của Phạm Quỳnh Như. Cuộc vận động đợt 1 cho thấy
thơ thiếu nhi đang dần tìm lại vị thế và là bước chuẩn bị cần thiết tạo đà để
văn học thiếu nhi nói chung, thơ thiếu nhi nói riêng bước vào đợt 2 với kỳ vọng
đột phá cả về nội dung lẫn hình thức.
Ngoài các ấn bản đơn lẻ, nhiều tác phẩm còn được
tái bản dưới dạng tuyển chọn hoặc nằm trong các bộ sách văn học thiếu nhi, gồm
có các sáng tác của Định Hải, Nguyễn Hoàng Sơn, Xuân Quỳnh, Trần Đăng Khoa,
Khánh Chi, Phan Thị Thanh Nhàn,… do Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành. Việc biên
soạn, minh họa và thiết kế lại đã làm mới diện mạo di sản thơ thiếu nhi, phù
hợp hơn với độc giả đương đại. Góc sân và khoảng trời là trường hợp tiêu biểu. Tập thơ xuất bản
lần đầu năm 1968 và liên tục được in lại qua nhiều thập niên, trở thành một
trong những tác phẩm thơ thiếu nhi có số lần tái bản nhiều nhất ở Việt Nam. Nhờ
hoạt động này, các tác giả thuộc thế hệ trước vẫn duy trì ảnh hưởng rộng rãi
đối với độc giả nhỏ tuổi và tiếp tục hiện diện trong môi trường giáo dục.
2.
Những thách thức và hy vọng trong kỷ nguyên AI
Thơ thiếu nhi là một bộ phận quan trọng trong
đời sống văn học, mang những đặc trưng riêng biệt cả về nội dung lẫn hình thức
nghệ thuật. Đặc điểm nổi bật nhất là tính hồn nhiên, trong trẻo và sự bình đẳng
tuyệt đối giữa con người với vạn vật. Trong thơ, con mèo, con kiến, cánh hoa,
giọt nắng hay chiếc đồng hồ đều được nhân cách hóa, tham gia vào thế giới giao
cảm với con người. Sự bình đẳng này tạo nên không gian nghệ thuật giàu chất
thơ, cái phi lý trở nên hợp lý, ở đó thiên nhiên, con người và đồ vật hòa quyện
trong một chỉnh thể sống động. Nguyễn Hoàng Sơn liên tưởng con vện “cười bằng... đuôi” (Con vện), Hoàng Tá kích thích sự tò mò, khám
phá bằng hình ảnh “Cái
sân chơi của chúng mình biết đi” (Cái sân chơi biết đi), Dương Thuấn khêu gợi trí
tưởng tượng qua thi ảnh nên thơ “Chú ếch ăn trăng”, Đỗ Trung Quân sử dụng lối trò chuyện tâm tình
bật lên cái nhìn mới mẻ, khó giải thích “Trăng non hay già?” (Vầng trăng cổ tích), Nguyễn Ngọc Phú giúp
các em có nhiều liên tưởng thú vị qua cái nhìn so sánh “Biển là tờ giấy thấm/ Ngấm từ đêm sang ngày/
Mặt trời là cục tẩy/ Xóa tan bao màu mây” (Biển và mặt trời)… Những cảm hứng ngẫu
nhiên, đột phá, phi logic mà các tác giả nhập vai, hóa thân đã phá vỡ mọi trật
tự logic thông thường, tạo đà cho những xúc cảm mơ mộng, ngộ nghĩnh của các em
vươn xa.
Tuy nhiên, trong kỷ nguyên số, thơ thiếu nhi đang đối mặt với
không ít thách thức, đó là sự “bành trướng” của trí tuệ nhân tạo (AI). Với khả
năng thống kê và xử lý ngôn ngữ khổng lồ, AI có thể sản xuất hàng loạt bài thơ
đúng chất hồn nhiên, đúng nhạc điệu, đúng chất đồng dao. Song, đằng sau sự tròn
trịa mà nó xuất ra cho chúng ta là sự na ná, vô hồn với những câu từ lặp lại
máy móc sáo rỗng.
Làm thơ thiếu nhi đòi hỏi người lớn phải cạo xóa
tối đa bóng dáng và sự áp đặt của người lớn, thực hiện một cuộc “nhập vai tự
nhiên” để kiến giải thế giới theo cách nhìn của trẻ. AI có thể bắt chước cách
viết nhưng không dễ thể nhập vai khéo léo, không dễ tiếp cận được cách nhìn,
cách nghĩ vô tư, trong sáng, hóm hỉnh của trẻ trước các sự vật, hiện tượng. Hãy
nhìn cách Trần Đăng Khoa hình dung về một cơn mưa trong bài Mưa: “Ông trời/ Mặc áo giáp đen/ Ra trận/ Muôn nghìn
cây mía/ Múa gươm/ Kiến/ Hành quân/ Đầy đường”. Lối liên tưởng này tưởng như phi lý nhưng lại
hoàn toàn hợp lý với lăng kính trẻ thơ. Khi mây đen, sấm chớp và hình ảnh cây
mía đung đưa trong gió được cảm nhận như một trận chiến của thiên nhiên, đó là
kết quả của một trí tưởng tượng không biên giới mà AI khó tạo ra và để lại dấu
ấn được. Hay AI có thể dùng từ “tóc bạc” như một đặc điểm nhưng nó không bao
giờ hiểu được sự thiêng liêng của tình thân như cách Trần Mạnh Hảo viết trong
bài Bà: “Bà vẫn ngồi như thế/ Tóc bạc cả bình vôi/ Cháu
muốn làm cây gậy/ Để dắt bà đi chơi”. Nhà thơ đã nắm bắt và chuyển tải được nỗi
niềm, khát vọng kì diệu mà rất tự nhiên của trẻ. Ước muốn hóa thân đầy ngây ngô
của đứa cháu là một liên tưởng thấm đẫm nhân tính. Đó là khát khao phi lý nhưng
lại vô cùng ấm áp. Tôi nghĩ đây là “điểm mù” của trí tuệ nhân tạo vì nó có thể
tạo ra văn bản nhưng nó không có sự rung động sâu sắc như con người. Hoặc AI có
thể mô tả việc vo gạo, nhưng không thể có được trực cảm thị giác đáng yêu, lý
thú như Nguyễn Lãm Thắng trong bài Gạo tắm: “Bé giúp mẹ vo gạo/ Gạo nhảy múa trong nồi/ Bé
bảo: Gạo đang tắm/ Trắng ngần một làn thôi”.
Lạm dụng công nghệ dễ làm cho người viết tiến đến sự cẩu thả,
đông cứng cảm xúc rồi mất dần cảm xúc, trong khi thế giới thơ thiếu nhi phải là
thế giới của sự chân thực và ngẫu hứng, thế giới của sự tưởng tượng, bay bổng,
huyền ảo, thế giới của sự tự do tuyệt đối. Trẻ thường đặt những sự vật hiện
tượng cách xa cạnh nhau để tha hồ tung tẩy, thỏa thích sáng tạo trong bầu trời
lung linh, đầy sắc màu do mình tưởng tượng và vỡ òa khi tìm ra mối liên hệ mới
lạ giữa chúng. Sự phá vỡ trật tự logic khi đón nhận những gì ngoài mình của trẻ
dẫu vô nghĩa nhưng ý nghĩa, phi lý nhưng có lý. Các thi sĩ đã nhạy bén đưa góc
nhìn này vào thơ, phản ánh đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, giúp trẻ phát triển
năng lực tưởng tượng, mê say tìm hiểu, khám phá cuộc sống xung quanh hơn nữa.
Khi đến với thế giới trẻ thơ, mỗi thi sĩ luôn cất giấu cho mình một bí kíp, mê
hoặc, lôi cuốn, dẫn dụ trẻ vui vẻ, hào hứng đi vào khai phá tác phẩm. Mỗi bài
thơ khi đọc lên trẻ như được dự phần vào những trò chơi vui nhộn, trí tuệ, tình
cảm, như được ngắm nhìn những bức tranh đầy màu sắc, hình khối, như được chìm
trong những giai điệu trữ tình, tươi vui, rộn ràng,...
Tuy vậy, trong những thách thức luôn tồn tại
niềm hy vọng. Chúng ta hy vọng vào các cây bút chân chính, dẫu có nhiều công cụ
hỗ trợ nhưng họ vẫn giữ vững lập trường, bản lĩnh, quyết bảo vệ sự trong sáng
của ngôn từ và tính bản thể của cái tôi sáng tạo. Trước sự đa dạng các lập
trình AI, trước những câu chữ tư duy ở cấp độ “an toàn”, phản xạ hồn nhiên của
cô bé Ngô Gia Thiên An trong bài thơ Trong vườn thú như trực tiếp chất vấn người lớn về tình
yêu thương và lòng nhân ái. Yêu thương và nhân ái ở đâu khi sư tử, khỉ, voi,
báo đốm, hươu, ngựa, dế không có tự do, đều bị giam cầm? Con người thích tự do,
không thích trói buộc nhưng chính con người lại trói buộc các loài khác. Cách
quan sát sự vật của Đặng Chân Nhân trong bài Con rối cũng là bài học hữu ích đối với người lớn.
Con rối muôn đời bị giật dây nhưng trong nó luôn băn khoăn, trăn trở và khát
thèm khẳng định nhân vị: “Nhưng nó vẫn chờ đợi/ Nó chờ đến một ngày/ Nó
có thể di chuyển/ Nó có thể thở/ Nó có thể sống/ Như mọi vật sống khác”. Sự tự nhận biết của con rối chính là sự tự
nhận biết của cái tôi bản thể: sống là phải biết làm chủ bản thân, không bị
giật dây bởi người khác. Hay trong bài Nơi em đã đi qua của Lý Thăng Long, một tâm hồn trong trẻo,
một cái nhìn yêu thương của trẻ có thể làm thế giới êm đẹp, dịu dàng và đáng
sống hơn. Con người, thiên nhiên, vạn vật cùng nhau hòa ca: “Ở nơi có dấu chân em/ Từ nay là nơi trái ngọt
thơm nảy mầm/ Trên cành cao/ Những nụ hoa hé mắt/ Sau lùm cỏ/ Những chú dế và
ong tập đánh đàn/ Tiếng đàn tưng bừng mừng đôi chân em thêm một bước”. Đó là nguồn năng lượng sáng tạo bắt nguồn
từ trải nghiệm sống và cảm xúc trực tiếp, điều mà trí tuệ nhân tạo không thể tái
hiện trọn vẹn.
3.
Lời kết
Thơ thiếu nhi Việt Nam dù có lúc thăng lúc trầm nhưng vẫn tiếp
tục khẳng định sức sống mạnh mẽ, tiếp tục nuôi dưỡng tâm hồn con người, biết
yêu cái đẹp, rung cảm trước những bi ai của cuộc sống. Giữa cơn lốc của trí tuệ
nhân tạo, những vần thơ đong đầy trực cảm cá nhân và hơi thở đời sống mãi là
món quà quý giá, là điểm tựa để các em giữ lại thế giới hồn nhiên cùng trí
tưởng tượng không biên giới.
Nếu thiếu trẻ em, thế giới sẽ trở nên đơn điệu. Nếu thiếu thơ
ca, tuổi thơ sẽ thiếu những sắc màu tinh tế. Việc viết, đọc và nuôi dưỡng thơ
thiếu nhi do đó cũng là cách chúng ta bảo vệ những khoảng trời trong trẻo nhất
cho mai sau.
Y.A
