Cụm từ “văn học về kháng chiến chống Mỹ” đưa ra cho chúng ta hai
cách hiểu. Thứ nhất: đó là nền văn học viết trong giai đoạn cuộc kháng chiến chống
Mỹ đang diễn ra (1954 - 1975). Và thứ hai: đó là nền văn học viết về cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của quân đội và nhân dân Việt Nam nói chung,
nghĩa là bao hàm cả “văn học viết về kháng chiến chống Mỹ trong kháng chiến chống
Mỹ” và “văn học viết về kháng chiến chống Mỹ sau kháng chiến chống Mỹ”, mà kể từ
khi đất nước thống nhất đến nay, đã hơn năm mươi năm.
Trong giai đoạn cuộc kháng chiến chống Mỹ đang diễn ra, chúng ta
ghi nhận một lực lượng tác giả hùng hậu, hợp thành từ những nhà văn, nhà thơ
thành danh thời kháng chiến chống Pháp: Tố Hữu, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan
Viên, Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Chính Hữu, Hồ
Phương, Hữu Mai v.v..., và một lứa rất đông các nhà văn, nhà thơ kế tiếp, trưởng
thành trong sự trưởng thành, lớn mạnh của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa: Phan
Tứ, Hữu Thỉnh, Phạm Tiến Duật, Lê Anh Xuân, Thanh Thảo, Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm,
Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Nguyễn Thi, Nguyễn Duy, Dương Hương Ly, Hoàng
Nhuận Cầm, Nguyễn Thụy Kha v.v... Ở lứa các nhà văn, nhà thơ kế tiếp này, xét về
nguồn gốc xuất xứ, hầu hết họ đều là những nghệ sĩ - chiến sĩ: nếu không thuộc
biên chế những tờ báo hoặc tạp chí do quân đội quản lý, như báo Quân đội
nhân dân, tạp chí Văn nghệ quân đội, hay tạp chí Văn nghệ quân giải
phóng (ở khu V), thì cũng là những học sinh, sinh viên tình nguyện có
mặt tại các chiến trường khốc liệt, chiến đấu và sáng tác ngay tại mặt trận.
Như nhiều nhà nghiên cứu văn học sử và phê bình văn học đã chỉ ra, về tổng
quát, đặc điểm lớn nhất của văn học Việt Nam trong giai đoạn kháng chiến chống
Mỹ là tính sử thi đậm đặc, là cảm hứng về cộng đồng dân tộc rộng lớn, là sự căm
thù đế quốc xâm lược, là lòng yêu nước chứa chan và khát vọng chiến đấu, hy
sinh hết mình để giải phóng miền Nam thân yêu, đưa đất nước đến ngày hoàn toàn
thống nhất. Nền văn học giai đoạn này, dù ở các thể loại tự sự hay trữ tình, đều
hướng đến cái chung, cái phổ biến, chứ rất ít có những quan hệ cá nhân hoặc
tình cảm cá nhân riêng tư đơn lẻ và khác biệt. Chính vì thế mà các hình tượng
văn học đều mang tính khái quát hóa rất cao, thậm chí trở thành các biểu tượng
(symbol). Hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại trong nhiều tác phẩm văn và
thơ giai đoạn này, là ví dụ rất tiêu biểu. Hình tượng người chiến sĩ giải phóng
quân hy sinh trên đường băng Tân Sơn Nhất trong thơ của Lê Anh Xuân thì không
chỉ để nói về anh giải phóng quân, mà là nói về “dáng đứng Việt Nam” kiên cường,
bất khuất và trường tồn. Tình yêu của đôi nam nữ thanh niên trong tiểu thuyết “Mẫn
và tôi” của Phan Tứ, và quan hệ cha con người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt
Nam trong tiểu thuyết “Dấu chân người lính” của Nguyễn Minh Châu, chẳng
hạn, thì không chỉ để nói về đôi trai gái yêu nhau hay sự ấm áp của mối quan hệ
cha con trong gia đình, mà cái riêng đã hòa vào cái chung, trở thành sự chung sức,
tiếp bước giữa các thế hệ, cùng nhau nhìn về một hướng giữa các cá nhân: cuộc đấu
tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước. Tương tự, trường ca nổi tiếng
“Bài ca chim Ch’rao” của nhà thơ Thu Bồn kể chuyện tình bạn chiến đấu
keo sơn và tấm gương hy sinh anh dũng của hai cán bộ cách mạng là Hùng (người
Kinh) và Y Rin (người Thượng), nhưng rõ ràng đây không phải chỉ là trường ca về
tình đồng đội, đồng chí giữa hai cá nhân, mà vượt lên, nó là một trường ca về sức
mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, ý chí một lòng theo Đảng, theo cách mạng, và
tinh thần chiến đấu vô cùng bất khuất của đồng bào các tộc Tây Nguyên anh dũng.
Nói chung, nếu xét về giác độ thể loại, “văn học viết về kháng chiến
chống Mỹ trong kháng chiến chống Mỹ” ở ta đã phát triển khá đầy đủ những thể loại
cần thiết để hình thành diện mạo của một nền văn học hiện đại: thơ trữ tình,
trường ca, truyện ngắn, tiểu thuyết. Nhưng vẫn cần phải nói đến một thể loại nữa:
ký văn học, với các biến thể tiểu loại như bút ký hay tùy bút. Do hoàn cảnh chiến
tranh và sáng tác tại chiến trường, ngay lập tức khi sự kiện xảy ra, và hơn nữa,
với tính chất phi hư cấu đặc định (non-fiction), ký văn học trong kháng chiến
chống Mỹ luôn hầm hập hơi thở của thời sự và tình cảm của thời đại. Tác phẩm “Bức
thư Cà Mau” của nhà văn Anh Đức - dưới hình thức bức thư của một nhà văn trẻ
từ chiến trường miền Nam gửi ra cho nhà văn lão thành Nguyễn Tuân ngoài Bắc -
là cồn cào nỗi nhớ Hà Nội, nhớ miền Bắc xã hội chủ nghĩa (dù chưa một lần được
gặp) và niềm trông ngóng ngày đất nước hoàn toàn độc lập, thống nhất. Tác phẩm
ký “Đường chúng tôi đi” mà nhà văn Nguyễn Trung Thành viết từ chiến trường
khu V, in trên Văn nghệ quân giải phóng số đầu tiên, là cả một bừng
bừng hào khí của những người lính trẻ vào trận, với đầy đủ ý thức về trách nhiệm,
nghĩa vụ của mình với Tổ quốc, với nhân dân, với sự nghiệp cách mạng. Tập tùy
bút “Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi” của nhà văn Nguyễn Tuân là một niềm tự hào
to lớn về ý chí chiến đấu và sức mạnh chiến thắng của quân dân Việt Nam trước cỗ
máy chiến tranh tưởng như không có gì địch lại được của đế quốc Hoa Kỳ. Cần phải
nhớ rằng tập tùy bút này của Nguyễn Tuân được Hội Văn nghệ Hà Nội xuất bản ngay
sau khi đợt ném bom B52 cuối cùng của Mỹ chấm dứt (31/12/1972). Và điều này đưa
chúng ta đến suy nghĩ về tác động của những thiết chế văn học - báo, tạp chí,
nhà xuất bản, hội đoàn văn chương, các giải thưởng - đối với sự phát triển của
sáng tác văn học nói chung và sáng tác “văn học về kháng chiến chống Mỹ trong
kháng chiến chống Mỹ”. Những ai quan tâm hẳn còn nhớ: trong bối cảnh bom đạn
chiến tranh vô cùng khốc liệt, Hội Nhà văn Việt Nam, báo Văn nghệ, tạp chí Văn
nghệ quân đội của Tổng cục Chính trị v.v... vẫn duy trì hoạt động bình thường,
vẫn tổ chức các cuộc vận động sáng tác, các cuộc thi, vẫn phát hiện và trao giải
thưởng cho các tác giả, tác phẩm xứng đáng. Ví như ở “mùa thơ trận mạc” năm
1972 - 1973, báo Văn nghệ đã cùng lúc trao giải Nhất cho bốn nhà thơ đang chiến
đấu và sáng tác ở những chiến trường nóng bỏng nhất, những cái tên sau này sẽ
trở thành niềm tự hào của thơ ca Việt Nam thời chống Mỹ: Lâm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn
Đức Mậu, Nguyễn Duy, Hoàng Nhuận Cầm.
Sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất, năm 1975, văn học kháng
chiến chống Mỹ đã chuyển sang giai đoạn “văn học viết về kháng chiến chống Mỹ
sau kháng chiến chống Mỹ”. Có một khoảng thời gian trên dưới mười năm, quán
tính của lối nghĩ, lối viết cũ - lối viết đã làm nên hào quang cho “văn học viết
về kháng chiến chống Mỹ trong kháng chiến chống Mỹ” - lại trở thành sức ỳ với
các tác giả, nhất là các tác giả cựu binh, những người từ chiến tranh đi ra. Đến
mức, chừng như bức bối không thể chịu nổi, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã viết một
tiểu luận rất gay gắt: “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh
họa”, đòi hỏi người sáng tác văn học phải đổi mới cách nghĩ, cách viết, nhất
là viết về cuộc kháng chiến vừa qua. Cái nhu cầu phải đổi mới từ nội tại của những
người cầm bút lại cộng thêm với gió đổi mới, cởi trói tư duy sáng tạo từ Đại hội
Đảng lần thứ VI đã khiến cho văn học Việt Nam thay đổi thật nhanh chóng, mạnh mẽ,
trong đó có văn học viết về kháng chiến chống Mỹ. Đầu tiên phải kể đến làn sóng
trường ca bắt đầu từ giữa những năm 1980: “Đất nước hình tia chớp”
của Trần Mạnh Hảo, “Đường tới thành phố” của Hữu Thỉnh, “Trường ca sư
đoàn” của Nguyễn Đức Mậu, “Sông núi trên vai” của Anh Ngọc v.v... Tiếp
đến là tiểu thuyết: “Vòng tròn bội bạc”, “Ăn mày dĩ vãng” của Chu
Lai, “Đất trắng” của Nguyễn Trọng Oánh, “Trong cơn gió lốc”,
“Không phải trò đùa” của Khuất Quang Thụy, “Chim én bay” của
Nguyễn Trí Huân, “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh, “Tàn đen đốm đỏ”
của Phạm Ngọc Tiến, “Những mảnh đời đen trắng” của Nguyễn Quang Lập
v.v... Ở mảng những tác phẩm trường ca và tiểu thuyết này - chưa kể thơ trữ
tình và truyện ngắn - cuộc kháng chiến vừa qua đã được nhìn nhận theo một cách
đầy đủ và sòng phẳng hơn. Chiến đấu là chính nghĩa và tất yếu, chiến thắng là
vĩ đại và rất đáng tự hào, nhưng cái giá mà dân tộc ta phải trả cho hòa bình và
thống nhất cũng quá lớn. Chiến tranh hủy hoại sinh mạng con người, hủy hoại phẩm
tính người, tàn phá thiên nhiên và môi trường sống, dư chấn mà nó tạo ra kéo
dài rất lâu và cũng rất khó lấp đầy trong đời sống tinh thần của cả đất nước.
Các nhà văn, nhà thơ của chúng ta, ở vị thế của người thời hậu chiến, đã nhìn
thời mà mình đang sống và nhìn về giai đoạn kháng chiến chống Mỹ đã trải qua bằng
cái nhìn như thế. Điều đó đã góp phần làm nên giá trị nhân văn cho tác phẩm của
họ.
Kháng chiến chống Mỹ đã kết thúc được hơn năm mươi năm. Nhưng với
tư cách một giai đoạn lớn trong lịch sử chiến đấu chống xâm lược của dân tộc Việt
Nam, giai đoạn ấy vẫn chưa, và không thể chấm dứt sứ mệnh làm một trong những
ngọn nguồn đề tài cho nhận thức và sáng tạo văn học nghệ thuật. Nền văn học Việt
Nam viết về kháng chiến chống Mỹ của chúng ta - cả trong và sau kháng chiến -
đã ghi nhận khá nhiều thành tựu đáng kể, nhưng chủ yếu đến từ các tác giả cựu
chiến binh, những người đã đi qua chiến tranh và “không sao thoát ra khỏi chiến
tranh”. Giờ đây, sau hơn năm mươi năm đất nước hòa bình thống nhất, chúng ta
đang chờ đón những thành tựu mới, được kiến tạo từ những tác giả thuộc thế hệ mới,
những người chưa từng bao giờ có trải nghiệm thực tế về chiến tranh.
H.N
