Nó gợi về những khu chợ không bảng hiệu, không mái che khang trang, chẳng có những sạp hàng ngay ngắn, chỉ là một khoảng đất trống ven đường hay một góc nhỏ nơi đầu ngõ. Ở đó, người bán kẻ mua ghé lại trong chốc lát, trao đổi vài mớ rau, con cá rồi lại vội vã rời đi, nhẹ tênh như chưa từng có một phiên chợ nào hiện diện. Vậy mà, chính cái thoáng qua tưởng chừng mong manh ấy lại lặng lẽ neo sâu vào ký ức của những người lớn lên từ làng quê như tôi. Mỗi lần nhớ về quê, lòng tôi lại dâng lên một nỗi bồi hồi khó gọi thành tên, khi hình ảnh mẹ tất tả xách giỏ đi chợ xổm đầu ngõ hiện về, dáng lưng quen thuộc khuất dần trong làn sương sớm.
Chợ xổm không giống những khu chợ truyền thống với sạp hàng cố định hay những tiểu thương buôn bán suốt ngày dài. Nó chỉ họp trong một khoảng thời gian rất ngắn, thường là lúc sáng sớm tinh mơ hoặc chiều muộn khi nắng đã dịu. Có những nơi, chợ chỉ tồn tại hơn một tiếng đồng hồ, đủ để người bán bày ra vài món hàng, người mua ghé lại chọn lựa, rồi tất cả nhanh chóng rời đi. Khi mặt trời lên cao hơn một chút, hoặc khi bóng chiều đổ dài, khoảng đất ấy lại trở về với vẻ vắng lặng ban đầu, như chưa từng có một phiên chợ nào diễn ra.
Tuổi thơ tôi gắn liền với những phiên chợ như thế. Chợ quê chẳng rộng rãi, cũng chẳng có gì quy mô, chỉ là một đoạn vỉa hè ven đường làng, một góc sân đình cũ kỹ, hay một bãi đất trống bên bờ sông lộng gió. Vậy mà, trong cái không gian giản dị ấy, lại hội tụ đủ đầy những thức quà quê dân dã nhất. Nào là rổ rau muống xanh mơn mởn còn vương giọt sương sớm, vừa nhổ từ ruộng lên; hay những con cá rô, cá trê còn nhảy tanh tách trong thúng; rồi mấy bó cải ngồng trổ hoa vàng óng; dăm trái bầu, trái bí còn nguyên cuống lá, như mang theo cả hơi thở của giàn cây sau vườn.
Người bán ở chợ xổm phần lớn là những bà, những chị trong làng. Họ không phải là người buôn bán chuyên nghiệp. Mỗi người chỉ mang ra chợ đôi ba món vừa thu hoạch từ vườn nhà. Chị hàng rau bưng theo rổ rau lang còn dính đất, bà cụ già cắp nách mấy chục quả trứng gà mới đẻ, cô hàng xóm gánh theo thúng gạo quê vừa xay xong, thơm nức mùi lúa mới. Tất cả đều giản dị, mộc mạc như chính con người nơi đây. Họ ra chợ không chỉ để kiếm thêm ít tiền chợ búa, mà còn để tranh thủ gặp gỡ trò chuyện. Chính cái chân chất ấy đã làm nên nét duyên thầm của chợ xổm, một nét duyên mà càng lớn lên, tôi càng thấy quý giá.
Ở chợ xổm, người ta hiếm khi kỳ kèo mặc cả. Người bán đưa ra một mức giá vừa phải, người mua cũng không nỡ ép giá. Bởi ai cũng hiểu, đây là chút rau nhà, con cá ao, là công sức của người nông dân. Bán rẻ quá thì thiệt, mà mua đắt quá cũng không nỡ. Cái tình người dường như đã lấp đầy khoảng cách giữa người mua và kẻ bán. Nhiều khi, chuyện mua bán chỉ là cái cớ để những người phụ nữ trong làng ngồi lại với nhau, trao đổi vài câu chuyện thường ngày. Họ hỏi thăm nhau về vụ mùa, về con cái, về những đổi thay trong xóm.
Thời gian trôi đi, chợ xổm cũng dần vắng bóng. Nhịp sống hiện đại len lỏi vào từng ngõ xóm, những siêu thị, cửa hàng tiện lợi mọc lên ngày một nhiều. Người ta bận rộn hơn, ít có thời gian để ra chợ mua từng mớ rau, con cá như ngày trước. Ở nhiều nơi, chợ xổm còn bị dẹp bỏ vì những lý do như an toàn giao thông hay vệ sinh đô thị. Những khoảng đất từng là nơi tụ họp quen thuộc giờ trở nên trống trải, lặng lẽ. Nhưng với tôi, chợ xổm chưa bao giờ thực sự biến mất. Nó vẫn tồn tại trong ký ức, trong những mảnh ghép tuổi thơ không thể phai mờ. Chợ xổm không chỉ là nơi mua bán, mà còn là nơi lưu giữ tình người, là hình ảnh của một làng quê chân chất, nơi con người sống gần gũi và chan hòa với nhau. Những phiên chợ ấy không chỉ trao đi rau cá, mà còn trao đi cả sự quan tâm, sẻ chia và nghĩa tình xóm giềng.
N.V.N.T
