Giới thiệu
Tin tứcSự kiện & Đối thoại
Sáng Tác
Nghệ thuật
Lý luận & Phê bìnhNgười & Đất quê hương
MultiMedia
Zalo

học và làm theo lời căn dặn của Bác Hồ bên dòng sông Nhật Lệ

PHẠM VĂN HÒA    29/06/2026    38
Cách đây 69 năm, trong chuyến thăm Quảng Bình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại bên dòng Nhật Lệ những lời căn dặn tâm huyết về xây dựng Đảng, củng cố khối đại đoàn kết, phát triển kinh tế, văn hóa và chăm lo đời sống nhân dân. Không chỉ là những chỉ dẫn cho một địa phương nơi tuyến đầu của miền Bắc khi ấy, những lời dạy của Người còn hàm chứa những giá trị bền vững, soi đường cho các thế hệ hôm nay. Trên hành trình phát triển mới, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Quảng Trị đang tiếp tục học tập, vận dụng và hiện thực hóa lời Bác bằng những hành động cụ thể, góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh và phát triển bền vững.

Nắng xuân - Ảnh: H.T

Nắng xuân - Ảnh: H.T

Chuyến thăm đất lửa miền Trung

Về bối cảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Quảng Bình ngày 16 tháng 6 năm 1957 diễn ra trong một bối cảnh lịch sử đặc biệt. Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, đất nước tạm thời bị chia cắt hai miền. Miền Bắc bước vào thời kỳ khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, từng bước xây dựng chủ nghĩa xã hội và làm hậu phương lớn cho sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà. Trong không gian chính trị ấy, Quảng Bình cùng với Vĩnh Linh trở thành địa bàn tuyến đầu của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, trực tiếp tiếp giáp với miền Nam, giữ vị trí vừa chiến lược, vừa nhạy cảm về quốc phòng, an ninh và chính trị.

Đối với Quảng Bình, sau chiến tranh, nhiệm vụ đặt ra hết sức nặng nề: khôi phục sản xuất, ổn định đời sống nhân dân, củng cố tổ chức Đảng, tăng cường khối đoàn kết toàn dân, đồng thời luôn nêu cao cảnh giác trước âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch ở vùng giới tuyến. Trong điều kiện ấy, chuyến thăm của Chủ tịch Hồ Chí Minh mang ý nghĩa vượt ra ngoài một cuộc thăm hỏi địa phương. Đó là sự quan tâm trực tiếp của Trung ương Đảng và của Người đối với một vùng đất có vị trí đặc biệt trong sự nghiệp cách mạng cả nước.

Chuyến thăm vì thế trở thành nguồn cổ vũ chính trị, tinh thần to lớn đối với Đảng bộ, quân và dân Quảng Bình; đồng thời đặt nền tảng cho những chỉ dẫn có giá trị lâu dài trong quá trình xây dựng, bảo vệ và phát triển quê hương.

Về thời gian, địa điểm: Theo các tư liệu lịch sử, vào lúc 8 giờ 15 phút ngày 16/6/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thị xã Đồng Hới, bắt đầu chuyến thăm và làm việc tại tỉnh Quảng Bình. Cùng đi với Người có Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam; đồng chí Hoàng Văn Diệm, Chủ tịch Ủy ban hành chính Liên khu IV; cùng một số cán bộ Trung ương. Chuyên cơ chở Bác hạ cánh xuống sân bay Đồng Hới trong niềm xúc động, chờ đón của cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương.

Các địa điểm chính trong chuyến thăm gồm: sân bay Đồng Hới nơi Bác đặt chân đến Quảng Bình, trụ sở làm việc của Tỉnh ủy nơi Người làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy; hội trường gặp gỡ cán bộ chủ chốt của Quảng Bình và Vĩnh Linh; sân vận động thị xã Đồng Hới nơi diễn ra cuộc mít tinh lớn của cán bộ và nhân dân; khu vực Sư đoàn 325 và bãi biển Nhật Lệ nơi Người gặp gỡ, thăm hỏi cán bộ, chiến sĩ.

Do yêu cầu công tác đột xuất của Trung ương và điều kiện bảo đảm an ninh trong bối cảnh vùng giới tuyến còn hết sức phức tạp, chương trình thăm Quảng Bình của Bác phải rút ngắn so với dự kiến. Sáng sớm ngày 17 tháng 6 năm 1957, Người rời Đồng Hới trở về Hà Nội. Dù thời gian lưu lại không dài, chuyến thăm đã để lại dấu ấn sâu đậm trong ký ức chính trị, lịch sử và tình cảm của Đảng bộ, quân và dân Quảng Bình.

Về diễn biến chính: Ngay sau khi đến Đồng Hới, Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu chương trình làm việc với tinh thần khẩn trương, gần gũi và thiết thực. Người đến nơi ăn, chốn ở của cơ quan Tỉnh ủy, thăm hỏi điều kiện sinh hoạt của cán bộ, rồi làm việc ngay với các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Cuộc làm việc này là hoạt động mở đầu có ý nghĩa quan trọng, thể hiện sự quan tâm trực tiếp của Người đối với tình hình lãnh đạo, tổ chức và đời sống chính trị của địa phương tuyến đầu.

Trong ngày 16 tháng 6 năm 1957, Bác gặp gỡ các đoàn đại biểu, cán bộ chủ chốt của Quảng Bình và Vĩnh Linh. Chương trình diễn ra liên tục, với nhiều hoạt động được bố trí trong thời gian ngắn. Buổi chiều, tại sân vận động thị xã Đồng Hới, Người dự cuộc mít tinh lớn của cán bộ và nhân dân Quảng Bình. Sự kiện này trở thành một trong những hình ảnh tiêu biểu nhất của chuyến thăm, khi hàng vạn người dân được trực tiếp nhìn thấy, nghe Bác nói chuyện và cùng sống trong không khí đoàn kết, xúc động, tin tưởng.

Sau cuộc mít tinh, Bác tiếp tục chương trình thăm Sư đoàn 325. Người làm việc với Bộ Chỉ huy Sư đoàn, gặp gỡ cán bộ, chiến sĩ và dự liên hoan văn nghệ với đơn vị. Tối cùng ngày, Người nghỉ tại khu vực bãi biển Nhật Lệ, trong không khí giản dị, thân tình với cán bộ và chiến sĩ. Những chi tiết ấy cho thấy phong cách làm việc Hồ Chí Minh: không hình thức, không cách biệt, luôn tranh thủ từng thời gian để nắm tình hình, gặp gỡ con người cụ thể, quan tâm đến cả công việc lớn và những điều bình dị trong đời sống.

Sáng 17 tháng 6 năm 1957, do có điện của Trung ương mời về Hà Nội giải quyết công việc gấp, Bác phải rời Quảng Bình sớm hơn kế hoạch. Trước lúc lên máy bay tại sân bay Đồng Hới, Người bày tỏ sự tiếc nuối vì chưa thực hiện hết chương trình thăm địa phương. Chuyến thăm khép lại trong thời gian ngắn, nhưng mở ra một dấu mốc lớn trong lịch sử chính trị - tinh thần của Quảng Bình, trở thành điểm tựa để các thế hệ sau tiếp tục suy ngẫm, kế thừa và hiện thực hóa những điều Người gửi gắm.

Lời căn dặn bên sông Nhật Lệ

Về công tác xây dựng Đảng và đoàn kết tại địa phương. Ngay sau khi đến Đồng Hới, Người làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Bình, hỏi kỹ về số lượng đảng viên, chất lượng tổ chức đảng, tình hình đoàn kết trong nội bộ Đảng, đoàn kết giữa lương và giáo, giữa miền xuôi và miền ngược, giữa các địa phương trong tỉnh. Người chỉ rõ: “Đảng viên, cán bộ là đầy tớ trung thành của nhân dân, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ, phải luôn luôn trau dồi đạo đức cách mạng; phải luôn luôn thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; phải chống quan liêu, mệnh lệnh, giữ gìn đoàn kết nhất trí trong Đảng, chăm lo xây dựng khối đoàn kết toàn dân”1. Với Bác, Đảng lãnh đạo cách mạng trước hết phải là một Đảng đoàn kết, trong sạch, gắn bó với dân và vì dân. Bởi vậy, Người căn dặn cán bộ phải thường xuyên về cơ sở, phải đi nhiều, nghe nhiều, hiểu dân thì mới giải quyết đúng việc của dân. Đảng làm cách mạng không có mục đích nào khác ngoài việc đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Tại cuộc mít tinh ở sân vận động Đồng Hới, Bác nói với đồng bào bằng giọng mộc mạc, dễ hiểu. Khi nhắc đến đoàn kết, Người cùng nhân dân đọc câu ca dao quen thuộc: Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng. Kết thúc cuộc mít tinh, “Người bắt nhịp bài hát Kết đoàn trong không khí vui vẻ và đầm ấm”2. Qua đó, Bác muốn gửi thông điệp lớn: đoàn kết là sức mạnh của Đảng, của nhân dân, của quê hương và đất nước. Với nhân dân Quảng Bình và Vĩnh Linh khi ấy, đoàn kết càng có ý nghĩa đặc biệt, bởi đây là vùng đất sát giới tuyến, nơi mỗi việc làm đều gắn với nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc, hướng về miền Nam, góp phần vào sự nghiệp thống nhất nước nhà.

Về nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa. Bác không chỉ nhìn thấy ở Quảng Bình những gian khó của vùng đất vừa đi qua chiến tranh, mà còn thấy rõ tiềm năng của rừng, biển, đồng ruộng và con người chăm chỉ, cần cù. Bác căn dặn rằng: “Đối với Quảng Bình, nghề biển, nghề rừng cũng quan trọng không kém nghề ruộng”3, nếu biết dùng đúng và dùng tốt tài nguyên, lao động của mình thì Quảng Bình sẽ có điều kiện vươn lên, đời sống nhân dân được nâng cao, đồng thời đóng góp nhiều hơn cho Nhà nước. Thực hiện lời dạy của Bác, nhân dân Quảng Bình hăng hái tăng gia sản xuất, tiêu biểu là xã Đại Phong, được Bác khen ngợi, “Trong khoảng ba năm, từ một hợp tác xã 23 hộ nghèo khó phát triển đến 455 hộ sinh hoạt ngang với mức sống của trung nông và đang có đà tiến lên nữa. Có kết quả đó là vì: Họ tin tưởng vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng. Họ không sợ khó sợ khổ, họ khéo tổ chức, họ đoàn kết chặt chẽ, họ quyết tâm phấn đấu để tiến lên”4.

Cùng với kinh tế là văn hóa. Người nhắc nhở cán bộ phải chú ý đi sát cơ sở, địa phương để nắm chắc và giải quyết tình hình công việc, “phải chú ý tổ chức cho nhân dân, nhất là phụ nữ học văn hóa vì dân ta phải văn minh, muốn văn minh phải có văn hóa”5. Đáng chú ý, Bác luôn đặt phát triển kinh tế, văn hóa trong mối quan hệ với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Quảng Bình lúc đó là tuyến đầu miền Bắc tiếp giáp miền Nam, vì vậy, sự vững mạnh của địa phương có ý nghĩa không chỉ với chính địa phương mà còn với cách mạng cả nước. Theo Người, “Mọi việc làm tốt hay xấu của các cô, các chú ở đây đều có ảnh hưởng nhất định đến cách mạng miền Nam, đều có ý nghĩa đối với việc bảo vệ miền Bắc”6. Từ đó, Người yêu cầu địa phương phải vừa tăng gia sản xuất vừa cảnh giác và sẵn sàng chiến đấu, chuẩn bị cho những nhiệm vụ lâu dài.

Về chăm lo đời sống cho nhân dân. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, đấu tranh bảo vệ và phát triển sản xuất phải gắn liền với đời sống nhân dân. Người không chỉ nghe báo cáo về tình hình chung mà còn hỏi những điều rất cụ thể: đời sống đồng bào miền núi ra sao, bệnh tật của người dân ở một số vùng đã được chữa trị thế nào, cán bộ có thường xuyên về cơ sở không. Những câu hỏi ấy không lớn tiếng, không hình thức, nhưng chạm đến điều sâu xa nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh: dân là gốc, đời sống của dân là thước đo năng lực lãnh đạo của Đảng và chính quyền.

Bác cũng dành tình cảm cho các cụ phụ lão, thanh niên, phụ nữ, thiếu niên, nhi đồng và đồng bào các dân tộc. Người nhìn thấy trong mỗi tầng lớp nhân dân một nguồn lực của quê hương. Chăm lo đời sống nhân dân, vì vậy, không chỉ là lo cái ăn, cái mặc, mà còn là chăm lo sức khỏe, học hành, văn hóa, đạo đức, nếp sống và tương lai của con người. Ngay cả khi nhắc nhở cán bộ phải tiết kiệm trong sinh hoạt công sở, Bác cũng gửi gắm một bài học sâu sắc: cán bộ cách mạng phải giản dị, không lãng phí, luôn biết nghĩ đến dân, nhất là khi đất nước còn nhiều khó khăn.

Nghĩ về những lời căn dặn của Bác bên dòng Nhật Lệ hợp thành một thông điệp lớn mà vẫn rất gần gũi: xây dựng Đảng cho vững, đoàn kết nhân dân cho chặt, phát triển kinh tế cho nhanh, chăm lo đời sống nhân dân cho thiết thực, giữ gìn quốc phòng - an ninh cho chắc. Gần bảy thập niên đã qua, những lời dạy ấy không chỉ thuộc về ký ức lịch sử. Đó vẫn là lời nhắc nhở hôm nay: học Bác không dừng ở xúc động và tự hào, mà phải được hiện thực hóa bằng việc làm cụ thể, bằng kết quả thiết thực, bằng sự đổi thay trong đời sống nhân dân và trong diện mạo quê hương, đất nước.

Từng bước hiện thực hóa theo lời Bác dặn

Xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp, nhất là đội ngũ cán bộ của tỉnh. Gần bảy thập niên sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Quảng Bình, những lời căn dặn của Người bên dòng Nhật Lệ vẫn là điểm tựa tinh thần và kim chỉ nam hành động. Trong bối cảnh Quảng Bình và Quảng Trị đã mở ra một không gian phát triển mới, việc học tập và làm theo lời Bác không chỉ dừng ở niềm tự hào lịch sử, mà phải được cụ thể hóa bằng năng lực lãnh đạo, chất lượng phục vụ nhân dân, tốc độ phát triển, môi trường đầu tư và sự đổi thay trong đời sống hằng ngày của người dân.

Hiện thực hóa lời Bác là tiếp tục xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, nhất là trong điều kiện vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Khi về thăm Quảng Bình, điều Bác quan tâm trước tiên là công tác xây dựng Đảng, tình hình đoàn kết trong Đảng, trong nhân dân, giữa lương và giáo, giữa miền xuôi và miền ngược. Đến hôm nay, yêu cầu ấy càng có ý nghĩa thời sự. Bộ máy mới chỉ thật sự phát huy hiệu quả khi tổ chức đảng đủ sức lãnh đạo, chính quyền đủ năng lực quản trị, cán bộ đủ phẩm chất, bản lĩnh và năng lực phục vụ nhân dân.

Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 xác định: “Xây dựng Đảng là then chốt; tăng cường mối quan hệ mật thiết với Nhân dân; phát huy dân chủ, kiểm soát quyền lực; kiên quyết phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; hoàn thiện bộ máy hệ thống chính trị và chính quyền địa phương hai cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả”7. Đây chính là sự gặp gỡ giữa lời căn dặn năm xưa của Bác với yêu cầu quản trị hiện đại hôm nay.

Trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đội ngũ cán bộ là khâu then chốt của then chốt. Cán bộ cấp tỉnh phải có tư duy chiến lược, biết kiến tạo phát triển, điều phối nguồn lực, xử lý những vấn đề liên ngành, liên vùng. Cán bộ cấp cơ sở phải gần dân, sát dân, hiểu dân, giải quyết công việc nhanh, đúng, hiệu quả. Tinh thần “về cơ sở”, “đi nhiều mới nắm được tình hình” mà Bác căn dặn không chỉ là phương pháp công tác, mà còn là thước đo đạo đức công vụ. Một nền hành chính tốt không chỉ được đánh giá bằng văn bản ban hành, mà bằng sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp và bằng kết quả thực thi trong đời sống.

Phát triển kinh tế, cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư. Cùng với xây dựng Đảng, hiện thực hóa lời Bác còn là phát triển kinh tế đúng hướng, bền vững và dựa trên lợi thế của địa phương. Trong không gian phát triển mới, Quảng Trị có điều kiện để mở rộng tầm nhìn về phía biển, về phía Tây, gắn với hành lang kinh tế Đông - Tây và hội nhập quốc tế. Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Trị nhiệm kỳ 2025 - 2030 xác định: “Phát triển kinh tế - xã hội xanh, bền vững, toàn diện và hội nhập với bốn trụ cột: năng lượng, logistics, du lịch, nông nghiệp xanh; lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm đột phá”8. Đây là định hướng quan trọng để biến tiềm năng thành nguồn lực, biến lợi thế địa lý thành động lực tăng trưởng, biến truyền thống cách mạng thành sức mạnh phát triển.

Muốn vậy, cải cách thủ tục hành chính và cải thiện môi trường đầu tư phải được xem là nhiệm vụ thường xuyên, trực tiếp và cấp bách. Một địa phương có tiềm năng lớn nhưng thủ tục chậm, phối hợp kém, chi phí không chính thức cao, hạ tầng thiếu đồng bộ thì khó tạo đột phá. Vì thế, cải cách hành chính không chỉ là rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, mà còn là thay đổi căn bản tư duy phục vụ: từ quản lý sang kiến tạo; từ chờ doanh nghiệp đến đồng hành với doanh nghiệp; từ giải quyết từng việc riêng lẻ sang xây dựng hệ sinh thái đầu tư minh bạch, ổn định, dự báo được.

Chăm lo đời sống của nhân dân ấm no, hạnh phúc. Trong chuyến thăm năm 1957, Bác quan tâm đến đời sống đồng bào miền núi, sức khỏe của người dân, điều kiện sinh hoạt ở cơ sở, yêu cầu Đảng bộ tỉnh phải quan tâm đầy đủ đến đời sống quần chúng. Vì vậy, phát triển hôm nay không thể chỉ nhìn qua tốc độ tăng trưởng, số dự án hay quy mô đầu tư, mà phải nhìn vào chất lượng sống, cơ hội học tập, chăm sóc sức khỏe, việc làm, thu nhập, môi trường sống và sự an tâm của người dân.

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Trị nhiệm kỳ này đặt ra yêu cầu phát triển mạnh mẽ, toàn diện văn hóa, con người Quảng Trị hài hòa với tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững; bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch. Bồi đắp con người Quảng Trị có lòng yêu nước, ý chí tự lực, tinh thần đổi mới, khát vọng vươn lên, gìn giữ ký ức lịch sử, truyền thống cách mạng và bản sắc văn hóa của vùng đất từng là tuyến đầu gian khó quản lý phát triển xã hội bền vững, tạo việc làm, giảm nghèo nhanh, bền vững và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân. Đây là hướng đi đúng với tinh thần Chủ tịch Hồ Chí Minh: phát triển kinh tế phải vì con người, văn hóa phải soi đường cho phát triển, chính sách xã hội phải chạm đến những nhóm còn khó khăn, yếu thế.

Học tập và làm theo lời Bác hôm nay chính là chuyển hóa di sản tinh thần thành năng lực phát triển với những kết quả, thành tựu trên các lĩnh vực. Đó là xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh; xây dựng chính quyền hai cấp hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ liêm chính, hành động, gần dân; phát triển kinh tế xanh, bền vững, hội nhập; cải thiện môi trường đầu tư; chăm lo đời sống nhân dân; phát triển văn hóa, giáo dục, y tế và con người. Khi những lời căn dặn bên dòng Nhật Lệ được hiện thực hóa bằng công việc cụ thể, kết quả cụ thể và sự đổi thay cụ thể trong đời sống nhân dân, đó chính là cách thiết thực nhất để Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Quảng Trị hôm nay tiếp tục đáp lại niềm tin yêu của Bác và từng bước thực hiện tâm nguyện của Người.

P.V.H 

 

 

 

 

____________

1 Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tập 6, tr.376.

2 Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tập 6, tr.377.

3 Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tập 6, tr.376.

4 Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 13, tr.3.

5 Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tập 6, tr.376.

6 Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tập 6, tr.376.

7 Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ tỉnh Quảng Trị, “Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030”, Quảng Trị, 2025, tr.3.

8 Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ tỉnh Quảng Trị, “Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030”, Quảng Trị, 2025, tr.3.