Giới thiệu
Tin tứcSự kiện & Đối thoại
Sáng Tác
Nghệ thuật
Lý luận & Phê bìnhNgười & Đất quê hương
MultiMedia
Zalo

Tư tưởng Hồ Chí Minh với việc xây dựng hệ giá trị quốc gia

NGUYỄN VĂN DÙNG    25/05/2026    98
Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã trở thành tài sản vô giá cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, dân tộc và nhân dân ta. Trong đó, tư tưởng của Người về hệ giá trị quốc gia là ánh sáng soi đường, là nền tảng quan trọng, cốt lõi để xây dựng hoàn thiện hệ giá trị quốc gia Việt Nam. Những giá trị quốc gia như hòa bình, thống nhất, độc lập, hạnh phúc được Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh thời nhắc đi nhắc lại nhiều lần và trong Tuyên ngôn độc lập do Người soạn thảo, đọc tại Ba Đình ngày 2/9/1945 cũng đã khẳng định mạnh mẽ. Độc lập, tự do, hạnh phúc là những giá trị mà dân tộc Việt Nam vẫn bền bỉ, kiên trì theo đuổi từ ngày thành lập nước. Các giá trị này còn được ghi trong tiêu ngữ “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” dưới Quốc hiệu Việt Nam từ năm 1945 đến nay. Câu nói bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” mãi còn lay động sâu sắc đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam và nhân loại tiến bộ. Tư tưởng Hồ Chí Minh về hệ giá trị quốc gia là cơ sở, nền tảng vững chắc để chúng ta tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ giá trị quốc gia Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng hoa cho ba nữ dân quân Quảng Bình và Vĩnh Linh năm 1968 - Ảnh: Tư liệu lịch sử

Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng hoa cho ba nữ dân quân Quảng Bình và Vĩnh Linh năm 1968 - Ảnh: Tư liệu lịch sử


Luận về "giá trị"

Giá trị là một trong những thuộc tính cơ bản của hàng hóa. Xã hội phát triển, khái niệm này được sử dụng rộng rãi trong triết học, đạo đức học, mỹ học, xã hội học cũng như các ngành khoa học xã hội và nhân văn khác. Trong mỹ học, đạo đức học và nhận thức luận, giá trị thường gắn liền với tính hữu ích, dùng để chỉ hiệu quả hoặc lợi ích đến từ thực tiễn và không thể tách rời tính khách quan của sự vật; giá trị của con người không thể tách rời khỏi những điều kiện cụ thể của sự phát triển xã hội, lao động trong xã hội loài người và mối quan hệ giữa cá nhân với người khác, giữa tập thể, giai cấp và xã hội.

Bản chất của giá trị là sự chủ thể hóa khách thể, là tác động của khách thể đối với chủ thể và chủ yếu là tác động trở lại chủ thể, đặc biệt là sự phát triển và hoàn thiện của chủ thể xã hội, nhằm làm cho xã hội loài người tốt đẹp hơn. Về cơ bản, giá trị nằm ở việc thúc đẩy sự phát triển của sự vật, ở việc thúc đẩy sự phát triển và hoàn thiện của chủ thể, đặc biệt là chủ thể xã hội, thúc đẩy sự phát triển toàn diện, đồng bộ và bền vững của xã hội loài người, thúc đẩy sự phát triển hài hòa của con người và tự nhiên, thúc đẩy xây dựng một xã hội tốt đẹp, thúc đẩy tự do của con người và phát triển toàn diện của mọi người. Giá trị chỉ có thể được hiểu một cách đúng đắn từ sự tác động của khách thể đối với sự phát triển của chủ thể, đặc biệt là chủ thể xã hội và sự phát triển toàn diện, tự do của mỗi cá nhân.

Giá trị vừa là sự phản ánh các thuộc tính của khách thể, vừa là sự đánh giá và ứng dụng thuộc tính của khách thể. Giá trị là điểm giao nhau trên một phương diện nhất định giữa một bên là nhu cầu của con người và một bên là thuộc tính của khách thể có thể thỏa mãn nhu cầu này. Mối quan hệ giá trị giữa con người và khách thể có được trong quá trình tương tác thực tế giữa con người hiện thực và khách thể, tức là trong thực tiễn đời sống xã hội. Chỉ thông qua thực tiễn đời sống xã hội, con người mới có thể khám phá được ý nghĩa thực tế của sự vật khách quan cũng như thuộc tính của chúng đối với bản thân, đồng thời mới có thể xây dựng một cách tự giác mối quan hệ giá trị với sự vật khách quan. Chỉ có thông qua hoạt động thực tiễn xã hội, con người mới thực sự khám phá và nắm vững phương thức sử dụng những thuộc tính của sự vật khách quan, khiến cho con người sở hữu được những phương diện có ích của sự vật khách quan, nghĩa là hiện thực hóa các giá trị đó. Giá trị cũng mang tính lịch sử xã hội. Giá trị liên quan mật thiết đến nhu cầu, sở thích, lợi ích và mong muốn của con người được quy định trong những điều kiện lịch sử xã hội nhất định. Nói cách khác, tiêu chuẩn giá trị của con người trong một thời đại nhất định bị hạn chế bởi điều kiện lịch sử xã hội thời đại đó. Triết học Mác phản đối mọi quan điểm siêu lịch sử về vấn đề giá trị và cho rằng việc đánh giá bất kỳ hiện tượng xã hội nào cũng không thể tách rời điều kiện lịch sử của thời đại, khẳng định tiêu chí giá trị cơ bản để đánh giá các hiện tượng xã hội là liệu nó có phù hợp cho tiến bộ xã hội, cho phát triển con người hay không.

Vì sao phải xây dựng hệ giá trị quốc gia?

Sự tiến bộ của nền văn minh nhân loại cho thấy, bất kỳ quốc gia nào muốn đoàn kết ý chí và sức mạnh của toàn xã hội đều phải có hệ giá trị dân tộc tương thích với mô hình kinh tế, thể chế chính trị của mình và truyền thống lịch sử văn hóa. Trong bối cảnh thế giới đang có những biến đổi sâu sắc chưa từng có từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ II trở lại đây, các xu thế lớn trên thế giới ngày càng khó lường, thậm chí có mầm mống của một cục diện hỗn loạn, trước những bài học lịch sử sâu sắc mà Việt Nam đã trải qua, với tư cách một quốc gia với 54 dân tộc anh em, Việt Nam cần một dân tộc đồng lòng nhất trí với sức mạnh cốt lõi, sâu xa, đó chính là các giá trị dân tộc. Các giá trị dân tộc cốt lõi vững chắc đều có cội nguồn vốn có của nó. Từ bỏ truyền thống và đánh mất gốc rễ chẳng khác nào cắt đứt mạch sống tinh thần của chính mình. Văn hóa và các đức tính truyền thống có thể cung cấp chỗ dựa tinh thần cho sự phát triển các giá trị quốc gia.

Trong phạm vi thế giới một thời gian dài, nhiều thế hệ quá tập trung vào “cái tôi”, và câu nói của Descartes "I think, therefore I am" (Cogito, ergo sum) đã trở thành như là một biểu tượng. Ego - cái tôi - trở thành tối thượng, nó là nền tảng cho việc không thừa nhận bất cứ cái gì là tuyệt đối, bác bỏ mọi thứ mang tính khả tín, chỉ tin vào những giá trị chủ quan, coi cái biết của cá nhân là thước đo tối hậu và từ đó biến thành “sự độc tài của chủ nghĩa tương đối”. Có thể coi đó là một dạng mới của chủ nghĩa hư vô. Việc từ “cái tôi" dần dần được trở lại "tôi và bạn”, “bạn và tôi”, cho đến "người khác", như ở chủ nghĩa hiện sinh và nhất là Emmanuel Levinas không đủ giúp con người thoát ra khỏi chủ nghĩa tương đối. Đặc biệt trong những năm gần đây, các vấn đề xã hội như làn sóng nhập cư, khủng bố, xung đột sắc tộc, va chạm văn hóa, mâu thuẫn tôn giáo nảy sinh đan xen, làm trầm trọng thêm sự khác biệt giá trị giữa các tầng lớp, nhóm cộng đồng, phát sinh các vấn đề xã hội. Sự hình thành các giá trị mới của nhiều nhóm riêng lẻ đã tác động, thách thức giá trị quốc gia với tư cách là nền tảng tư tưởng, nền tảng đạo đức của văn hoá dân tộc. Ngày càng nhiều người nhận ra nguy cơ của chủ nghĩa cá nhân cực đoan, chủ nghĩa tương đối, đồng thời nhận thấy rằng các giá trị chung, giá trị chia sẻ và giá trị cốt lõi  của quốc gia đang giúp các dân tộc vượt qua các xung đột giá trị, hình thành bản sắc chung, duy trì sự đoàn kết và ổn định xã hội.

Đặc biệt là hệ giá trị quốc gia, có một nhận thức chung giữa nhiều hệ tư tưởng khác nhau: Giá trị không nằm ở lý tưởng, mà nằm ở hiện thực, giá trị không phải là vật để trang trí, mà là giải quyết những vấn nạn của nhân dân, của dân tộc, của xã hội. Các giá trị quốc gia có trở thành hiện thực hay không phụ thuộc vào các tuyên ngôn, mà phụ thuộc chính vào những gì một dân tộc lựa chọn, thực hiện và đạt đến. Nói cách khác, giá trị quốc gia phải là cụ thể và thiết thực, nó không phải là những khẩu hiệu đơn thuần hay những phát ngôn trừu tượng, hão huyền. Giá trị quốc gia không chỉ tồn tại ở khía cạnh văn hóa, mà nó bao gồm mọi khía cạnh của một đất nước, cả kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và các phương diện khác. Giá trị quốc gia vừa đảm bảo sự tự do cá nhân, vừa bảo vệ quyền con người và đặc biệt phải đi đến xóa bỏ sự bất bình đẳng giữa người với người. Giá trị quốc gia thể hiện ý chí của cả một dân tộc, thể hiện khát vọng và sứ mệnh của tất cả mọi người, chứ không phải là sự lựa chọn hay đặc quyền của một số ít người. Giá trị quốc gia không phải nhất thành bất biến, mà nó được hình thành trong thực tiễn phát triển của mỗi một đất nước. Trong các thời kỳ khác nhau, với những điều kiện lịch sử cụ thể, mỗi dân tộc lại lựa chọn cho mình các giá trị khác nhau và sự ưu tiên khác nhau của các giá trị đó. Những sự lựa chọn và ưu tiên đó thường được gắn với những vấn nạn, những câu hỏi lớn mà thời đại đặt ra cho sự tồn vong, hưng thịnh của quốc gia mình.

Nhiều nước trên thế giới đã từ lâu tích cực xây dựng hệ giá trị quốc gia của mình. Ở Trung Quốc, Đại hội XVIII Đảng Cộng sản Trung Quốc nêu yêu cầu tích cực bồi dưỡng và thực hành hệ giá trị cốt lõi xã hội chủ nghĩa, gồm 12 giá trị với 24 chữ, trong đó tiêu chí giá trị trên phương diện quốc gia gồm có: giàu mạnh, dân chủ, văn minh, hài hòa; khuynh hướng giá trị trên phương diện xã hội gồm có: tự do, bình đẳng, công chính, pháp trị; chuẩn mực giá trị trên phương diện cá nhân công dân gồm có: yêu nước, trọng nghề, thành thật, thân thiện.

Trong thời gian cầm quyền của mình, Chính phủ Liên bang Úc đã nâng giá trị giáo dục lên tầm chiến lược quốc gia và đưa ra một loạt chương trình giáo dục giá trị quốc gia. Giáo dục các giá trị là một khía cạnh quan trọng của sáng kiến quốc gia mạnh mẽ do Chính phủ Liên bang Úc dưới thời Thủ tướng Howard lãnh đạo. Một số thủ tướng sau Howard đã tiếp tục chương trình nghị sự chính trị này, không ngừng lãnh đạo và thúc đẩy kế hoạch giáo dục các giá trị quốc gia Úc, các bộ trưởng giáo dục liên bang kế tiếp đã điều phối, phối hợp hành động của các quan chức giáo dục tiểu bang, lãnh thổ khác nhau để thực hiện các giá trị quốc gia. Cuối năm 2004, Bộ Giáo dục, Khoa học và Đào tạo Úc  đã hình thành khung quốc gia về giá trị giáo dục trường học Úc, trong đó làm rõ 9 giá trị cốt lõi: “Quan tâm và trắc ẩn; Nỗ lực hết mình; Công bằng; Tự do, trung thực và đáng tin cậy, Liêm chính; Tôn trọng; Trách nhiệm, Thấu hiểu, khoan dung và độ lượng”. Đi kèm cùng với 9 giá trị cốt lõi này là phương pháp và các bước cụ thể để phát triển giá trị trường học Úc. Năm 2005, bộ khung này triển khai đầy đủ trong các trường học, trở thành kim chỉ nam cho các chương trình giáo dục giá trị ở các cấp độ khác nhau. Khung quốc gia cho giáo dục giá trị của Úc không chỉ trở thành văn bản mang tính chất cương lĩnh cho giáo dục giá trị học đường mà còn là một trong những sáng kiến chiến lược của chính phủ Úc nhằm nuôi dưỡng các giá trị cốt lõi quốc gia.

Tổng thống Mỹ Bill Clinton cũng phát biểu: “Ở đây chúng ta phải trả lời ba câu hỏi cơ bản. Thứ nhất, làm thế nào để chúng ta biến Giấc mơ Mỹ từ cơ hội trở thành hiện thực cho tất cả những người Mỹ sẵn sàng làm việc cho giấc mơ đó? Thứ hai, làm thế nào để chúng ta giữ gìn các giá trị xưa cũ và lâu bền của chúng ta khi chúng ta tiến tới tương lai? Và, thứ ba, làm thế nào để chúng ta cùng nhau vượt qua những thách thức này, với tư cách là một nước Mỹ?” “Tôi cho rằng tất cả các trường học phải tiến hành giáo dục nhân cách, trao truyền các giá trị tốt đẹp và tư cách công dân tốt đẹp. (State of The Union Address U.S. Capitol, January 23, 1996).

Barack Obama cũng nói: “Cuốn sách này phát triển trực tiếp từ những cuộc trò chuyện đó trên đường chạy chiến dịch. Những cuộc gặp gỡ của tôi với cử tri không chỉ khẳng định nền nếp cơ bản của người dân Mỹ, họ còn nhắc nhở tôi rằng cốt lõi của kinh nghiệm Mỹ là một tập hợp các lý tưởng tiếp tục khuấy động lương tâm tập thể của chúng ta; một tập hợp các giá trị chung gắn kết chúng ta với nhau bất chấp sự khác biệt của chúng ta; một chuỗi hy vọng đang chạy khiến cho thử nghiệm không thể nghi ngờ của chúng tôi trong chế độ dân chủ có hiệu quả.” (The Audacity of Hope Thoughts on Reclaiming the American Dream, 2006).

Xây dựng và hoàn thiện hệ giá trị quốc gia Việt Nam

Quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về hệ giá trị quốc gia, văn kiện Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu rõ yêu cầu: “Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia”. Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc ngày 24/11/2021 triển khai thực hiện nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, vấn đề hệ giá trị quốc gia được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề cập đến trong bài phát biểu tại Hội nghị, trong đó có thể hiểu hệ giá trị quốc gia bao gồm 9 thành tố là: Hòa bình, thống nhất, độc lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc. Các giá trị quốc gia Việt Nam đã được hình thành và phát triển suốt chiều dài lịch sử, song việc xác định, nghiên cứu, tập trung xây dựng thành hệ giá trị quốc gia thì mới được chính thức nêu lên trong Văn kiện Đại hội XIII và Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định. Vậy trong thời đại ngày nay, vì sao phải xác định, nghiên cứu, xây dựng hệ giá trị quốc gia?

Trước hết, hiện nay, mầm mống của chủ nghĩa cá nhân tuyệt đối và cực đoan làm cho chủ nghĩa đa nguyên giá trị ngày càng phổ biến. Ngày càng nhiều người bắt đầu nhận ra sự nguy hiểm của chủ nghĩa cá nhân cực đoan, chủ nghĩa đa nguyên giá trị và sự theo đuổi vật chất mù quáng, đồng thời nhận thấy rằng các giá trị chung, các giá trị được chia sẻ và giá trị cốt lõi đang duy trì đại đoàn kết dân tộc, củng cố ổn định chính trị, ổn định xã hội. Xây dựng hệ giá trị quốc gia góp phần tạo nên một cộng đồng dân tộc chung một ý chí, chung một nhận thức, chung một niềm tin.

Thứ hai, xây dựng hệ giá trị quốc gia giải quyết mâu thuẫn nội tại và nguy cơ của chủ nghĩa tương đối đạo đức và chủ nghĩa tương đối văn hóa. Chủ nghĩa tương đối đạo đức và tương đối văn hóa quan niệm rằng không có một tiêu chuẩn tuyệt đối nào, sự đánh giá đúng sai, phải trái đều do ý muốn chủ quan của các cá nhân hoặc các cộng đồng trong xã hội. Hệ giá trị quốc gia xóa bỏ được những sự mù mờ và bất nhất của chủ nghĩa tương đối, xác lập tiêu chí, tiêu chuẩn chung bao trùm, mang tính quy định, định hướng cho các hệ giá trị khác. Bản thân ở nhiều nước phương Tây, hệ giá trị quốc gia cũng được đặt cao hơn các giá trị khác. Thủ tướng Úc John Howard từng khẳng định trong Australia Day: “Sự đa dạng sắc tộc của Úc là một trong những thế mạnh lâu dài của quốc gia chúng ta. Tuy nhiên, không thể đánh đổi các giá trị chung gắn kết chúng ta với tư cách là một dân tộc với việc tôn vinh sự đa dạng của chúng ta... Ý thức về các giá trị được chia sẻ là chất kết dính xã hội của chúng ta. Không có nó, chúng ta có nguy cơ trở thành một xã hội bị cai trị bởi sự ép buộc hơn là sự tự nguyện. Đó không phải là một nước Úc mà bất kỳ ai trong chúng ta muốn sống”. Có thể khẳng định, giá trị quốc gia gắn với sự thống nhất của dân tộc, một quốc gia duy nhất.

Thứ ba, nếu không có một hệ giá trị quốc gia thì sẽ không thể có gắn kết giữa các tộc người, các cộng đồng người có truyền thống văn hóa khác nhau. Hệ giá trị quốc gia là chất keo, là sự gắn kết tốt nhất, là sợi dây ràng buộc thiêng liêng nhất giữa các cộng đồng tộc người. Hệ giá trị quốc gia Việt Nam đã được hình thành lâu dài trong lịch sử, từ góc độ cộng đồng tộc người. Giá trị quốc gia được hình thành qua nhiều cuộc chiến tranh giữ nước, sự gắn bó qua các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm đã góp phần tôi luyện nên một cộng đồng dân tộc có ý thức mãnh liệt về chủ quyền quốc gia, bản sắc văn hóa và quyền tự quyết dân tộc. Hệ giá trị quốc gia Việt Nam đã dần vượt khỏi hệ giá trị của một dân tộc cụ thể trong 54 dân tộc, hòa quyện với nhau thành hệ giá trị của cộng đồng đa dân tộc, hay nói chính xác hơn là hệ giá trị của quốc gia dân tộc. Ba là, hệ giá trị dân tộc Việt Nam luôn gắn liền với giao lưu đa văn hóa. Hệ giá trị quốc gia Việt Nam do cộng đồng 54 dân tộc anh em cùng vun đắp, lịch sử Việt Nam là lịch sử được viết bởi 54 dân tộc anh em. Hệ giá trị quốc gia Việt Nam có chung số phận, cùng chia sẻ quá khứ, hiện tại và tương lai.

Thứ tư, danh từ “quốc gia” là một khái niệm mang tính địa lý, nhưng cũng là một khái niệm mang tính chính trị, một khái niệm gắn liền với quyền lực chính trị. Quyền lực chính trị của quốc gia Việt Nam thuộc về nhân dân Việt Nam. Ở đây, người dân làm chủ đất nước, vì vậy, những giá trị mà Đảng Cộng sản Việt Nam theo đuổi thực chất là mục tiêu giá trị mà nhân dân cả nước cùng theo đuổi. Hệ giá trị quốc gia là hệ giá trị mà đông đảo quần chúng mưu cầu, vun bồi và xây dựng nên. Trong đó, mỗi cá nhân, mỗi thành viên của cộng đồng quốc gia tìm được giá trị của mình và đóng góp làm sâu sắc hơn cho hệ giá trị quốc gia. Đồng thời, không có hệ giá trị quốc gia, không có độc lập, giàu mạnh, dân chủ, công bằng,... thì cá nhân trong xã hội không có điều kiện theo đuổi giá trị của mình, văn hóa dân tộc cũng không thể duy trì các giá trị cốt lõi của mình.

Ở nước ta có thể thấy rõ sự thống nhất giữa hệ giá trị quốc gia và hệ giá trị xã hội chủ nghĩa. Chủ nghĩa xã hội không chỉ là một lý thuyết, một mô hình, mà còn là một hệ giá trị. Khi so sánh hệ giá trị quốc gia và hệ giá trị chủ nghĩa xã hội, chúng ta thấy sự nhất quán, mối liên hệ chặt chẽ, logic và khoa học. Qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), chúng ta có thể thấy bước tiến nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội thể hiện ở các đặc trưng bản chất được bổ sung và đưa lên vị trí hàng đầu, đó là “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đây là các đặc trưng giá trị, vừa là các giá trị của chủ nghĩa xã hội, vừa là các giá trị quốc gia. Từ Cương lĩnh năm 1991 đến Cương lĩnh sửa đổi, bổ sung năm 2011, nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về các đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội đã có những bước phát triển, chuyển dần sang các đặc trưng bản chất mang tính giá trị, tính hướng đích. Thời kỳ quá độ ở Việt Nam, thực chất là thời kỳ phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ góc độ giá trị học, đi lên chủ nghĩa xã hội cũng chính là hướng tới, xây dựng các giá trị tốt đẹp. Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc triển khai thực hiện nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, vấn đề hệ giá trị quốc gia được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề cập đến trong bài phát biểu tại Hội nghị, trong đó có thể hiểu hệ giá trị quốc gia bao gồm 9 thành tố là: Hòa bình, thống nhất, độc lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc. So sánh với Cương lĩnh sửa đổi, bổ sung năm 2011 thì chúng ta có thể thấy 5 đặc trưng đầu tiên nêu trong Cương lĩnh là: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh đã được thể hiện trong hệ giá trị quốc gia. Các giá trị dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh đã được nghiên cứu, làm rõ và triển khai xây dựng nhiều trong các năm qua.

Văn kiện Đại hội XIII: “Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia...” có 3 yêu cầu, trong đó nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng chúng ta đều đang thực hiện, song trong 3 yêu cầu đó, triển khai xây dựng là quan trọng nhất và khó khăn nhất. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định: "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam."

Giá trị không chỉ là mục tiêu, khát vọng, mà còn là những gì chúng ta đạt đến hoặc mang lại. Với tư cách là hệ giá trị quốc gia, thì hòa bình, thống nhất, độc lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc là các giá trị mà các thế hệ cách mạng thời đại Hồ Chí Minh đã và đang mang lại cho dân tộc Việt Nam. Giá trị là khát vọng, song chỉ những khát vọng nào mang tính tất yếu, tính phổ quát, tính hiện thực mới là những giá trị quý báu nhất. Xây dựng hệ giá trị quốc gia là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó văn hóa và văn học, nghệ thuật phải gánh vác sứ mệnh cao cả, phải là người tiên phong theo chỉ dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”.