☰
Giới thiệu▼
Tin tứcSự kiện & Đối thoại
Sáng Tác▼
Nghệ thuật▼
Lý luận & Phê bìnhNgười & Đất quê hương
MultiMedia▼
Tùy chọn thống kê

Mặc định website đo tổng lượt xem và có thể ước tính nhóm độc giả bằng bộ đếm lưu trên trình duyệt; máy chủ chỉ nhận số tổng hợp. Với tài khoản đăng nhập, hệ thống thống kê số ngày và lượt truy cập theo tài khoản nhằm đánh giá mức độ gắn bó, không lưu IP hay lịch sử bài đọc trong bảng thống kê thành viên. Google Analytics không tự bật. Nếu chọn Đồng ý đo nâng cao, hệ thống có thể dùng mã trình duyệt để thống kê độc giả mới/quay lại/trung thành, và bật Google Analytics.

Bạn có thể thay đổi lựa chọn bất cứ lúc nào. Phiên đăng nhập và nhật ký kỹ thuật máy chủ được quản lý riêng với thống kê này.

Zalo

Những người chị và vết sẹo bên hông

THANH ĐAN ( Ái)    22/10/2026    13
Người xưa có câu: “Ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng”. Trong một xã hội từng nặng tư tưởng trọng nam khinh nữ, câu nói ấy đã nêu cao giá trị cụ thể của một cô con gái đầu lòng. Tôi nghĩ ngoài mang tính an ủi, câu nói này có ý công nhận vai trò của những người con gái lớn trong một gia đình. Con gái đầu lòng là một đôi tay nữa của mẹ, biết bồng em, biết nấu cơm, rửa chén, biết lo toan, thu vén cho đàn em nhỏ khi cha mẹ vắng nhà.

Tôi thuộc thế hệ 7x. Sau tôi là năm đứa em. Ở lứa tuổi của tôi, một gia đình có năm, sáu đứa con không phải chuyện hiếm. Những năm ấy, người ta sinh nhiều, nuôi nhiều và cũng khổ nhiều. Thế hệ cha mẹ tôi còn đông con hơn thế. Bà nội và bà ngoại tôi đều sinh nở hơn chục lần. Thế nhưng chiến tranh, bệnh tật, đói nghèo và điều kiện y tế thiếu thốn khiến những cuộc chia lìa xảy ra nhiều đến mức người ta phải học cách sống chung với mất mát. Ngoại tôi mất một người dì lúc còn đỏ hỏn, một người cậu vừa tròn mười lăm tuổi đã trúng bom khi đi làm nương. Bà nội tôi cũng chỉ còn năm người con sống sót đến lúc trưởng thành. Những người phụ nữ của thế hệ ấy cứ sinh con, nuôi con, mất con rồi lại tiếp tục sống, xã hội khi ấy chẳng cho họ quá nhiều thời gian để đớn đau, buồn bã.

Và trong những gia đình đông con ấy, người chị lớn luôn giữ một vai trò rất quan trọng. Trời sinh, như thể một lẽ tự nhiên, đã là chị thì tự biết cách trông em, đỡ đần cha mẹ việc nhà. Những người chị mới bảy, tám tuổi đã bồng em đến trẹo hông. Bồng đứa này xong, mẹ lại sinh em bé, lại tiếp tục bồng đứa khác. Nhiều người chị như tôi, hông có sẹo vì cứ bồng lần lượt đứa em này đến đứa em khác. Để nói chính xác thì sẹo bồng em không phải là vết sẹo bị rách da thịt mà là một vệt da dài bị nổi sần và ửng đỏ. Phải mất một thời gian khá dài, sau khi các em lớn, vết sẹo của tôi mới biến mất. Nhưng tôi nghĩ, vết sẹo đáng nhớ của mỗi người chị trong gia đình khốn khó như tôi không chỉ là vết sẹo nằm trên cơ thể.

Có lần xem chương trình tìm người thất lạc, nội dung cuộc tìm kiếm kể về một người chị đi tìm đứa em trai bị thất lạc từ khi mới bảy tháng tuổi. Năm ấy chị mới bảy tuổi. Hình như cha mẹ đã mất, một mình người chị phải cáng đáng bốn đứa em. Đứa em nhỏ bảy tháng tuổi cần sữa mẹ, chị không thể bồng em đi xin sữa vì còn lo cho những đứa em còn lại. Cuối cùng, chị đành cho em bé đó đi khi có người ngỏ ý xin. Người chị kể rằng ngay lúc người ta bế em đi, chị đã hối hận và cố giằng em lại, nhưng không thể. Cái khoảnh khắc ấy đã ở lại trong chị suốt cả cuộc đời. Năm tháng đi qua, chị lớn lên, làm gì ở đâu cũng đau đáu tìm kiếm người em. May mắn thay, hơn năm mươi năm sau, chị vỡ òa hạnh phúc, trút được gánh nặng trong lòng bởi đã tìm thấy em mình. Chị bảo, từ giờ chị mới có thể ngủ ngon.

Hẳn là đồng cảm nên tôi cứ ám ảnh và nhớ mãi. Người chị cả trong những gia đình đông con và khó khăn thường vậy. Họ không có một tuổi thơ của riêng mình. Tuổi thơ ấy bị chia nhỏ cho những đứa em. Họ học cách chăm sóc người khác trước khi biết cách chăm sóc mình, biết nhường nhịn hơn là đòi hỏi, biết hy sinh, biết chịu đựng và kìm nén cảm xúc từ rất sớm. Tôi nhớ hình bóng mình lúc mười tuổi, ai cho gì ngon dù đói, dù rất muốn nhưng không dám ăn mà mang về cho em. 

Bạn tôi, những người làm chị như tôi, nhiều người cũng đã đi qua tuổi trẻ theo cách ấy. Có người nghỉ học sớm để đi làm, nhường cơ hội học hành cho các em, thậm chí còn nuôi em ăn học. Có người được tiếp tục đi học, rồi sau này trở thành “đầu tàu”, kéo tất cả đàn em phía sau. Lo cho từng đứa ăn học, tìm việc làm, dựng vợ gả chồng. Những người chị đi lấy chồng nhưng một phần cuộc đời, một phần tâm trí vẫn để lại ở căn nhà cũ. Có đồng nào gửi về đồng ấy. Có chuyện gì cũng nghĩ đến các em. Người thì chẳng nỡ lấy chồng bởi phía sau còn mẹ già, em nhỏ. Người thì từ bỏ cơ hội đi xa, từ bỏ một mối tình, từ bỏ những hạnh phúc riêng tư vì trách nhiệm gánh vác. Đến khi những đứa em lần lượt trưởng thành, có gia đình riêng, người chị nhìn lại thì tuổi trẻ đã đi qua từ lúc nào. Câu chuyện ấy không xa lạ, nó nằm trong cuộc đời của biết bao người phụ nữ, ví như người chị trong “Chị tôi” của nhạc sĩ Trần Tiến, một người chị “thương hai đứa em/ Thương mẹ già còn đau” nên “chưa lấy chồng”.

Ông bà xưa cũng hay nói “đầu xuôi đuôi lọt”. Vì câu nói ấy mà bạn tôi đã luôn chần chừ trước mọi quyết định lớn của cuộc đời. Bạn có cuộc hôn nhân bất hạnh, bạn nhận ra người mình chọn là sai, anh ta đối xử với bạn chẳng ra gì. Người ta nín nhịn chịu đựng vì con cái. Bạn, vì một lẽ nữa, là con đầu, là chị cả. Bạn sợ những đứa em chưa dựng vợ gả chồng sẽ phần nào bị ảnh hưởng, bị đánh giá. Bạn sợ đối phương đánh giá gia đình mình, đánh giá em út mình khi có một người chị thất bại trong hôn nhân. Cái lý lẽ định kiến ấy không phải không xảy ra, nên càng nghĩ càng thương cho sự chịu đựng vô lý kia.

Thế hệ ngày trước đã quá quen với sự hy sinh của người chị đến mức coi nó như một điều hiển nhiên. Những cô bé chỉ bảy, tám tuổi đầu đã tự hiểu chuyện, biết nhường nhịn, biết làm gương cho em. Hồi ấy chưa có những khái niệm về “tổn thương đứa trẻ bên trong”, đời sống lúc ấy phải thế. Họ không thể biết tương lai, những người chị lớn lên mang theo những lo nghĩ suốt cuộc đời, như thể là số phận mặc định. Bây giờ mọi thứ đã khác. Người ta hiểu hơn về quyền được làm trẻ con. Đứa bé lớn cũng chỉ là một đứa trẻ, cũng cần được người lớn ôm vào lòng khi buồn, cũng có quyền giận dỗi, có lúc ích kỷ một chút, có thể muốn giữ riêng cho mình một cái bánh ngon mà không nhất thiết phải nhường chỉ vì nó là chị. Có lẽ đó là một thay đổi đáng quý. Không phải để những người chị thôi yêu thương em mình, càng không phải để phủ nhận sự nhường nhịn hy sinh vốn là một điều đẹp trong tình thân, mà để tình yêu ấy không còn phải tiếp diễn bằng cách để một đứa trẻ khác phải chịu ấm ức. Người ta đã để ý, quan tâm hơn đến sự công bằng cho mọi đứa trẻ.

Tôi hay nghĩ đến vết sẹo từng tồn tại bên hông mình để thương cho phần tuổi thơ cơ cực. Nói thế không phải để xem làm chị cả là một điều bất hạnh. Làm chị, có những đứa em bé bỏng để thương, để chăm sóc, để nhìn chúng lớn lên cũng là một thứ hạnh phúc mà những người không có anh chị em đông đúc khó lòng hiểu hết. Chỉ là trong một gia đình nghèo, đông con, người chị thường thiệt thòi, lo nghĩ hơn bội phần. Cho đến bây giờ, trên đầu bạc tóc vẫn còn lo nghĩ. Có thể một phần do tính cách nhưng tôi thấy mười người chị cả thì chắc cũng bảy, tám người ham lo toan vun vén như tôi.

Những dịp giỗ chạp hay tết nhất, nhà đông đủ mấy chị em, chúng tôi vẫn thường trò chuyện rôm rả, nhắc lại những kỷ niệm ngày xưa. Em gái út nói một câu mà tôi cũng bất ngờ, em bảo hồi đó út cứ tưởng chị là mẹ, tại chị lo ăn ngủ, chị dắt đi chơi, chị còn dạy học nên trong trí nhớ non nớt của bé con năm tuổi, em cứ ngỡ người chị mười mấy tuổi kia là mẹ của mình. Cả đám cùng cười, nhắc lại những lần đứa này đứa kia tị nạnh, tranh giành nhau, chị phải đứng ra phân xử. Hóa ra các em vẫn nhớ. Những buổi trưa ngày ấy, tôi cứ tưởng đã trôi đi từ lâu, chẳng còn gì đáng kể. Vậy mà trong ký ức của các em, vẫn có một cô chị nhỏ nhắn ở nhà, lo cho các em ăn rồi vỗ về chúng ngủ để cha mẹ yên tâm đi làm.

Tháng mười, tôi muốn dành những yêu thương cho những người chị như mình, những người chị đã đi qua tuổi thơ trong căn nhà đông con, khi trách nhiệm được quàng lên vai quá sớm. Cho những người từng bồng em đến trẹo hông, từng ăn phần cơm độn để dành miếng cơm trắng cho em, từng nghỉ học, đi làm, gửi từng đồng tiền nhỏ về nhà, cho những người đã có gia đình riêng nhưng lòng vẫn lo toan cho mẹ cha, em út. Tôi vẫn nghĩ những người chị ngày ấy đã trưởng thành, đã lớn lên theo một cách rất phi thường, rất đáng khen.

Thương lắm những người chị và vết sẹo bên hông.

 T.Đ