Kỳ cuối: Khoảng trống trong giấy khai sinh được lấp đầy
Tìm về huyện, về xã là nơi ông Quốc đặt niềm hy vọng để
“ghép lại” những mảnh rời rạc trong ký ức qua lời mẹ kể. Trong một cuộc
trao đổi thông tin, hai cán bộ huyện nhìn những dữ liệu đã có rồi họ thốt
lên: “Giống nhau như hai giọt nước”. Một câu nói rất ngắn nhưng nó đã làm rung
lên cả một đời người từ tuổi ấu thơ đến lúc trưởng thành, bao nhiêu sự
chờ mong, thắc thỏm dài thăm thẳm, lật trở những trang ký ức đến mỏi
mòn trong hành trình tìm cha.
Theo chân cán bộ huyện, ông Quốc đến với bản Chao, nơi những ngôi nhà sàn nép bên sườn núi với những con đường quanh co, khúc khuỷu. Vừa đi, vừa mừng, vừa lo giữa bạt ngàn màu xanh của rừng. Bởi theo như cán bộ huyện và ông Nguyễn Thanh Bàn (khi ấy là Phó Chủ tịch xã Nam Sơn, huyện Quỳ Hợp, Nghệ An) dặn đi dặn lại là ông Quốc phải giữ bình tĩnh trong mọi tình huống xảy ra, ví như cha ông còn. Để không lộ ra thân phận, ông đóng vai một người từ Hải Phòng đến tìm hiểu lý lịch một người từng chiến đấu ở Quảng Trị trong những năm kháng chiến chống Mỹ. Câu chuyện đã có kịch bản sẵn, nhưng trái tim của người con lại loạn nhịp yêu thương, có khi không thể diễn theo kịch bản ấy.

Ông Quốc kể, vừa đặt chân đến đầu ngõ, hai bàn tay ông đã ướt đẫm
mồ hôi. Con đường trước mặt tuy ngắn, nhưng ông có cảm giác như mình đang bước
qua hơn ba mươi năm. Nếu gặp cha, ông sẽ hỏi vì sao cha không tìm mình hoặc kể
cho cha nghe về cuộc sống thăng trầm. Ông đã tưởng tượng giây phút này biết bao
lần trong những đêm nằm một mình trên những chuyến xe dài. Vậy mà khi giây
phút thật sự đến, mọi câu hỏi đều biến mất, ông Quốc thấy mình như một đứa trẻ
đang đứng trước cửa nhà ngước nhìn mẹ rồi hỏi: “Cha con là ai?”. Từ căn nhà gỗ
người đàn ông bước ra, tóc trên đầu đã bạc, lưng hơi còng, trên người chiếc
áo chàm đã phai qua bao mưa nắng, nhưng nét mặt cương nghị và đôi mắt sáng.
Đứng trước mặt ông Quốc giờ đây là ông Lương Trung Kỳ - người mà ông Quốc
đã đi tìm suốt hơn ba mươi năm. Hai người nhìn nhau thật lâu, lâu đến mức sự im
lặng giữa hai người bắt đầu có hình hài. Ông Kỳ chậm rãi: “Hình như... tôi đã gặp
anh ở đâu đó một lần rồi?”. Ông Quốc lấy hết sức lực để nở nụ cười và
giữ cho giọng nói không bị lạc đi: “Chưa đâu bác... Hôm nay là lần đầu tiên”.
Không ai biết câu nói bình thản ấy đã phải đi qua bao nhiêu năm
chờ đợi. Cứ thế, cuộc chuyện trò tiếp tục với những câu hỏi được đưa ra theo kịch
bản đã có sẵn. Hỏi về đơn vị, về những năm tháng chiến đấu ở Quảng Trị, về những
trận đánh, những địa danh đã đi qua. Rồi một câu hỏi quan trọng nhất mà người hỏi
cứ như vô tình nhắc lại chuyện cũ: “Bác còn nhớ thời gian chiến đấu ở Quảng Trị
có quen người phụ nữ nào không?”.
Ông Kỳ đang chuyện trò sôi nổi bỗng lặng im trong giây lát, đôi
mắt nhìn xa xăm như đang tìm về ký ức những năm tháng hào hùng chiến đấu của tuổi
trẻ, đó cũng là thời gian chuyện duyên nợ với một người phụ nữ mà đến giờ ký ức
vẫn còn tươi nguyên. Ông chậm rãi kể về một trận chiến ở Cam Lộ. Lúc đang chiến
đấu giằng co ác liệt với kẻ thù, ông bị lạc đơn vị và được một người phụ nữ tên
là Trần Thị Thí cứu giúp. Sau nhiều ngày được chăm sóc ông sống sót rồi trở về
đơn vị và tiếp tục đi qua những vùng chiến đấu khác. Trước lúc chia tay, bà Thí
đã tặng ông một chiếc radio, một chiếc đồng hồ Poljot và một chiếc màn tuyn trắng,
phía dưới được khâu viền một đường chỉ đỏ. Khi nhắc đến những kỷ vật ấy, giọng
ông Kỳ chùng xuống, đôi mắt rưng rưng: “Chiếc radio lúc khó khăn, thiếu thốn
tôi bán mất rồi”. Ông ngừng một lúc rồi lấy tay đưa vạt áo lên chấm vào đôi mắt
đỏ hoe và tiếp tục câu chuyện: “Nhưng cái màn tuyn và chiếc đồng hồ tôi vẫn còn
giữ”. Vừa nói ông vừa đứng dậy đi vào buồng đem ra một gói vải cũ. Ông Kỳ lật mở
từng lớp vải chậm rãi, cẩn thận, và chiếc đồng hồ Poljot cũ kỹ hiện ra. Cạnh
bên là chiếc màn tuyn trắng với nhiều chỗ đã cháy xém sau một trận hỏa hoạn,
nhưng đường chỉ đỏ quanh mép vẫn còn nguyên vẹn. Một đường chỉ mỏng manh đến mức
chỉ cần một lực chạm tay nhẹ cũng có thể đứt. Vậy mà nó đã đi qua chiến tranh,
qua những năm tháng nhọc nhằn của cuộc sống hơn một phần tư thế kỷ. Ông Kỳ ngắm
nhìn những kỷ vật hồi lâu rồi đưa tay vuốt lên từng mũi chỉ, giọng ông
khàn đi: “Tôi tưởng đời mình sẽ không còn gặp lại ai biết chuyện này nữa...”.
Có những khoảnh khắc, sự thật không cần thêm bất cứ lời giải
thích nào. Đến chi tiết kỷ vật chiếc màn tuyn có viền chỉ đỏ thì ông Quốc không
thể ngồi thêm được nữa. Ông đứng bật dậy, bước về phía ông Kỳ rồi quỳ xuống. Tiếng
gọi bật ra như thể nó đã nằm sẵn trong lồng ngực từ hơn ba mươi năm trước: “Cha
ơi…” - rồi nghẹn lại - “Cha đây rồi…”.
Cứ tưởng như tiếng gọi cha rất giản đơn, nhưng trong câu chuyện của ông Quốc, ông Kỳ đó là cả một hành trình dài dằng dặc. Với ông Quốc là sự mong đợi, hy vọng tìm về nguồn cội. Với ông Kỳ là sự thắc thỏm có hay không về giọt máu của mình khi cùng chung chăn gối với người phụ nữ thời chiến. Tiếng gọi đó cũng khiến những người xung quanh không cầm được nước mắt. Ông Kỳ cũng ôm chầm lấy con. Hai người đàn ông ôm nhau khóc, họ khóc như những đứa trẻ. Bởi trong giây phút ấy, tuổi tác không còn tồn tại, không còn xa lạ, không còn những câu hỏi phải vòng vo mà chỉ còn tình cha con.

Chiến tranh đã cuốn đi của họ những ngày tháng không thể nào lấy
lại được. Những buổi sáng người cha có thể nhìn thấy con mình lớn lên, những bước
chân chập chững bước đi đầu tiên, những lần con ốm có bàn tay cha đặt lên
trán... Hơn ba mươi năm đã mất, nhưng sợi dây máu mủ thì chưa bao giờ mất, nó
chỉ bị chiến tranh đẩy đi một vòng rất xa rồi trở về.
Phía sau hai cha con, bà Quang Thị Nga (vợ ông Kỳ hiện tại) đứng
lặng lẽ lau nước mắt rồi đến bên nắm tay ông Quốc, giọng khẽ khàng: “Nếu ngày ấy
không có mẹ con chắc ông ấy đã không còn sống để trở về…”. Một câu nói nhẹ
nhàng, ngắn gọn không một chút hờn ghen, trách móc mà nó toát lên lòng biết ơn
bao la đối với bà Thí ở Quảng Trị, đã cứu sống một người lính, một người chồng,
một người cha để hôm nay gia đình đoàn tụ trong hạnh phúc...
Ba mươi mốt ngày ngược núi của ông Quốc khép lại. Nhưng đó chỉ
là điểm kết thúc của một hành trình và cũng là điểm bắt đầu của một cuộc trở về
khác, bởi cái tên Trần Hiệp đã gắn bó với ông hơn ba mươi năm qua. Cái tên ấy
đã đi cùng ông qua những năm tháng cuộc đời chênh chao, khó khăn nhất. Ông
không phủ nhận nó. Nhưng từ ngày gặp ông Lương Trung Kỳ, cái tên Lương Trung Quốc
như từ một nơi rất xa trở về. Nó không phải một cái tên mới mà đã có trước lúc
ông Quốc chào đời.
Quyết định làm thủ tục cải chính họ tên, tìm lại cội nguồn bằng
sự hợp pháp và được sự đồng thuận nhưng ông Quốc vẫn cứ bồi hồi: “Ngày làm thủ
tục bàn tay tôi cứ run run”. Bởi phía sau dòng chữ Lương Trung Quốc là một cậu
bé từng đứng trước mẹ và hỏi về cha, một chàng trai từng mang trong lòng nỗi mặc
cảm có mẹ mà không có cha, một người đàn ông đã rong ruổi hàng nghìn cây số để
tìm người có thể đã quên mình. Tất cả những con người ấy gặp nhau trong khoảnh
khắc khi cây bút chạm xuống trang giấy. Có người hỏi ông: “Đổi lại một cái tên
có thật sự quan trọng đến vậy không?” Ông Quốc đáp: “Quan trọng chứ. Vì cái tên
ấy là điều cha để lại cho tôi trước khi đi...”. Không phải tiền bạc, tài sản và
chỉ một cái tên, nhưng đôi khi, chính cái tên ấy là tài sản lớn nhất của một đời
người, nó là sợi dây kết nối, tìm về gốc rễ, nguồn cội của mình.
Sau ngày đoàn tụ, hai gia đình vẫn giữ liên lạc. Câu chuyện tưởng
đã khép lại, nhưng những người trong cuộc vẫn tìm đến nhau. Bà Thí ở Quảng Trị
và bà Nga ở Nghệ An, hai người phụ nữ đứng ở hai phía của một câu chuyện tình
dang dở bởi chiến tranh. Giờ đây họ ngồi cạnh nhau, nói về những đứa con, về
người đàn ông mà cuộc đời đã đưa họ gặp ở hai thời điểm khác nhau. Không ai muốn
nhắc lại những gì đã mất, bởi những gì mất đi không thể lấy lại. Nhưng có những
thứ có thể được chữa lành bằng một cái nắm tay, một nụ cười, một lời cảm ơn và
một người con hiếu thảo đã trở về. Nhiều năm sau, khi nhắc về những ngày gian
nan, ông Quốc không kể nhiều về những đêm ngủ ở bến xe. Ông cũng không nói nhiều
về những bữa ăn vội, không kể những lần đi đến một nơi nào đó rồi lại trở về với
hai bàn tay trắng. Ông thường nói khi có ai đó nhắc lại chuyện cũ: “Nếu ngày ấy
tôi bỏ cuộc, chắc tôi sẽ không bao giờ biết mình là ai...”. Có lẽ đó là điều
đáng sợ nhất của một cuộc đời con người không biết cội nguồn mình nơi đâu để
tìm về.
Chiều, ánh nắng cứ mải miết đổ vàng trên hàng cây trước cổng.
Ông Quốc cầm chiếc đồng hồ vuốt ve hồi lâu rồi đặt lên bàn. Nó nằm im, mặt kính
xước, thân cũ kỹ và dường như không còn đo được thời gian. Ông Quốc nhìn nó rất
lâu và nói: “Tôi giữ không phải vì chiếc đồng hồ mà vì nó là kỷ vật quý giá đã
đưa tôi tìm về với cha…”. Bây giờ tuy chiếc đồng hồ không còn chạy nữa nhưng với
ông Quốc, nó lại giữ thời gian tốt hơn bất cứ chiếc đồng hồ nào. Bởi chiếc
Poljot ấy giữ một trận chiến ở Cam Lộ với hình bóng một người phụ nữ tên Thí có
cuộc tình không trọn vẹn. Giữ một đứa trẻ lớn lên bằng một cái tên khác ngoài ý
muốn và giữ cả tiếng gọi “cha ơi” đã chờ suốt hơn ba mươi năm mới được cất lên
đúng nơi.
Ngoài sân, nắng cuối ngày vẫn rơi chậm rãi. Tôi nhìn ông Lương
Trung Quốc, một người con đầy trách nhiệm, hiếu thảo và chợt nghĩ về những con
đường mà ông đã đi qua nhiều khó khăn, gian khổ trong cuộc tìm cha. Nhưng dù vất
vả, gian lao đến mấy ông cũng đã vượt qua và tìm được cái tên mà cha mình đã để
lại trước khi chiến tranh chia hai người về hai phía. Có lẽ chiến tranh là thứ
có thể phá tan mọi thứ, xé đôi những gia đình, làm những con người thất lạc
nhau giữa những năm tháng vô tận. Nó có thể lấy đi tuổi thơ của một đứa trẻ, lấy
đi những ngày một người cha được nhìn con mình lớn lên. Nhưng chiến tranh không
thể lấy đi con đường “máu thịt” tìm về nguồn cội.
Hơn ba mươi năm đằng đẵng đi tìm cha trong muôn vàn gian khó.
Nhưng đến cuối cuộc hành trình ông Lương Trung Quốc nhận ra mình đã tìm được
nhiều hơn thế. Ông tìm được một người cha, tìm được dòng họ, tìm lại một cái
tên còn trống trong giấy khai sinh và cũng đã tìm thấy chính mình. Tìm được cả
tấm chân tình của những người xung quanh, tình yêu và trách nhiệm của chính quyền
từ những nơi mà ông đi qua. Và từ hôm nay, cuộc đời có đưa ông đi đến đâu chăng
nữa ông cũng không còn phải hỏi: Cha con là ai? Bởi câu trả lời đã ở ngay trong
cái tên ông mang trong giấy khai sinh - Lương Trung Quốc.
T.Đ
