Kỳ I: Tìm cha như mò kim đáy bể
Ngồi trước mặt chúng tôi là người đàn ông đã ngoài 50 tuổi, nhưng mỗi khi ai đó nhắc đến chuyện tìm cha, đôi mắt ông lại đỏ hoe. Bằng chất giọng mộc mạc của người Quảng Trị, ông kể: “Tui đi tìm cha cũng là đi tìm chính tui”. Câu nói ấy nghe có vẻ ngắn ngủi, nhưng phía sau nó là một hành trình hơn nửa đời người. Và hành trình đó của ông Lương Trung Quốc đưa chúng tôi ngược về năm 1973, giữa những ngày chiến tranh tàn khốc trên vùng đất Quảng Trị.
Cái tên Trung Kỳ ghi đằng sau bức ảnh là Trung úy Lương Trung Kỳ (trú tại bản Chao, xã Diên Lãm, nay là xã Hùng Chân, tỉnh Nghệ An). Ngày ấy, ông Kỳ thuộc Cục Hậu cần B5, bị lạc đơn vị sau một trận chiến đấu. Ở nơi địa hình hiểm trở, cây cối thấp lại còn thưa thớt. Để tránh rơi vào tay địch, ban ngày ông ép sát người xuống một lùm cây cao quá đầu người. Mỗi khi nghe tiếng động lạo xạo hay tiếng quân địch vọng lại, ông nín thở, nghe ngóng mặc côn trùng bò cắn khắp người. Chờ khi đêm xuống, ông nhấp nhổm quan sát mọi thứ xung quanh rồi mới dám nhích từng đoạn. Nước uống là những giọt sương đọng trên lá, thức ăn là những cỏ cây có thể ăn được để cầm hơi. Sau nhiều ngày đói khát, cơ thể kiệt quệ, nhưng bản năng sinh tồn và cuộc chiến còn dài buộc người lính phải bước tiếp. Dần dần, ông tiếp cận được vào khu vực nhà dân. Một đêm, ông đến căn nhà nhỏ nằm ven khu dân cư thưa thớt xin trú nhờ. Chủ nhà là bà Trần Thị Thí, người phụ nữ vừa làm nghề thợ may vừa công tác bí mật tiếp tế cho bộ đội.
Bà Trần Thị Thí kể: “Khi trời vừa tối mịt, tui đang chăm chú vào đường may thì giật thột vì trước mặt là người đàn ông quần áo rách bươm, lấm lem bùn đất, đôi mắt trũng sâu vì nhiều ngày mất ngủ… Bị bất ngờ chưa kịp định thần thì nghe ông thều thào: Tôi là bộ đội lạc đơn vị, cho tôi xin được trú nhờ...”.
Sau vài hôm được bà Thí chăm sóc, ông Kỳ phục hồi sức khỏe, nhưng hai người rất ít hỏi về nhau, chỉ cảm nhận, quan tâm nhau qua ánh mắt, hành động mỗi khi người kia bước ra khỏi nhà hay bát cháo nóng được dành phần tươm tất trong mỗi bữa ăn. Có lần khi đã gần nhau hơn, bà Thí mới hỏi ông Kỳ: “Rứa chừng mô anh về?” Ông Kỳ lặng im thật lâu rồi đáp lời: “Đánh xong giặc anh về”…
Có lẽ chiến tranh bom đạn làm cho con người hiểu và thương yêu nhau rất khác. Cả thời gian và những thứ xung quanh. Không cần lời tỏ tình dài dòng, hoa mỹ, không cần những ước mơ về gia đình, mà chỉ dành cho nhau sự bình yên. Họ ở bên nhau, cùng nghĩ về tương lai khi đất nước hòa bình. Cứ thế, thời gian trôi đi chóng vánh, sau hơn ba tuần dò la, ông Kỳ kết nối thông tin rồi trở về đơn vị. Ngày ông xếp lại ba lô để lên đường, bà Thí lấy trong rương gỗ ra một chiếc đồng hồ Poljot, một chiếc radio bọc da, một chiếc màn tuyn mà bà tỉ mẩn may thêm một đường viền chỉ đỏ quanh mép: “Tui không có chi quý, anh cầm lấy những kỷ vật này để làm kỷ niệm”. Ông Kỳ đứng lặng người nhìn bà thật lâu rồi lấy tấm ảnh chân dung nhỏ cất trong ví từ ngày đầu nhập ngũ, lật phía sau nắn nót ghi hai chữ Trung Kỳ. Viết xong ông đem đến đặt vào tay bà Thí rồi dặn: “Nếu có con trai thì đặt tên Lương Trung Quốc, còn con gái thì đặt tên Huế hoặc Thương…”.
Ông Kỳ trở về đơn vị, chiến tranh cuốn ông đi qua những mặt trận khác. Ngày hòa bình lập lại, ông trở về quê mang theo những vết thương đã lành theo năm tháng mà không hề hay biết, giữa những ngày tháng tàn khốc nhất của chiến tranh ở chảo lửa Quảng Trị, bà Thí đã mang trong mình cốt nhục của ông. Từng ngày dưới mưa bom bão đạn, vừa tiếp tế cho bộ đội vừa nuôi dưỡng một tình yêu lớn dần mà bà Thí dành cho ông. Để rồi khi giữa tiếng đạn bom là tiếng khóc của một bé trai và giữ đúng lời dặn đặt tên là Lương Trung Quốc.

Thời gian thấm thoát trôi nhanh, năm ông Quốc lên bảy tuổi thì cũng là lúc chiến tranh biên giới Việt - Trung diễn ra. Cái tên “Trung Quốc” trở thành lý do để nhiều người trêu chọc. Sợ con bị tổn thương, bà Thí quyết định đổi tên từ Lương Trung Quốc thành Trần Hiệp. Bà Thí tâm tình: “Khi biết mình bị đổi tên, thằng Quốc cứ lẽo đẽo theo tui gặng hỏi, vì răng lại đổi tên con. Bao nhiêu lần con hỏi thì bấy nhiêu lần tui trả lời là cái tên cũ khó nuôi, từ đó thằng Quốc không còn hỏi nữa”. Ông Quốc ngồi kế bên tiếp lời: “Ngày ấy sau khi đổi tên, cứ mỗi lần lên lớp cô giáo điểm danh tên Trần Hiệp thì tui cứ nhìn ngơ ngác và đợi khi cô giáo nhắc tên Quốc thì mới trả lời. Về sau lớn dần tui hiểu chuyện mẹ đổi tên mình để đỡ bị người đời trêu chọc, tui càng thương mẹ nhiều hơn và thôi thúc đi tìm cha”.
Học hết phổ thông, ông Quốc quyết định nghỉ học đi làm để phụ giúp gia đình, một phần tích cóp, dành dụm thực hiện hành trình tìm cha. Ông Quốc còn nhớ rõ, sau bữa cơm chiều mùa hè năm 1995, trời gió nam nóng như quạt lửa vào người, hai mẹ con ngồi nói chuyện gia đình, đồng áng, nhân đó ông mở lời: “Mạ, vài hôm nữa con sẽ đi tìm cha”. Đang chuyện trò rôm rả, bà Thí ngồi lặng im rất lâu rồi đưa tay quệt đôi mắt ướt đẫm và khẽ khàng nói: “Nếu tìm được cha còn sống thì con đưa cha về ở cùng…”. Một câu nói ngắn gọn đến nao lòng. Nhưng theo ông Quốc nó như một sự hà hơi, tiếp thêm sức mạnh, ý chí cho ông bắt đầu cuộc hành trình dẫu biết rằng phía trước còn muôn vàn khó khăn như mò kim đáy bể. Bởi không một dòng địa chỉ, không số điện thoại, không một địa danh nào cụ thể, chỉ biết hai chữ Trung Kỳ, quê ở miền tây Nghệ An.
Hành trang mang theo chuyến đi chỉ có vài bộ quần áo, một túi gạo rang, ít tiền dành dụm sau nhiều năm làm thuê cùng tấm ảnh đã ngả màu của người cha chưa từng gặp mặt. Khi xe vừa cập bến thành phố Vinh - Nghệ An, ông Quốc liền thuê người chạy xe ôm tìm đến những cơ quan cựu chiến binh, quân đội… để dò hỏi tin tức. Nhưng hết cơ quan này đến đơn vị khác, hết người này sang người kia đều lắc đầu không biết. Và cứ mỗi lần nghe một tiếng “không biết”, ông lại lặng lẽ cất tấm ảnh vào túi áo. Ngày nối ngày, đi khắp đường cùng ngõ hẻm không tìm thấy thông tin nào khả dĩ, ông đành lặng lẽ quay về.
Năm 1997, ông Quốc quyết định lên đường lần hai. Lần này, ông mang tấm ảnh của cha đi phục chế, rồi in thành hàng chục bản phóng to. Từ phòng Lao động - Thương binh và xã hội, Hội Cựu chiến binh, đến các xã vùng cao, nơi nào đặt chân đến ông cũng gửi lại một tấm ảnh kèm địa chỉ cần liên lạc. Nhưng tin tức về cha đều bặt vô âm tín, ông Quốc lại ngậm ngùi trở về. Điều kỳ lạ là sau mỗi lần thất vọng, ý nghĩ từ bỏ chưa bao giờ xuất hiện trong ông.
Năm 2005, sau thời gian dài làm lụng đủ nghề, ông gom góp được mười hai triệu đồng và vay thêm người thân hai mươi triệu. Ba mươi hai triệu đồng là cả gia tài của một người làm thuê, vác mướn. Ông gói số tiền ấy vào túi nylon rồi may kín ở phía trong chiếc áo và tiếp tục lên đường.
Lần này, ông Quốc quyết tâm phải đi hết vùng miền tây Nghệ An. Sau hai mươi bảy ngày rong ruổi, bước chân tìm cha đưa ông đến vùng Cà Vạt, xã Nam Sơn, huyện Quỳ Hợp (nay là xã Mường Chọng, tỉnh Nghệ An). Một cán bộ xã hướng dẫn ông tìm đến gia đình liệt sĩ Lương Văn Kỳ xa hun hút phía rừng già. Đường đi quanh co như sợi chỉ vắt qua núi đồi. Hay tin, cụ bà, người chị ruột duy nhất còn sống của liệt sĩ Lương Văn Kỳ ra tận cổng đón ông như đón người thân xa nhà lâu ngày trở về. Hôm ấy, mâm cơm chiều được dọn ra tươm tất, mọi người quây quần bên nhau nói cười, hỏi han nhiều điều về miền đất Quảng Trị. Nhưng sâu thẳm trong lòng ông vẫn thấy thắc thỏm thông tin về liệt sĩ Lương Văn Kỳ.
Đêm xuống, mọi người đã chìm sâu vào giấc ngủ, nhưng ông Quốc không tài nào chợp mắt được bởi những con số cứ hiện lên trong đầu. Liệt sĩ Lương Văn Kỳ hy sinh năm 1972, trong khi cha mẹ gặp nhau năm 1973 và ông được sinh ra năm 1974… Ông Quốc tự nhủ với lòng mình không thể nhận bừa nếu chỉ vì khao khát được có cha sẽ vô tình mang đến cho gia đình liệt sĩ Lương Văn Kỳ một niềm vui không thật. Và niềm vui ấy khi sự thật phơi bày sẽ đau thêm một lần nữa… Vậy là sáng hôm sau, khi sương còn phủ trắng lối vào bản, ông lặng lẽ thắp một nén hương lên bàn thờ liệt sĩ, xin lỗi gia đình rồi tiếp tục lên đường.
Ba mươi ngày rong ruổi mà không một chút thông tin nào về cha, hy vọng ngày một cạn dần nhưng khao khát được có cha đã thôi thúc ông bước tiếp.
Buổi sáng ngày thứ ba mươi mốt, ông có mặt tại trụ sở Ủy ban nhân dân huyện Quỳ Châu. Tấm ảnh cũ lại được đặt lên bàn. Một cán bộ từ cửa bước vào chăm chú nhìn rất lâu rồi nói chắc nịch với ông Quốc: “Trong danh sách “sổ vàng” có người mang tên Lương Trung Kỳ”. Nói xong ông với lấy cuốn sổ rồi lật giở từng trang dò tìm và cái tên Lương Trung Kỳ hiển hiện với ghi chú địa chỉ bản Chao, xã Diên Lãm, từng chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị. Ông Quốc kể rằng, khi vừa nhìn thấy cái tên và địa chỉ, tai ông như ù đi, không còn nghe rõ những âm thanh xung quanh, chỉ thấy tim đập rất mạnh…
Biết tìm được cái tên trùng khớp, một vị lãnh đạo huyện gọi người cán bộ lại rồi trao đổi bằng tiếng Thái, ông Quốc ngồi nghe chẳng hiểu gì. Chỉ khi cuộc trao đổi gần kết thúc, hai người nói với nhau một câu bằng tiếng Kinh mà đến bây giờ mỗi khi nhắc lại ông vẫn thấy rưng rưng: “Giống nhau như hai giọt nước”.
T.Đ
(Kỳ II: Khoảng trống trong giấy khai sinh được lấp đầy)
