☰
Giới thiệu▼
Tin tứcSự kiện & Đối thoại
Sáng Tác▼
Nghệ thuật▼
Lý luận & Phê bìnhNgười & Đất quê hương
MultiMedia▼
Tùy chọn thống kê

Mặc định website đo tổng lượt xem và có thể ước tính nhóm độc giả bằng bộ đếm lưu trên trình duyệt; máy chủ chỉ nhận số tổng hợp. Với tài khoản đăng nhập, hệ thống thống kê số ngày và lượt truy cập theo tài khoản nhằm đánh giá mức độ gắn bó, không lưu IP hay lịch sử bài đọc trong bảng thống kê thành viên. Google Analytics không tự bật. Nếu chọn Đồng ý đo nâng cao, hệ thống có thể dùng mã trình duyệt để thống kê độc giả mới/quay lại/trung thành, và bật Google Analytics.

Bạn có thể thay đổi lựa chọn bất cứ lúc nào. Phiên đăng nhập và nhật ký kỹ thuật máy chủ được quản lý riêng với thống kê này.

Zalo

Ngày trở về

VĂN XƯƠNG    21/10/2026    149
Tùng về đến bờ sông Thạch Hãn khi mặt trời đã khuất sau dãy Mai Lĩnh. Bóng chiều xuống chậm. Một lớp sương mỏng phủ trên mặt sông. Những đám mây cuối trời còn ánh hồng rồi nhòa dần. Mấy khóm lục bình tím dập dờn theo dòng nước. Gió từ sông thổi lên, lay mái tóc đã pha sương của Tùng.


Anh đứng rất lâu bên bờ.

Hương ơi! Anh lại về với sông quê, về với bến cũ. Bao nhiêu lần rồi, anh không còn nhớ nữa. Chỉ biết mỗi lần trở về, trong anh lại đầy thêm một nỗi chờ mong.

Đất nước thống nhất đã hơn bốn mươi năm. Một quãng thời gian đủ dài để bao nhiêu người thay đổi cuộc đời, để những đứa trẻ ngày nào trở thành ông, thành bà. Vậy mà anh và em vẫn còn cách nhau biền biệt.

Tùng nhìn dòng nước trước mặt. Trong tiếng sóng xao xác, anh tưởng như nghe lại lời Hương năm nào:

“Em sẽ chờ anh ngày chiến thắng. Ngày ấy, em đi bộ chưa đầy một cây số là tới đây thôi. Chỉ sợ anh chê con gái Quảng Trị đen đúa, xấu xí…”.

Tùng khẽ cười. Nụ cười vừa chạm tới môi đã tắt.

Hương ơi! Em ở đâu?

Anh đã đi qua bao năm tháng để tìm em.

Và rồi ký ức đưa anh trở lại đêm ấy…

Đêm ấy, cũng ở bến sông này, Tùng và Hương ngồi bên nhau trong bóng tối.

Mười mấy ngày ở gần nhau, đi qua những giờ phút hiểm nguy, vậy mà hai người vẫn chưa một lần nhìn rõ mặt nhau. Đêm tối đặc quánh. Tùng chỉ nhận ra Hương qua giọng nói, qua tiếng bước chân, qua bàn tay đã nhiều lần chuyền cho anh những thứ cần thiết.

Anh vẫn ao ước một tia sáng, dù chỉ là ánh chớp từ phía xa hay một quầng hỏa châu bất chợt xé ngang bầu trời, để được nhìn thấy khuôn mặt cô.

Tùng trao cho Hương chiếc bi đông.

- Em giữ lấy. Làm kỷ niệm.

Hương cầm lấy, khẽ hỏi:

- Mai mốt anh về, anh có còn nhớ em không?

Tùng chưa kịp trả lời thì từ phía con đường ven sông vọng lại tiếng chân người. Rào rạo. Ngày một gần.

Hương giật mình.

- Anh đi đi!

Cô nắm lấy tay Tùng, đẩy anh xuống mép nước rồi lao dọc theo bờ sông về phía hạ nguồn.

- Hương!

Tùng vừa ngoi lên thì nghe tiếng chân bọn lính chạy rầm rập phía sau Hương. Chiếc bi đông va vào thân cây ven bờ, phát ra những tiếng “bong… bong…” trong đêm.

Tiếng quát tháo nổi lên:

- Đứng lại!

Rồi tiếng súng.

Tùng lặn xuống, nép dưới những bụi lục bình. Ánh đèn pin loang loáng quét dọc bờ sông. Những loạt đạn AR-15 chát chúa xé màn đêm.

Anh nín thở. 

Tiếng chân đuổi theo Hương xa dần về phía hạ nguồn.

Tùng không biết mình đã ngâm dưới nước bao lâu. Chỉ đến khi tiếng súng thưa hẳn, anh mới dám ngoi lên. Anh nằm dưới những khóm lục bình, lẩm nhẩm gọi tên Hương trong tiếng nước vỗ bờ.

* * *


Minh họa: Lê Trí Dũng
Minh họa: Lê Trí Dũng

Tổ ba người do Tùng làm tổ trưởng vừa hoàn thành nhiệm vụ trinh sát khu quân sự Thành Cổ để chuẩn bị cho một trận đánh lớn thì bất ngờ gặp địch. Ba anh em vừa chiến đấu vừa hướng ra phía bờ sông.

Tùng không biết Thạch và Nam đã sang được bên kia sông hay chưa. Anh chỉ biết mình phải rút.

Phía sau, tiếng súng vẫn dồn dập. Những tiếng hò hét, tiếng chân chạy huỳnh huỵch mỗi lúc một gần. Tùng cố bò qua những bụi lau ven đường. Vết thương bên mông trái nóng rát, rồi tê dần. Bàn tay anh ướt đẫm máu. Anh nghiến răng, tiếp tục trườn.

Qua một khoảng cỏ lau, một ao nước phủ đầy lục bình hiện ra trước mặt. Tùng bám vào những thân cây, cố vượt qua. Rồi đến một hàng rào ken kín dứa tàu. Anh dùng hai tay tách từng nhánh cây, người cứ thế lết đi.

Phía trước là một khu vườn. Tùng vừa bò được thêm vài bước thì mắt tối sầm. Anh đổ xuống. 

Không biết bao lâu sau, Tùng tỉnh lại. Một quầng sáng nhỏ lay động trước mặt. Anh nghe tiếng thở của ai đó ngay bên cạnh. Cố mở mắt, anh chỉ nhìn thấy một người phụ nữ trong bóng tối.

Tùng định ngồi dậy nhưng một bàn tay đặt nhẹ lên ngực anh.

- Con cứ nằm nghỉ cho khỏe!

Giọng nói nhỏ nhẹ.

- Tôi… đang ở đâu?

- Nhà mạ. Con bị thương, máu ra nhiều quá. Mạ đắp thuốc, băng lại rồi. Cũng may vết thương chỉ ở phần mềm.

Người phụ nữ đưa cho anh một vật.

- Nhờ cái ni nữa.

Tùng đưa tay đón lấy. Chiếc bi đông. Anh sững lại. Hai lỗ đạn xuyên qua thân bi đông. Tùng nhìn nó hồi lâu. Những hình ảnh đêm qua lần lượt trở về: tiếng súng, tiếng chân người, dòng sông… Anh khép mắt.

- Cảm ơn mẹ đã cứu con.

- Thôi, con ăn cháo, uống thuốc rồi nằm nghỉ. Mạ phải lên trên. Ở dưới ni lâu không được. Bọn chúng đang tuần tra, lùng sục dữ lắm.

Lúc ấy anh mới hiểu: mình đang ở trong một căn hầm. Một căn hầm bí mật. Còn người vừa cứu mạng anh, anh vẫn chưa biết tên.

Căn hầm nằm ngay dưới gian bếp nhà Hương. Cửa hầm được che bằng một tấm sắt, phía trên đặt xoong nồi rồi phủ một lớp tro. Nhìn từ bên ngoài, không ai nghĩ dưới nền bếp lại có một khoảng đất đủ cho một người trú ẩn.

Bà Thanh đã từng đào nhiều căn hầm như thế. Những năm tố cộng, bà từng nuôi giấu cán bộ trong nhà. Có căn nằm ngoài khuôn viên, có căn bị mưa lũ làm sập. Chỉ căn hầm dưới bếp là bà vẫn giữ lại, sửa sang từng chút một. Người trong vùng gọi bà bằng cái tên vừa nể phục vừa trìu mến: “Đảng viên đậy nắp hầm”.

Tùng nằm trong căn hầm chật hẹp, ẩm thấp. Ngày nối ngày, anh chỉ nghe những tiếng động vọng từ phía trên: tiếng người, tiếng mở cửa, tiếng xe chạy ngoài đường. Vết thương tấy lên, nhức buốt. Anh cố chịu, nhưng có lúc mồ hôi vã ra vì đau.

Điều làm Tùng khó xử nhất lại là những sinh hoạt nhỏ nhặt của một người đang bị thương. Căn hầm vừa chật vừa bí, mọi thứ đều bất tiện. Anh ngại ngùng, chỉ mong sao vết thương chóng lành để có thể rời khỏi nơi này.

Một lần, bà Thanh mang cơm xuống. Nhìn vẻ mặt Tùng, bà hiểu.

- Con cố chịu. Đừng ngại chi hết.

- Mẹ à… Con ở đây nguy hiểm cho mẹ quá. Mẹ có cách nào đưa con ra khỏi đây không?

Bà Thanh ngồi xuống bên cạnh.

- Mạ đã tính rồi. Vết thương của con chưa lành. Mấy bữa ni bọn địa phương quân sục sạo dữ lắm. Chúng nghi vẫn còn bộ đội ta ẩn náu quanh đây.

Bà ngừng một lát rồi nói:

- Tối mai con lên nhà ngủ.

Tùng giật mình.

- Lên nhà?

- Ừ. Từ mười giờ đêm đến bốn giờ sáng. Ban ngày phải xuống đây. Trên nhà dễ thở hơn, dễ chăm sóc vết thương.

Tùng lắc đầu.

- Nhưng nếu chúng nó vào kiểm tra?

- Mạ biết.

Bà Thanh nhìn vào mắt anh.

- Mạ tính rồi.

* * *

Đêm đầu tiên, Hương từ bệnh viện tỉnh trở về sau khi chăm sóc một người bà con. Bà Thanh nói rất lâu với con gái. Hương mới biết trong căn hầm dưới gian bếp nhà mình đang có một người lính bị thương.

Ngày hôm sau, bà Thanh gọi cô, nói nhỏ:

- Tình hình ni không thể để anh Tùng nằm dưới hầm mãi. Vết thương chưa lành, ở dưới đó vừa bí vừa ẩm dễ bị nhiễm trùng. Tối ni con ngủ chung với anh ấy.

Hương mở to mắt.

- Mạ!

- Mạ biết bây mắc cỡ. Ngày trước hồi tố cộng, cán bộ mình ở dưới hầm bí mật với nhau có khi hàng tháng trời chỉ một nam, một nữ mà có răng mô, huống hồ chi ở nhà mình…

Hương cúi mặt.

Bà Thanh dịu giọng:

- Anh Tùng là đồng đội của ba con. Mạ coi như con trong nhà. Mạ nói con biết để khi bọn chúng đến lùng sục thì… rứa, rứa nghe.

Hương không nói nữa.

Đêm xuống. Chiếc giường trong buồng không rộng. Bà Thanh trải một chiếc chăn mỏng ở giữa.

- Rứa nghe. Hai đứa cứ nằm yên. Có chi thì để mạ lo.

Bà khép cửa. Hương và Tùng nằm hai phía. Cả hai đều quay mặt ra ngoài. Không ai nói một câu.

Ngoài kia, tiếng gió thổi qua hàng cây. Thỉnh thoảng có tiếng xe chạy xa xa, rồi tiếng động vọng lại từ con đường ven sông.

Tùng nằm nghiêng về phía vết thương. Chỉ một cử động nhỏ cũng khiến anh đau nhói.

Hương nằm im.

Một lúc lâu, Tùng khẽ nói:

- Em ngủ đi.

- Em chưa buồn ngủ.

Lại im lặng.

Một lát sau, Hương hỏi:

- Anh quê ở mô?

- Anh ở…

Tùng nói tên quê mình. Hương khẽ “ừ”.

Tùng quay mặt sang phía Hương. Trong bóng tối, anh chỉ nhìn thấy một đường viền mờ của mái tóc.

Hương không hỏi nữa. Hai người lại nằm im.

Những đêm sau cũng vậy. Giữa họ vẫn là chiếc chăn mỏng. Rồi những câu chuyện ngắn ngủi bắt đầu nối nhau: Về quê. Về gia đình. Về những ngày sau chiến tranh.

Có đêm cả hai chẳng nói gì.

Một đêm, tiếng gõ cửa bất ngờ dồn dập.

- Mở cửa! Mở cửa mau!

Hương giật mình. Ngoài nhà, tiếng một người đàn ông quát:

- Mụ giấu Việt cộng ở mô? Khai ra mau!

Bà Thanh bình tĩnh đáp:

- Mấy ông mần chi mà dữ dằn rứa? Nhà tui có ai mô.

- Không nói nhiều. Kiểm tra!

Cửa buồng bật mở. Một luồng đèn pin quét thẳng vào giường. Hương đang mặc chiếc váy mỏng tanh, cũn cỡn. Cô vơ vội chiếc chăn kéo lên người, rồi hét lên:

- Mấy ông mần chi lạ rứa? Mạ ơi!

Người lính đứng khựng lại.

- Có ai khác trong nhà không?

- Có một mình tui với mạ. Mấy ông kiểm tra cả ngày chưa đủ hay răng?

Tên lính soi đèn quanh căn buồng. Tùng nằm dưới gầm giường, nín thở. Ánh đèn pin lướt qua mép giường. Dừng lại. Tùng nghe rõ tiếng tim mình đập. Hương ngồi bất động.

Bà Thanh từ ngoài bước vào:

- Nhà tui mạ góa con côi. Mấy ông cứ lục soát ri hoài, tui kêu hàng xóm tới coi.

Tên chỉ huy hầm hừ:

- Mụ liệu cái hồn.

Hắn quay ra. Những tiếng chân nặng nề xa dần. 

Cửa đóng lại. Hương vẫn ngồi im. Tùng cũng không nhúc nhích. Chỉ đến khi nghe tiếng bà Thanh khóa cửa, cả hai mới dám thở.

Bà Thanh ghé sát xuống:

- Nằm yên đó. Chúng có thể quay lại.

Bà đi ra. Trong bóng tối, Tùng khẽ nói:

- Em có sợ không?

Một lúc sau Hương mới trả lời:

- Có.

- Vậy sao em vẫn bình tĩnh được?

- Vì nếu em sợ quá thì sẽ bị lộ.

Tùng không nói được gì. Ngoài kia, tiếng chân của bọn lính đã khuất hẳn. Anh nằm dưới gầm giường, mắt nhìn lên khoảng tối giữa những thanh giường. Lần đầu tiên Tùng hiểu rằng cô gái mình vừa gặp chưa lâu đã đem mạng sống của cô đặt giữa anh và kẻ thù.

Đêm cuối trước ngày Tùng trở lại hậu cứ, căn buồng vẫn tối như những đêm trước. Chiếc chăn mỏng vẫn nằm giữa hai người. Nhưng lần này Hương không quay lưng lại. Tùng cũng vậy. Bàn tay họ lần tìm nhau trong bóng tối. Không ai nói gì. Hai bàn tay nắm lấy nhau.

Ngoài kia, dòng Thạch Hãn vẫn chảy.

* * *

Mặt trời đã khuất sau dãy Mai Lĩnh. Dòng Thạch Hãn vẫn chảy trước mặt Tùng. Anh lấy từ túi áo ra tờ giấy đã gấp làm tư. Những dòng chữ anh đã đọc đến thuộc lòng.

“Kính gửi gia đình liệt sĩ Nguyễn Phan Tùng…”.

Tùng đọc lại. Rồi lại đọc.

Anh không hiểu vì sao người ta lại gửi tin ấy cho mình. Hay đúng hơn, anh linh cảm rằng trong tờ giấy này có một điều gì đó liên quan đến Thạch và Nam. Hơn bốn mươi năm trước, trong đêm rút lui khỏi Thành Cổ, anh là người ở lại sau cùng để cầm chân địch. Thạch và Nam đi trước. Sau đó tiếng súng, tiếng nước, rồi tất cả chìm vào bóng tối.

Anh sống. Còn hai người bạn của anh thì không trở về. Tùng đã nhiều lần nghĩ đến ngày tìm được hài cốt của họ. Nhưng lần này, khi nhìn thấy tờ giấy báo tin, trong lòng anh dấy lên một nỗi bất an.

Anh lần theo địa chỉ. Dọc bờ sông, một tuyến kè mới đang được xây dựng. Những chiếc máy xúc, xe chở đất nằm bên bờ. Xa hơn là những căn lán của đội thi công.

Tùng dừng lại trước một căn lán. Trên tấm biển có dòng chữ: “Đội thi công số 2”. Anh bước vào. Một người đàn ông khoảng năm mươi tuổi đứng dậy, hồ hởi bắt tay:

- Chào anh! Tôi là Hùng, người gửi giấy báo tin này.

Tùng khẽ gật đầu.

- Cảm ơn anh.

Hùng nhìn anh:

- Xin hỏi anh và liệt sĩ Nguyễn Phan Tùng có quan hệ thế nào?

Tùng im lặng một lúc.

- Tôi chính là Tùng.

Người đàn ông trước mặt sững ra.

- Anh… là Tùng?

- Vâng.

Hùng đứng lặng.

- Trời ơi! Chúng tôi xin lỗi anh. Có lẽ đã có sự nhầm lẫn.

Tùng lắc đầu.

- Không sao. Tôi chỉ muốn biết các anh đã tìm thấy gì.

Hùng rót cho Tùng một chén nước.

- Chuyện là thế này. Đội chúng tôi được giao xây dựng đoạn kè từ Km 1+600 đến Km 2+550 để chống xói lở bờ hữu sông Thạch Hãn.

Tùng chăm chú nghe.

- Trong lúc đào đất, chúng tôi phát hiện một số mảnh hài cốt không còn nguyên vẹn. Cùng với đó là những di vật của bộ đội: súng AK, mũ cối, ba lô, dép cao su…

Hùng dừng lại.

- Và có một chiếc bi đông.

Tùng ngẩng phắt lên.

- Bi đông?

- Vâng.

Hùng nhìn anh rồi nói chậm hơn:

- Chiếc bi đông có bốn lỗ đạn.

Tùng khựng lại.

- Bốn lỗ?

- Vâng. Trên thân còn có dòng chữ khắc tên và địa chỉ.

- Tên ai?

Hùng đọc tên:

- Nguyễn Phan Tùng.

Tùng nắm chặt hai bàn tay. Hơn bốn mươi năm, chiếc bi đông ấy đã đi qua một cuộc chiến. Đã từng nằm trong tay anh. Đã từng được anh trao cho Hương đêm cuối cùng bên bến sông. Và bây giờ nó trở lại, cùng những mảnh hài cốt nằm dưới lòng đất bên dòng Thạch Hãn.

Tùng đứng bật dậy. Trước mắt anh tối sầm. Dòng sông ngoài kia như chao đảo. Tùng bước lảo đảo ra cửa.

* * *

Đêm ấy, Tùng nằm mãi rồi thiếp đi lúc nào không hay. Trong giấc mơ, anh thấy mình đứng giữa dòng Thạch Hãn. Nước chảy xiết. Những khóm lục bình tím trôi ngang trước mặt. Có tiếng gọi từ phía trước:

- Tùng!

Anh ngước nhìn. Thạch và Nam. Vẫn những khuôn mặt ngày nào. Vẫn hai nụ cười quen thuộc. Tùng bước về phía họ.

- Chúng mày ở đâu?

Thạch không trả lời. Nam chỉ tay xuống dòng nước.

- Bọn tao ở đây.

Tùng nhìn xuống. Dòng sông sâu hun hút. Anh muốn bước xuống nhưng Thạch lắc đầu.

- Đừng.

Tùng nhìn hai người.

- Hương đâu?

Hai người nhìn nhau. Không ai trả lời. Chỉ có tiếng nước chảy. Tùng nghe một giọng rất khẽ từ dưới dòng sông:

- Em chờ…

Anh lao xuống nước.

- Hương!

Mặt sông bỗng dậy sóng. Tùng vùng vẫy. Rồi tất cả chìm vào bóng tối.

* * *

Tùng tỉnh dậy khi trời vừa sáng. Anh đi ra bờ sông. Tùng đứng rất lâu. Rồi anh cúi xuống, lấy một nắm đất bên bờ sông đặt vào lòng bàn tay.

- Thạch, Nam - Anh gọi.

Một lúc sau, anh nói:

- Hương…

Gió từ phía thượng nguồn thổi xuống. Tùng nhắm mắt. Hơn bốn mươi năm rồi. Anh đã trở về. Nhưng những người anh muốn gặp nhất vẫn còn ở lại dưới dòng sông này.

Tùng quay nhìn về phía những đoạn kè đang xây dựng. Anh thầm thì:

- Phải tìm được Thạch, Nam, Hương và những người đã nằm lại ở nơi này, đưa họ trở về với đất mẹ.

Anh bước xuống mép nước. Một khóm lục bình tím trôi ngang. Tùng đưa tay đón lấy. Rồi buông ra. Phía sau lưng anh, mặt trời bắt đầu lên.

Dòng Thạch Hãn vẫn chảy…

Những bông hoa vẫn dập dờn theo dòng nước.

 

                                          Quảng Trị, tháng 8/2026

                                                                                                 V.X