Cổ vật giá trị
Sắc phong là văn bản hành chính thời phong kiến, do nhà
vua ban bố nhằm phong chức tước cho quan lại, quý tộc, những người có công với
nước với dân, hoặc phong thần và xếp hạng cho các vị thần linh. Người xưa quan
niệm “sắc tại như thần tại”,
nghĩa là sắc ở đâu, thần linh ngự ở đó. Ở nước ta, loại văn bản này xuất hiện từ
thời Lê Sơ (thế kỷ XV) và kéo dài cho đến hết triều Nguyễn (1945). Suốt chiều
dài lịch sử đó, hầu như làng xã nào cũng từng được các triều đại phong kiến ban
tặng sắc phong. Mặc dù bị thất lạc đáng kể qua thời gian, số lượng sắc phong
còn lại đến nay vẫn khá lớn và luôn được trân trọng lưu giữ tại các không gian
tín ngưỡng cộng đồng.
Riêng đối với vùng đất Quảng Trị, do phải trải qua nhiều
cuộc chiến tranh ác liệt cùng sự tác động của thiên tai khắc nghiệt, số lượng sắc
phong còn bảo tồn được đến nay không nhiều. Phần lớn các đạo sắc phong được ban
lập dưới thời nhà Nguyễn. Trên thực tế, nhiều làng xã, dòng họ và gia đình vẫn đang
âm thầm cất giữ sắc phong nhưng chưa được kiểm kê đầy đủ, vì thế số lượng thực
tế có thể còn nhiều hơn.
Sắc phong ở Quảng Trị được chia thành hai loại chính. Loại
thứ nhất là sắc phong nhân vật, do nhà vua dùng để phong chức tước cho quan lại,
quý tộc hoặc người có công. Loại sắc này không còn nhiều và thường do các dòng
họ, gia đình cất giữ nên ít phổ biến ra bên ngoài. Loại thứ hai là sắc phong thần
ban cho các vị thần, bao gồm nhiên thần, thiên thần và nhân thần. Đây là tài sản
chung của cả cộng đồng nên thường được cất giữ tại đình, chùa, đền, miếu, nhà
thờ họ... Loại sắc phong này hiện còn được bảo tồn khá nhiều ở các làng xã
trong tỉnh.
Về hình thức, sắc phong thường được viết trên loại giấy
dó đặc chế thủ công - một chất liệu đặc biệt có khả năng chống mối mọt, ẩm mốc
và bền bỉ hàng trăm năm. Đạo sắc có hình chữ nhật, nền giấy màu vàng đồng hoặc
da thị, kích thước phổ biến dài khoảng 130 cm, rộng
50 cm. Mặt trước trang trí hoa văn “long ẩn vân” (rồng ẩn trong mây) thếp nhũ bạc
óng ánh, điểm xuyết xung quanh là hình các chấm tròn tượng trưng cho những vì
tinh tú. Bốn góc và chính giữa mép trên trang trí hoa văn chữ Thọ lồng trong
khung hình chữ nhật, kết hợp hoa văn hình chữ S và những áng mây mềm mại. Bên
phải là nội dung sắc phong viết bằng chữ Hán theo lối chữ chân phương rõ ràng,
dễ đọc. Bên trái là dòng lạc khoản ghi niên đại và dấu triện đỏ “Sắc mệnh chi bảo”
hoặc “Phong tặng chi bảo”.
Nội dung sắc phong thường súc tích, nhưng gói gọn đầy đủ
thông tin về địa danh nhận sắc, danh tính của vị thần, lý do thần được ban sắc
hoặc nâng cấp phẩm trật, trách nhiệm của thần đối với dân sở tại và trách nhiệm
của dân đối với thần. Cuối cùng là thời gian phong sắc, niên hiệu và quốc ấn của
triều đình. Cũng trong đạo sắc phong, nhà vua chuẩn nhận thần hiệu, công trạng
của vị thần, đồng thời chính thức cho phép địa phương được tôn thờ vị thần đó.
Từ sau năm 1945, khi triều đại phong kiến cuối cùng kết thúc,
nghi thức ban sắc của nhà vua đến các địa phương cũng chính thức khép lại. Tuy
nhiên, không phải vì thế mà sắc phong mất đi giá trị cũng như sứ mệnh. Sắc
phong vẫn được đánh giá là văn bản đặc biệt, và giá trị cốt lõi thì vẫn không
thay đổi từ khi được vua ban cho đến tận ngày nay.
Căn cước của làng
Đối với mỗi làng xã, sắc phong là nguồn tư liệu vừa quý
giá, vừa linh thiêng. Những vị thần và những nhân vật được nhà vua phong thần
đã trở thành chỗ dựa tinh thần, được nhân dân tôn kính phụng thờ. Đặc biệt,
niên đại chính xác ghi trên sắc phong là cơ sở khoa học đáng tin cậy để xác
minh lịch sử lập làng, tiến trình hình thành dân cư, dòng họ và quá trình khai
khẩn đất đai. Chính vì thế, sắc phong mang giá trị như một “tấm căn cước” độc bản
của làng. Sắc phong thuộc về làng nào thì tốt nhất nên để chính cộng đồng nơi
đó lưu giữ, bởi họ mới thực sự là chủ nhân của cổ vật, đúng như tâm thức dân
gian bao đời “trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ”.
Qua các đợt điền dã ở một số làng xã trên vùng đất Quảng
Trị, chúng tôi may mắn được tiếp cận những đạo sắc phong cổ và nhận thấy đây là
những cổ vật quý, vừa chứa đựng giá trị lịch sử, văn hóa, vừa mang ý nghĩa tâm
linh sâu sắc. Ở nhiều nơi, nếu chẳng may mất đi sắc phong, làng quê như mất đi linh
hồn và gốc rễ nguồn cội. Do đó, việc bảo vệ báu vật này luôn được xem là trách
nhiệm thiêng liêng truyền đời của cả cộng đồng.
Nằm bên bờ bắc sông Ô Lâu, làng Hà Lộc (xã Nam Hải Lăng)
là một ngôi làng cổ có lịch sử khai khẩn hơn 500 năm. Người làng luôn tự hào về
ngôi đình làng cổ kính linh thiêng, nơi đang lưu giữ 28 đạo sắc phong do các
vua Nguyễn ban tặng cùng nhiều tập địa bạ, khế ước. Coi sắc phong là bảo vật,
dân làng quyết tâm giữ gìn với tinh thần “làng còn thì sắc phong còn”. Trong
chiến tranh, đình làng Hà Lộc từng bị đốt phá nhiều lần, nhưng các đạo sắc vẫn
nguyên vẹn nhờ dân làng kịp thời di tản. Trước đây, sắc phong được luân phiên cất
giữ tại nhà những người trông nom đình. Mỗi mùa lũ lụt, sắc phong lại được thỉnh
đến vị trí cao nhất làng để tránh nước. Hiện nay, các đạo sắc đã được đưa về bảo
quản tôn nghiêm trong đình làng. Để tránh mối mọt, dân làng cẩn thận ép nhựa từng
đạo sắc, xếp gọn vào rương gỗ rồi khóa cẩn mật. Việc trông giữ báu vật này được
giao cho vị “thủ sắc” có uy tín và đạo đức trong sáng do dân làng tin tưởng bầu
chọn.
Tại làng Trung Yên (xã Triệu Bình), người dân cũng đang lưu giữ gần như nguyên vẹn 19 đạo sắc phong cổ, trong đó đạo sắc cổ nhất được ban vào năm 1826 dưới thời vua Minh Mạng. Trải qua hai thế kỷ, nét vàng son vẫn tươi nguyên trên nền giấy dó. Để ứng phó với thiên tai và nạn trộm cắp, các sắc phong sau khi ép nhựa được cuộn tròn, đặt trong tráp gỗ và treo lên mái đình. Chìa khóa tráp do các cụ cao niên quản lý nghiêm ngặt, chỉ được thỉnh xuống vào những dịp hệ trọng. Hằng năm, vào ngày rằm tháng Bảy âm lịch, làng tổ chức lễ giỗ chung các vị thần có công với làng tại đình làng. Người dân tập trung đông đủ để cử hành lễ giỗ cầu mong các vị thần phù hộ cho mưa thuận gió hòa, xóm làng an yên. Dịp này, các cụ cao niên sẽ thực hiện nghi lễ “khai sắc”, giảng giải cho con cháu hiểu về tính thiêng của sắc phong. Và chính sự trao truyền qua các thế hệ là cách giữ gìn sắc phong hiệu quả nhất.

Một ngôi làng khác còn lưu giữ nhiều đạo sắc phong vua
ban là làng Phù Kinh (xã Tân Gianh). Nằm bên bờ sông Gianh, ngôi làng cổ nổi tiếng
này sở hữu hệ thống đền, miếu thờ dày đặc cùng số lượng sắc phong thuộc hàng
nhiều nhất vùng. Đến nay, hậu thế của làng vẫn tự hào gìn giữ 18 đạo sắc phong
thời Nguyễn, từ niên hiệu Đồng Khánh năm Đinh Hợi (1887) đến năm Khải Định thứ
9 (1924). Riêng năm Giáp Tý (1924), vua Khải Định đã ban liền 7 đạo sắc cho các
bậc tiền hiền của làng. Trải qua mưa bom bão đạn và những trận lũ dữ, dân làng
Phù Kinh đã chuyền tay nhau giấu sắc phong trong nhà, chôn xuống đất, thậm chí
ôm rương sắc vượt lũ lên núi dựng lều lánh nạn. Dù từng có lúc rương sắc bị
trôi dạt trong trận lụt lịch sử năm 1980 nhưng may mắn được vớt lại, hay nhiều
đạo sắc bị hư hại nhuốm màu thời gian, người dân và chính quyền địa phương vẫn
trân trọng bảo quản kỹ càng tại phòng truyền thống của xã. Hiện nay, địa phương
đang mong muốn các cơ quan chuyên môn hỗ trợ tư vấn phục hồi, dịch thuật và số
hóa 18 đạo sắc phong này nhằm bảo tồn và lan tỏa giá trị di sản.
Câu chuyện bảo tồn sắc phong tại các làng quê Quảng Trị
cho chúng ta niềm tin rằng di sản này đang được trân trọng và tôn vinh. Bởi khi
giữ gìn được sắc phong, làng quê như giữ lại được linh hồn, để các vị thần tiếp
tục che chở, bao bọc con dân cho nhiều thế hệ được tiếp nối, phát triển bền vững.
Mỗi đạo sắc phong không chỉ là hiện vật có giá trị cao về khoa học, lịch sử,
văn hóa, mỹ thuật, mà còn là hiện vật linh thiêng trong đời sống tâm linh. Đặc
biệt, đối với một cộng đồng dân cư, sắc phong là nguồn sử liệu quý giá để tìm
hiểu, xác minh nguồn cội. Vì vậy, địa phương nào còn lưu giữ được sắc phong là
điều rất đáng trân trọng và ý nghĩa đối với các thế hệ mai sau.
N.T
