Năm lên 6 tuổi, ông đi chăn trâu ngoài đồng ruộng. Làng ông chỉ có công điền công thổ, nhà nào cũng gắng mua trâu kéo cày để làm hết ruộng công, những nhà quá khó khăn phải đi vay lúa để ăn rồi đến mùa trả nợ. Gia đình ông cũng nằm trong trường hợp trên như một số bà con khác.
Lúc 10 tuổi, ông bắt đầu đi học tại trường Thánh Mẫu Đông Hà, đây là ngôi trường của Thiên Chúa giáo nên không phải trả học phí. Lúc vào lớp học, ông đã lớn tuổi hơn các học sinh khác nên tỏ ra là một đứa trẻ cao lớn, sáng dạ. Trước khi vào học được cha kèm cặp ở nhà suốt mùa hè nên lúc đến trường được vào ngay lớp ba thời đó.
Quá trình học tập, ông là một học sinh xuất sắc. Rồi mấy năm sau Nhật đảo chính Pháp, ông phải bỏ học ở trường để về nhà đi học tại nhà riêng thầy Đoàn Đức Diệu ở làng Dương Lệ Đông, Triệu Phong. Năm đó Nhật tổ chức thi tiểu học tại Hải Lăng, ông đã học gần hết chương trình bậc tiểu học và chuẩn bị thi nhưng chưa kịp thì tổng khởi nghĩa, ông phải quay về nhà và gia nhập đoàn biểu tình tham gia phong trào giành lại chính quyền ở quê hương.
Cũng năm đó, tại địa phương đã xây dựng được ngôi trường tiểu học mới, ông tiếp tục vào học cho xong lớp nhất. Năm 1947 cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ trên toàn quốc, làng ông bị tạm chiếm; không còn được đi học trường Pháp, cha mẹ ông cùng với một số gia đình khác phải gửi con em ra vùng tự do Khu 4 để tiếp tục học tập tại Trường trung học Hương Khê, Hà Tĩnh.
Sinh ra và trưởng thành trên quê hương còn nhiều gian khó nhưng giàu truyền thống cách mạng, ông sớm được giáo dục, giác ngộ tinh thần yêu nước. Với lòng nhiệt huyết của tuổi trẻ, ông tích cực tham gia các phong trào đấu tranh chống giặc, góp phần vào sự nghiệp cách mạng tại địa phương.
Năm 1950, cuộc kháng chiến chống Pháp chuyển qua giai đoạn tổng phản công. Phong trào xếp bút nghiên lên đường ra trận dâng lên mạnh mẽ trong cả nước. Ông đã xung phong tòng quân vào quân đội ngày 1/7/1950 khi việc học đang còn dang dở.

Vào mặt trận Bình Trị Thiên, ông được tổ chức cho đi học lớp sĩ quan, nhưng ông từ chối. Ông trình bày với cấp trên là chỉ thích làm nghệ thuật, nên sau đó được bố trí về Đoàn kịch Bình Trị Thiên làm diễn viên. Từ đó, ông theo đoàn lưu diễn khắp ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên để phục vụ đồng bào, cán bộ và chiến sĩ từ rừng núi đến đồng bằng. Theo chân các chiến sĩ Trung đoàn 75, 101 và 18 qua các chiến dịch Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám ở khắp những chiến khu Hòa Mỹ, Ba Lòng, Tréo, Minh Cầm, Minh Lệ…
Năm 1953, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước sang giai đoạn phản công và giành thắng lợi. Các tỉnh biên giới phía Bắc: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hà Giang và Tuyên Quang được hoàn toàn giải phóng. Nối dài vùng tự do xuống Hòa Bình, Thanh Nghệ Tĩnh đến Bình Trị Thiên khói lửa. Lúc này, ông chuyển sang làm phóng viên nhiếp ảnh mặt trận Bình Trị Thiên và Trung Lào thì được lệnh đi học ngành Điện ảnh ở Liên Xô.
Một cơ hội vàng hiếm có, ông hết sức vui mừng sẽ được xuất ngoại nhưng lại buồn vì phải xa quê hương, bạn bè và đồng đội. Thế rồi "quân lệnh như sơn", ông phải mang ba lô lên đường ra Việt Bắc.
Cả thời gian rong ruổi trèo đèo, lội suối từ chiến khu Dương Hòa ra Hòa Mỹ, đến Ba Lòng, vượt Liên khu Ba Rền lần thứ hai (lần thứ nhất là năm 1948, lúc ông rời mái ấm gia đình ra Hương Khê, Hà Tĩnh học văn hóa ở Trường con em cán bộ Bình Trị Thiên). Gần hai tháng trời ông mới đến được Thái Nguyên, vào cơ quan Cục Tuyên huấn - Tổng cục Chính trị theo giấy triệu tập. Lúc ông đến nơi thì tổ cán bộ được cử đi học đã lên đường từ lâu, thế là phải ở lại đợi thời gian sau và theo lớp khác.
Trong lúc chờ đợi, ông Hồng Cư, Trưởng phòng tuyên truyền đưa ông về sinh hoạt ở đội chiếu bóng lưu động. Chỉ một thời gian ngắn, ông được hướng dẫn sử dụng máy chiếu phim và vận hành máy phát điện 1 kW của Liên Xô. Máy to cồng kềnh nên phải tháo thành 3 bộ phận cho 6 người khuân vác mới di chuyển được. Ông được học vận hành máy chiếu phim 16 ly, 35 ly và quan trọng là học thuyết minh phim.
Ông vừa học, vừa thực tập theo một đội chiếu bóng của Cục đi phục vụ bộ đội, dân công, tù binh và hàng binh người Pháp. Đang hoạt động được 6 tháng ở Việt Bắc thì chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu, ông phải chuẩn bị lên đường theo Sư đoàn 351 đến Điện Biên Phủ phục vụ bộ đội.
Một thời gian sau, ông cùng 15 chiến sĩ của Sư đoàn nhận máy chiếu, máy phát điện để về lại Bình Trị Thiên công tác. Nhưng lúc đoàn về đến Thanh Hóa thì Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết và hòa bình được lập lại ở Đông Dương.
Vậy là suốt ba tháng trời cả đoàn phải ở lại Thanh Hóa để phục vụ cho kế hoạch trao trả tù binh Pháp. Đến tháng 8 năm 1954 đoàn mới về đến Quảng Bình, Vĩnh Linh thì lúc này đã trở thành giới tuyến quân sự tạm thời và Đặc khu trực thuộc Trung ương.
Những lúc này ông được nhàn rỗi nhất trong công việc, ban đêm đi chiếu phim, ban ngày tranh thủ học thêm tiếng Pháp, tiếng Nga để thuyết minh phim cho dễ khớp. Nhưng thuyết minh thì đã có bản dịch của cơ quan phát hành phim đóng thành sách, chỉ cần nghe được vài từ là nói khớp được. Quan trọng nhất lúc đó có phong trào học tiếng Nga - là tiếng nói của Lênin, của cách mạng, nên rất nhiều cán bộ, chiến sĩ theo học rầm rộ. Nhờ vậy, ông đã học được, nghe được, dịch được tiếng Nga để sử dụng trong lúc học đạo diễn ở trường Đại học Sân khấu Liên Xô.
Quãng đời làm công tác chiếu bóng của ông đã có nhiều kỷ niệm đặc biệt, nhất là được gặp Bác Hồ trong mùa hè 1967, lúc Bác vào thăm Quảng Bình. Khoảng 8 giờ sáng, Bác nói chuyện với nhân dân tại sân vận động Đồng Hới, lúc này chưa có lưới điện thường xuyên để sử dụng loa phóng thanh rộng rãi nên tỉnh đã đề nghị Sư đoàn điều động máy phát điện và âm thanh của đội chiếu bóng đến nơi phục vụ.
Hôm đó, hàng vạn chiến sĩ và đồng bào có mặt kín sân vận động với niềm mong mỏi được gặp Bác, được nhìn thấy Bác và nghe Bác trò chuyện. Đó là khoảnh khắc hạnh phúc, thiêng liêng đối với mỗi người dân. Dù điều kiện âm thanh còn đơn sơ, chỉ có một chiếc micro và máy tăng âm của đội chiếu bóng, nhưng tất cả đều lặng yên, dõi theo và ghi nhớ từng lời của Bác. Buổi chiều, Bác ra nhà nghỉ Bàu Tró rồi tắm biển Nhật Lệ, Bác rất giản dị, mộc mạc như mọi người trong đời thường. Tối hôm đó, Bác cùng chung vui với Đoàn văn công Sư đoàn. Bác cho mỗi người một cái kẹo, ai cũng cất kỹ để về khoe với bạn bè, gia đình. Sáng hôm sau Bác ra sân bay Đồng Hới về Hà Nội.
Với sự nỗ lực phấn đấu của bản thân, sự tôi luyện trong thực tiễn và sự quan tâm bồi dưỡng của tổ chức, tháng 9/1958, khi vừa tròn 23 tuổi, Nguyễn Xuân Đàm vinh dự được đứng vào hàng ngũ Đảng Lao động Việt Nam (sau này là Đảng Cộng sản Việt Nam).
Tháng 12 năm 1960, ông được Nhà nước cho du học ở Liên Xô, khoa Đạo diễn Trường Sân khấu Matxcơva. Lúc về nước, ông được làm đạo diễn ở Nhà hát Kịch Trung ương, rồi giảng viên lớp bổ túc nghiệp vụ nghệ thuật sân khấu và chủ nhiệm lớp Đạo diễn.
Từ tháng 10 năm 1970 đến tháng 3 năm 1974, ông là Chủ nhiệm Khoa đạo diễn Trường Sân khấu Điện ảnh Việt Nam, đồng thời là Bí thư Chi bộ và Đảng ủy viên của Trường.

Sau ngày đất nước thống nhất, ông chuyển công tác về Huế làm Phó Đoàn Ca kịch Huế và sau đó làm Trưởng Đoàn kịch nói Bình Trị Thiên. Năm 1982 đến năm 1989, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Bình Trị Thiên.
Lúc tỉnh Quảng Trị được lập lại, từ tháng 7 năm 1989 đến tháng 7 năm 1995, ông giữ chức Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin tỉnh; đồng thời là Chủ tịch Hội đồng nghệ thuật Hội Văn Nghệ, thư ký Hội Sân khấu Việt Nam và Ủy viên Ban cán sự Đảng Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Quảng Trị.
Năm 1995, ông nghỉ hưu theo chế độ nhưng vẫn say mê nghề nghiệp và tiếp tục đi dàn dựng nghệ thuật sân khấu khắp các địa phương trong cả nước với nhiều loại hình: kịch nói, ca kịch, cải lương, tuồng, chèo… Các tác phẩm của ông góp phần bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống, gìn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, lưu truyền được vốn cổ với niềm tự hào sân khấu của cha ông để lại.

Trong suốt chặng đường gần 50 năm lăn lộn với nghề đạo diễn sân khấu, ông đã đóng góp dàn dựng hàng trăm vở diễn. Một số tác phẩm chính: "Gia đình má Bảy", "Con gà mái xám chân chì", "Tín hiệu trái tim", "Tiếng hát", "Bão tố ngoài khơi", “Làng bên”, "Tình ca", “Platon Krechet”, "Độc thoại đêm", "Trần Thủ Độ", “Lý Chiêu Hoàng”, "Bình minh đó, trái tim anh", "Âm mưu và tình yêu", "Huyền thoại mẹ"... đã nổi tiếng toàn quốc, để lại những hiệu quả nghệ thuật đầy cảm xúc trong giới sân khấu cũng như đông đảo công chúng cả nước.

Năm 1997, ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân. Một phần thưởng cao quý rất xứng đáng với cuộc đời làm nghệ thuật không ngừng nghỉ, cống hiến cả tuổi thanh xuân và cả lúc về dưỡng già với tình yêu nghề nghiệp, quê hương và đất nước.
Sau khi tỉnh Quảng Trị được tái lập (1989), trên cương vị Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin, ông đã cùng tập thể vượt qua giai đoạn gian khó ban đầu. Từ một đơn vị còn non trẻ với vô vàn thiếu thốn, ông đã tìm mọi cách đưa sự nghiệp văn hóa của tỉnh nhà từng bước bứt phá và để lại nhiều dấu ấn đổi mới đáng trân trọng.

Không chỉ thành công trong sự nghiệp, NSND Xuân Đàm còn có một gia đình hạnh phúc. Bạn đời của ông là nghệ sĩ kịch nói Hồ Kim Quý - người con của vùng đất thép Vĩnh Linh. Ông bà có 3 người con (2 trai, 1 gái), đều đã khôn lớn, trưởng thành. Đặc biệt, nghệ sĩ Hồ Kim Quý cũng được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân vào năm 2016. Việc cả hai vợ chồng cùng đạt danh hiệu cao quý này là một điều hiếm có và là niềm tự hào lớn của gia đình.
Trọn cả cuộc đời cống hiến, phục vụ cho sự nghiệp cách mạng, NSND Nguyễn Xuân Đàm luôn là tấm gương sáng về bản lĩnh chính trị, lòng trung thành vô hạn đối với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân. Luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, là người đảng viên cộng sản mẫu mực, với phẩm chất cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; là cán bộ tài năng, đức độ, đôn hậu, bình dị, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân.
Với gia đình, ông luôn là người chồng, người cha, người ông mẫu mực, đức độ, giàu lòng nhân ái, bao dung và vị tha. Với hàng xóm láng giềng, ông rất gần gũi, giản dị, chân thành, luôn dành những tình cảm sâu nặng với quê hương, với nơi mình sinh sống.

NSND Nguyễn Xuân Đàm đã rời cõi tạm vào ngày 14/9/2026 tại quê nhà. Với 96 năm tuổi đời, 68 năm tuổi Đảng, ông đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp văn hóa, văn học nghệ thuật, đặc biệt là nền sân khấu cách mạng Việt Nam. Ghi nhận những cống hiến to lớn ấy, Đảng, Nhà nước và các bộ, ngành đã trao tặng ông nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Lao động hạng Ba, Huân chương chiến sĩ vẻ vang; Bằng khen của Bộ Quốc phòng, Bộ Văn hóa - Thông tin và Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam. Trong sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật, ông cũng ghi dấu ấn với 8 huy chương Vàng tại các lần Hội diễn Sân khấu toàn quốc, 5 huy chương các ngành Văn hóa tư tưởng, Văn học Nghệ thuật, cùng nhiều giải thưởng cao cấp quốc gia, quốc tế, khu vực, bộ, ngành và địa phương.
Cuộc đời NSND Xuân Đàm là tấm gương sáng về bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng và lòng nhiệt thành sáng tạo, được nhân dân kính trọng, quý mến. Ông mãi là người con ưu tú của quê hương Quảng Trị, một nhà văn hóa tầm vóc và một cây đại thụ của sân khấu Việt Nam.
H.T.T
