Hòa vào dòng người hành hương sáng hôm ấy, chúng tôi về An Cư, bước vào khuôn viên đền thờ Nguyễn Văn Tường khi sương sớm còn bảng lảng. Ngôi đền thâm nghiêm ẩn mình dưới những tán cây xanh ẩm sương, nhỏ nhắn và khiêm nhường. Các cụ cao niên trong trang phục áo dài khăn đóng đã có mặt từ sớm, vừa nhâm nhi chén trà vừa bàn chuyện cử hành lễ cúng. Người dân địa phương cùng con cháu dòng họ Nguyễn Văn từ khắp muôn phương cũng trở về dự lễ mỗi lúc một đông. Chúng tôi đứng lặng nhìn dòng người náo nức, rồi hướng tầm mắt vào bên trong điện thờ đèn nhang sáng trưng. Đã lâu rồi mới có một đại lễ tại nơi đây, làm cho không gian thanh tịnh thường ngày trở nên ấm cúng và linh thiêng.
Đền thờ Kỳ vĩ Quận công Nguyễn Văn Tường tọa lạc tại một vị trí đẹp về phong thủy, tựa lưng vào dòng sông Thạch Hãn hiền hòa và hướng mặt ra cánh đồng lúa mênh mông khoáng đạt. Bên phải ngôi đền là đình làng và miếu thờ ngài khai khẩn, bên trái là ngôi chùa làng và đàn âm hồn. Quần thể các công trình văn hóa tâm linh nằm cận kề nhau đã tạo nên một không gian cổ kính, tô điểm cho làng quê An Cư. Năm 2003, hậu duệ Nguyễn Văn Tường đã đóng góp tâm sức, tiền của xây dựng nên ngôi đền này, ngoài ý nghĩa phụng thờ tiên tổ, còn như một món quà tri ân trao tặng quê hương. Ngôi đền được xây theo lối nhà vuông ba gian truyền thống. Gian chính giữa là nơi đặt án thờ cùng bức chân dung Kỳ vĩ Quận công. Trên bức liên ba, tấm hoành phi sơn son thếp vàng đề bốn chữ “Trí quân trạch dân” (Bổn phận với vua, ân đức với dân). Hai gian bên được bài trí như một bảo tàng thu nhỏ, trưng bày nhiều tranh ảnh tư liệu và các công trình nghiên cứu quý giá về cuộc đời, sự nghiệp của vị danh thần.

Dạo quanh ngôi đền trong buổi sớm hôm ấy, chúng tôi không khỏi bùi ngùi nhớ về một nhân vật lịch sử có số phận và hành trạng hết sức đặc biệt. Nguyễn Văn Tường xuất thân trong một gia đình lao động nghèo ở vùng quê ven biển Quảng Trị. Năm 1850, sau khi thi đỗ Cử nhân, ông bước vào chốn quan trường và kinh qua các chức vụ trọng yếu tại nhiều địa phương trong cả nước. Từ Huấn đạo huyện Mộ Đức (Quảng Ngãi), Tri huyện Thành Hóa (Quảng Trị), Án sát Quảng Nam, cho đến Phủ doãn phủ Thừa Thiên, rồi ngược ra vùng rừng núi phía Bắc giữ chức Tán tương quân vụ Sơn Hưng Tuyên - đây đều là những địa bàn giữ vai trò chiến lược đối với triều đình lúc bấy giờ. Ở mỗi cương vị, ông đều dành trọn tâm huyết cho việc ổn định đời sống nhân dân, chiêu dân lập ấp, khai hoang, chú trọng phát triển thủy lợi, đồng thời tổ chức bố phòng và giữ vững trị an.
Sau Hiệp ước Giáp Tuất 1874, Nguyễn Văn Tường được triệu về kinh đô Huế để nắm giữ các chức vụ trọng yếu: Thượng thư Bộ Hình, Thượng thư Bộ Hộ, sung Cơ Mật viện, đứng đầu Thương Bạc viện đảm trách công tác ngoại giao thương thuyết, rồi trở thành Phụ chính đại thần và được phong tước Kỳ vĩ Quận công. Từ đây, ông là một trong những vị đại thần giữ vai trò chủ chốt trong bộ máy điều hành của triều đình nhà Nguyễn. Là người thông minh, mưu lược, giỏi ngoại giao và kiên định lập trường chống Pháp quyết liệt để bảo vệ chủ quyền đất nước, ông đã cùng Tôn Thất Thuyết đứng đầu phái chủ chiến, tích cực chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến dài lâu. Đáng chú ý, ông chính là người có công lao to lớn trong việc xây dựng hệ thống sơn phòng dọc theo vùng núi các tỉnh miền Trung, để làm căn cứ hậu bị phòng khi kinh thành Huế lâm nguy, trong đó có sơn phòng Tân Sở ở vùng Cam Lộ, Quảng Trị - nơi phát khởi phong trào Cần Vương sau này. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó, sử sách có lẽ đã không tốn nhiều giấy mực đến thế khi viết về cuộc đời ông…
Sự nghiệp chính trị của Nguyễn Văn Tường gắn liền với giai đoạn lịch sử đầy biến động của đất nước nửa sau thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp từng bước áp đặt ách đô hộ lên nước ta và triều đình Huế rơi vào cảnh “tứ nguyệt tam vương”. Mùa hè năm 1885, biến cố kinh thành xảy ra, cũng từ đây, sử sách đã dành nhiều trang viết đầy oan nghiệt đối với Nguyễn Văn Tường. Đêm mồng 4 rạng sáng ngày 5/7/1885, cuộc quật khởi tại kinh thành Huế nhằm tiêu diệt quân Pháp tại Tòa Khâm sứ và đồn Mang Cá do ông cùng Tôn Thất Thuyết chủ mưu bất thành. Quân Pháp phản kích, nhanh chóng chiếm quyền kiểm soát kinh thành. Giữa tình thế hiểm nghèo, Tôn Thất Thuyết hộ giá ngự đoàn vua Hàm Nghi ra Quảng Trị, lên căn cứ Tân Sở lánh nạn và ban Chiếu Cần Vương kêu gọi nhân dân cả nước phò vua đánh giặc; trong khi đó, Nguyễn Văn Tường nhận lệnh của Hoàng thái hậu Từ Dũ ở lại Huế thương thuyết với Pháp. Lựa chọn ở lại ấy đã khiến ông bị dư luận và một số sử sách đương thời quy buộc tội đầu hàng thực dân. Để rồi, bao nhiêu công lao của ông đối với cuộc chiến chống đô hộ, với căn cứ kháng chiến Tân Sở, nghiễm nhiên bị phủ nhận.
Sau ngày kinh thành Huế thất thủ, Nguyễn Văn Tường bước vào quãng thời gian bi thương nhất của cuộc đời. Suốt hai tháng ẩn nhẫn ở lại Huế, ông vừa phải gánh chịu muôn vàn điều tiếng gièm pha, nghi kỵ, vừa chịu sự giam lỏng, kiểm soát gắt gao của thực dân Pháp. Ý đồ của người Pháp khi ấy là ép ông phải đứng ra thuyết phục vua Hàm Nghi trở về kinh thành, nhằm hợp thức hóa bộ máy cai trị do chúng dựng lên. Không đạt được mục đích, thực dân Pháp quyết định loại bỏ vị đại thần có tầm ảnh hưởng hàng đầu của triều Nguyễn. Sau một thời gian ngắn bị giam giữ tại Côn Đảo, ông bị đưa đi lưu đày biệt xứ ở Papeete - một thị trấn trên quần đảo Tahiti ở Nam Thái Bình Dương xa xôi, rồi qua đời tại đất khách quê người vào ngày 30/7/1886. Đến đầu năm 1887, di cốt của ông đã trải qua hành trình vạn dặm, âm thầm trở về nằm lại với mảnh đất quê nhà An Cư.
Mùa hè đau thương ấy, chấp nhận ở lại Huế, hẳn ông cũng đau xót vô cùng khi đã tận lực mà vẫn chẳng thể xoay chuyển được vận nước. Những câu thơ cuối trong bài Giải triều (Chia tách triều chính) được ông viết vào giai đoạn cuối đời đã gửi lại cho hậu thế một nỗi niềm day dứt vì đại sự không thành, đồng thời tỏ bày tấm lòng trung trinh trước một sự lựa chọn lịch sử: “Sơn kính vạn trùng thương thúy liễn/ Thần tâm nhất dạng luyến đan đình/ Thị phi nhiên phó thiên thu hậu/ Xã tắc quân vương thục trọng khinh?” (Đường núi xa xôi, lo lắng cho kiệu vua lặn lội/ Lòng kẻ bề tôi trước sau như một, thương mến không nỡ rời bỏ sân đình/ Đúng, sai, đành phó mặc nghìn năm sau định luận/ Đất nước, nhà vua, đâu là trọng đâu là khinh?).
Thế nhưng, Nguyễn Văn Tường đã không phải chờ đến “thiên thu hậu”. Bước sang đầu thế kỷ XXI, các công trình nghiên cứu trong nước từ trước đến sau năm 1975, cùng nguồn tư liệu quý giá về ông được lưu trữ ở Pháp, Tahiti và Hoa Kỳ lần lượt được công bố. Với tâm huyết của các nhà nghiên cứu lịch sử, cùng sự nỗ lực của các cơ quan chuyên môn và hậu duệ Nguyễn Văn Tường, hệ thống tài liệu này đã được tiếp cận, đối chiếu bài bản, góp phần bổ sung những cứ liệu quan trọng về cuộc đời hoạt động của ông. Cùng với đó, nhiều cuộc hội thảo khoa học đánh giá về nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường cũng diễn ra sôi nổi ở cả trong và ngoài nước. Nhờ vậy, những uẩn khúc lịch sử dần được sáng tỏ, giúp hậu thế thấu hiểu hơn hoàn cảnh éo le cùng những quyết định của ông trước và sau ngày thất thủ kinh thành. Các tài liệu đã chứng minh Nguyễn Văn Tường không đầu hàng hay phản quốc, mà kiên trì thực hiện chiến lược “hòa để thủ, thủ để mưu chiến” nhằm hạn chế đổ máu tang thương, bảo vệ tôn miếu, xã tắc, thần dân trong hoàn cảnh ngàn cân treo sợi tóc.
Trong buổi lễ tưởng niệm 140 năm ngày mất Kỳ vĩ Quận công, hình ảnh hàng dài xe cộ nối đuôi trên các ngả đường làng và dòng người từ khắp nơi trở về dâng hương bái vọng đã mang lại niềm tự hào, xúc động sâu sắc cho dân làng An Cư cùng hậu duệ của ông. Hơn một thế kỷ trước, khi tạ thế trong nỗi hàm oan, có lẽ ông cũng chẳng thể hình dung mai sau hậu thế lại lập đền phụng thờ. Sự tri ân hôm nay chính là lời khẳng định mọi quyết sách của ông đều xuất phát từ tâm nguyện vì quốc gia, dân tộc. Nhìn khói hương nghi ngút lan tỏa khắp điện thờ, cùng hàng trăm quan khách thành kính trước án thờ Kỳ vĩ Quận công, chúng tôi càng thấm thía hai câu thơ đầy tiên cảm của Nguyễn Du: “Trời còn để có hôm nay/ Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời”!
Để có được ngày mây quang sương tạnh hôm nay, thực ra chính là nhờ một niềm tin đã được giữ gìn qua bao thế hệ. Bởi suốt hơn một thế kỷ qua, mặc những dòng sử liệu đa chiều, trong tâm thức dân làng An Cư và hậu duệ Nguyễn Văn Tường vẫn khắc ghi sự hy sinh của ông là vì nghiệp lớn của xã tắc. Nhờ niềm tin ấy, ngôi đền thờ và lăng mộ Nguyễn Văn Tường ở quê nhà - nay là di tích lịch sử cấp tỉnh - bao năm qua vẫn luôn được bà con gìn giữ, hết lòng chăm lo hương khói. Niềm kính phụng ấy còn lan tỏa đến vùng đất sơn phòng năm xưa. Năm 2020, một ngôi đền khang trang được khởi dựng ngay trên đất Tân Sở (Cam Lộ, Quảng Trị) để làm nơi tưởng vọng vị vua yêu nước Hàm Nghi cùng các tướng sĩ Cần Vương. Nhớ ơn người có công đôn đốc xây dựng sơn phòng, nhân dân Cam Lộ đã trang trọng thỉnh bài vị Kỳ vĩ Quận công Nguyễn Văn Tường từ đền thờ An Cư về an vị trong ngôi đền này. Ở phường Đông Hà và xã Lao Bảo (nơi Quận công từng có 9 năm làm Tri huyện vùng rừng núi hiểm trở), cũng đã có con đường mang tên ông. Những sự tôn vinh dù đến muộn, nhưng là một cái kết vô cùng có hậu, an ủi phần nào hương hồn vị công thần yêu nước đã âm thầm gánh chịu búa rìu dư luận, chấp nhận cảnh tù đày rồi nằm xuống ở xứ người.
Sáng hôm ấy, khi lắng nghe đại diện hậu duệ của ông chia sẻ về hành trình hơn một thập kỷ lặn lội tìm kiếm tư liệu quốc tế để minh oan cho cụ tổ, quan khách dự lễ không khỏi bùi ngùi. Chính nhờ những nỗ lực bền bỉ ấy, sự nghiệp của Nguyễn Văn Tường đã được lịch sử nhìn nhận khách quan, chiêu tuyết và vinh danh xứng đáng. Trò chuyện với chúng tôi, ông Nguyễn Đông Quang và bà Trần Nguyễn Từ Vân - những hậu duệ của Kỳ vĩ Quận công cảm khái chia sẻ rằng, từ xưa đến nay, con cháu ngài luôn giữ vững truyền thống hiếu học của gia tộc. Hầu như thế hệ nào cũng có nhiều người thành đạt, đóng góp nhân tài vật lực cho quê hương, đất nước. Trải qua bao biến cố dâu bể, dù sinh sống ở quê nhà, lập nghiệp trong Nam ngoài Bắc hay định cư ở nước ngoài, con cháu dòng họ Nguyễn Văn vẫn luôn giữ gìn nền nếp gia phong, hướng về nguồn cội. Dạo quanh làng An Cư, dễ dàng nhận thấy dấu ấn đóng góp của dòng họ qua nhiều công trình xã hội và văn hóa trao tặng quê cha đất tổ. Bởi thế, trong những câu chuyện của bà con lối xóm, hậu duệ của ông vẫn luôn nhận được sự trân quý, nể trọng.
Trước khi rời An Cư, chúng tôi tìm ra nghĩa địa làng, nơi lăng mộ Nguyễn Văn Tường nằm bình yên giữa bốn bề lúa xanh ngút ngát. Hậu thế đến viếng thăm xin kính cẩn thắp nén hương thơm, chắp tay cúi đầu bái vọng tiền nhân. Thành kính cầu cho nơi an nghỉ của Kỳ vĩ Quận công luôn ngát hương bốn mùa. Tấm lòng trung quân ái quốc của ông sẽ còn lưu lại mãi cùng sử sách dân tộc.
T.H
____________
Tài liệu tham khảo:
1. Tỉnh ủy - UBND tỉnh Quảng Trị, Địa chí Quảng Trị, NXB Thuận Hóa, Huế, 2022, tr.1387.
2. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Kỳ vĩ Quận công Nguyễn Văn Tường - cuộc đời và sự nghiệp do Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Quảng Trị, Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Thừa Thiên Huế và UBND huyện Triệu Phong phối hợp tổ chức năm 2024.
