Một ngày chớm thu, nhạc sĩ Đặng Thái Sơn, con trai của cố
nghệ nhân hát ca trù đất Kinh Châu Nguyễn Thị Hưng dẫn chúng tôi về thăm quê.
Đây, sông Gianh hào hoa. Kia, núi Đụn vững chãi. Đây, ngôi đình cổ - nơi diễn
ra những hoạt động lễ hội của làng. Đây, mái nhà xưa bình yên gia đình ông đã sống…
Nơi ấy, mãi vọng về tiếng hát của người xưa.
Kinh Châu là một thôn của xã Châu Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh
Quảng Bình cũ. Nay là Phong Châu, xã Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Trị. Tên địa danh đã
đổi thay nhưng đất ấy vẫn vẹn nguyên thần thái. Sông nước hữu tình. Đình làng cổ
kính. Người dân chân chất, mộc mạc với đồng lúa nương dâu, tâm hồn lãng mạn du
dương theo những giai điệu vừa trữ tình da diết, vừa chung thủy mặn nồng:
…Một ngày cũng là người tri kỷ
Sao nỡ để kẻ về người ở đôi nơi
Rót chén quỳnh say tỉnh tỉnh say
Dòng giọt lệ bồi hồi bát ngát
Nào những lúc tiếng đàn chen tiếng hát
Nào những khi tiếng phách lẫn tiếng sênh
Trách con tạo lọc lừa chi lắm nhé
Chẳng trăm năm một ngày là nghĩa
Lúc ra về ai nấy ngẩn ngơ
Kẻ về thời thương tình người ở
Một bước đường là một giọt châu sa
Ơ người tri kỷ với ta
Kẻ Nam người Bắc thế mà tình chung
(Kẻ ở người đi - Lời cổ)
Lời hát đồng vọng qua nhiều thế hệ, dập dìu trên sóng nước
sông Gianh, thảng hoặc mơ màng trong tiếng gió, lay động hồn người và dệt nên cốt
cách một vùng đất.
Lịch sử ghi lại, làng Kinh Châu bắt đầu hình thành từ khi
người dân các tỉnh phía Bắc, chủ yếu là Thanh - Nghệ Tĩnh theo chiếu dụ của
vua Lê Thánh Tông di cư xuống phía Nam: “Bố Chính đất rộng, ít dân cư, chạy đến tận Châu Hoan, vậy
quân và dân ai đến đó khẩn hoang sẽ được lợi lớn”. Trong dòng người tìm quê mới, có cha con ông Đặng Hữu
Nhân ở huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Khi đến vùng đất nhỏ xinh hiền lành, được núi chở
che, được sông ôm ấp, họ đã dừng chân ở lại định cư lập nghiệp. Danh xưng đầu
tiên cho ngôi làng nhỏ bên sông là Bình Minh Trang. Triều vua Minh Mạng đổi
thành Kinh Châu. Nay thuộc Phong Châu. Đến nay làng đã gần 500 năm hình thành
phát triển. Dòng họ Đặng an cư lạc nghiệp, nối dài 17 đời. Con cháu trưởng
thành, đời nào cũng có nhiều người đỗ đạt, dù tỏa đi muôn phương vẫn không quên
ơn người mở đất, không quên điệu hát cũ của quê nhà.
Con người đi đến đâu, văn hóa tỏa lan đến đấy. Theo các
nhà nghiên cứu văn hóa văn nghệ dân gian, hát nhà trò ở Kinh Châu gắn liền với
quá trình hình thành phát triển của vùng đất này. Khi di cư từ Hà Tĩnh vào đây,
ông tổ họ Đặng mang theo cả hồn phách quê hương. Những buổi chiều tà, khi bóng
núi đổ xuống mặt sông, khi làn khói bếp ấm nồng tan vào màn sương lạnh, nỗi nhớ
về vùng đất phía bắc đèo Ngang thân thương máu thịt lại khắc khoải ùa về. Một
câu hát mang hồn quê cất lên sẽ an ủi vỗ về những cô đơn nhung nhớ của người xa
xứ và nhanh chóng trở thành sinh hoạt văn hóa đặc sắc của dân làng. Từ Hà
Tĩnh, hát nhà trò đến neo lại bên bờ sông Gianh - Quảng Bình, rồi trở thành tiếng
lòng tha thiết của người quê; giao thoa, tiếp biến và tồn tại song hành cùng
các loại hình nghệ thuật dân gian bản địa.
Hát nhà trò cổ bắt đầu thịnh hành ở Hà Nội và một số tỉnh
phía Bắc như Phú Thọ, Bắc Ninh, Hải Phòng… từ thế kỷ XV. Sau đó lan tỏa dần xuống
các tỉnh Bắc Trung Bộ, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh rồi vào Quảng Bình qua các
cuộc di dân mở cõi. Đây là loại hình văn nghệ dân gian cổ xưa độc đáo, gắn liền
với phong tục tập quán, tín ngưỡng và văn hóa của nhân dân, như: lễ hội, đình
làng, chúc thọ, kỵ giỗ tổ tiên... Tại mỗi địa phương, hát nhà trò lại có
tên gọi khác nhau, như: ca trù, hát ả đào, hát cửa đình, hát cửa quyền, hát cô
đầu, hát nhà tơ… Ở Quảng Bình cũ, nhân dân quen gọi là hát nhà trò hoặc ca trù. Hát nhà trò là bức tranh cuộc sống bằng lời, ngắn gọn, súc tích
mà mang nhiều thông điệp giáo dục. Ca từ thường được lấy từ hai nguồn, có thể
do quan viên trong nhóm hát soạn ra hoặc sử dụng tác phẩm của các nhà thơ nổi
tiếng đương thời, như: Tản Đà, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ… Bởi vậy, hát nhà
trò còn được xem là hình thức “hát thơ”, lời hát nhiều nhạc điệu quyến rũ và
giàu cảm xúc.
Trăng chưa già núi hãy còn non
Núi chưa khuyết trăng vẫn tròn với núi
Rượu một bầu thơ ngâm một túi
Góp gió trăng làm bạn với non sông
Núi kia tạc để chữ đồng
Trăng kia nhớ mặt anh hùng này chăng?
Xinh thay kìa núi nọ trăng.
(Chơi trăng - Cao Bá Quát)
Quảng Bình thế kỷ XIX, có nhà thơ Nguyễn Hàm Ninh người
xã Phù Kinh, Quảng Trạch (nay là Phù Hóa, xã Tân Gianh, tỉnh Quảng Trị).
Nguyễn Hàm Ninh thi đỗ cử nhân năm Tân Mão niên hiệu Minh Mệnh thứ 12 (1831),
là nhà thơ Việt Nam thời Nguyễn. Ông để lại cho hậu thế khoảng 200 bài thơ
Hán Nôm, ghi lại cảm xúc và quan điểm nhân sinh: “Giang
sơn sơn tận, nhân không tận/ Thụy mộng mộng hồi, lệ vị thanh” (Non sông có thể hết, lòng người chưa cạn/ Giấc mộng chưa
tan, nước mắt vẫn chưa khô). Thơ Nguyễn Hàm Ninh bay bổng, phóng khoáng lại
giàu tính tự sự, nên có nhiều bài được đưa vào trình diễn trong các cuộc hát
vùng Quảng Trạch, Tuyên Hóa lúc bấy giờ, như bài “Lệ Sơn xuân vọng”.
Bởi tính cổ xưa cùng những đặc điểm nhận dạng độc đáo và
ý nghĩa xã hội sâu sắc, năm 2009 ca trù - hát nhà trò được UNESCO đưa vào danh
sách di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp. Hiện nay, trên toàn
quốc có 11 tỉnh, thành phố đang lưu hành nghệ thuật hát nhà trò.
Trên địa bàn Quảng Bình cũ, hát nhà trò từng xuất hiện ở
nhiều nơi như: Kinh Châu, Uyên Phong, Thanh Thủy, Lệ Sơn (Tuyên Hóa); Lâm Xuân,
Minh Lệ, Chợ Sãi, Tô Xá, Đồng Dương (Quảng Trạch). Nhạc sĩ Đặng Thái Sơn cho biết,
trong quá trình giao thoa tiếp biến, hát nhà trò ở Phong Châu có những biến thể
mang nét độc đáo riêng về làn điệu, hình thức diễn xướng và đạo cụ, vừa bảo tồn
bản sắc của hát nhà trò cổ, vừa mang dấu ấn vùng đất và đời sống mới. Tuy
nhiên, cũng như một số loại hình diễn xướng văn nghệ dân gian khác, hát nhà trò
đang bị mai một. Các nghệ nhân cao tuổi có khả năng truyền dạy dần vắng bóng; đời
sống hiện đại cuốn con người rời xa dần nền tảng văn hóa truyền thống, lớp trẻ
không hứng thú với tính chất cổ, chậm trầm lại phức tạp trong trình diễn cũng
như thưởng thức khiến hát nhà trò không còn thu hút công chúng, không gian cũng
bị thu hẹp dần. Hiện nay, chỉ còn lại hai địa phương lưu giữ được vốn cổ quý
giá này là Phong Châu (Tuyên Hóa), Đồng Dương (Quảng Trạch) với hai câu lạc bộ
hát nhà trò - ca trù hoạt động khá đều đặn và có chiều hướng phát triển vững chắc.
Bà con nhân dân Kinh Châu - Phong Châu sẽ không bao giờ
quên công lao của cụ ông Đặng Phàn và cụ bà Nguyễn Thị Hưng. Ông bà quen biết
nhau từ những buổi hát, cùng thấu hiểu, chung đam mê rồi nên vợ nên chồng. Biết
ơn công đức tổ tiên, quý trọng các giá trị đặc sắc của nghệ thuật hát nhà trò,
hai người đã dành trọn tài năng, tâm huyết và công sức để gìn giữ, bảo tồn di sản
văn hóa quê hương. Khi tiếng hát của bà thánh thót vang lên, tiếng trống trầm ấm
uy vũ của ông rộn ràng giục giã, nghĩa là hội làng đã mở. Cụ ông Đặng Phàn từng
công tác trong ngành Tuyên giáo, ngành Giáo dục Quảng Bình. Sinh thời, ông là
quan viên đánh trống chầu điêu luyện và là soạn giả uyên thâm. Cụ bà Nguyễn Thị
Hưng là con gái của người cha giỏi cầm kỳ thi họa bậc nhất trong vùng. Ngay từ
nhỏ, bà đã được học các làn điệu hát nhà trò. Với niềm say mê nghệ thuật và
năng khiếu thừa hưởng từ người cha, bà sớm trở thành ca nương nổi tiếng nết na,
xinh đẹp và tài giỏi. Không cần sân khấu, không cần son phấn, phục trang cầu kỳ,
bà Nguyễn Thị Hưng hát bằng tâm hồn và trái tim, bằng tình yêu quê hương tha
thiết và niềm đam mê cháy bỏng. Khi bà cất giọng là thấy bóng quê lung linh hiện
hữu, thấy lồng lộng tâm hồn cốt cách con người một miền đất.
Hát nhà trò đòi hỏi những người tham gia hội đủ cả niềm
đam mê lẫn tài năng. Đó là cuộc trình diễn tinh tế và ăn ý giữa ca nương - kép
đàn và tay trống. Trong đó, ca nương phải có giọng hát mượt mà như tơ như lụa,
vang - rền - nền - nảy, lại có khả năng cảm nhận ý nghĩa mỗi từ, mỗi câu để luyến
láy, nhấn nhá chuyển đoạn, ngắt nhịp hợp lý; kép đàn phải điêu luyện, làm sao để
từng nốt nhạc tự nhiên quyến luyến vào câu hát; tay trống phải thấu hiểu nội
dung tác phẩm mà hòa âm nhịp nhàng, làm điểm tựa để tiếng hát vút lên. Cho đến
hôm nay, cụ ông Đặng Phàn - cụ bà Nguyễn Thị Hưng vẫn là đôi ca nương - quan
viên hát nhà trò hàng đầu đất Kinh Châu. Nhiều tiết mục của ông bà là bài học
nhập môn kinh điển cho các thế hệ tiếp nối. Nhiệt tình trình diễn, ông bà còn dốc
lòng truyền dạy cho lớp đàn em, con cháu. Nhờ vậy, các bà Đặng Thị Phong, Nguyễn
Thị Nga, Nguyễn Thị Thùy, các chị Nguyễn Thị Hường, Đặng Thị Hồng, Đặng Thị
Thanh, Đặng Kim Huệ… là những ca nương có thể kế tục được những gì các cụ trao truyền.
Mỗi dịp hội làng, khi xuân về tết đến hay kỵ giỗ tổ tiên ông bà cha mẹ, tiếng
trống chầu, tiếng đàn đáy, tiếng hát lại vang lên rộn rã nơi sân đình, trong
các nhà thờ họ hay ở mỗi gia đình, đã tạo nên không gian văn hóa nghệ thuật độc
đáo, sâu lắng giữa cuộc sống hiện đại. Năm 2014, cụ bà Nguyễn Thị Hưng và chị
gái Nguyễn Thị Hội được công nhận là Nghệ nhân dân gian của tỉnh Quảng Bình.
Danh hiệu ấy khẳng định vai trò quan trọng của các cụ trong quá trình góp phần
gìn giữ, bảo tồn một di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Đồng thời chứng
tỏ hát nhà trò Kinh Châu không bị lãng quên.
Trân quý các giá trị văn hóa truyền thống của quê hương,
yêu thương giọng hát của mẹ, kính trọng tiếng trống của cha, các con của hai cụ
Đặng Phàn - Nguyễn Thị Hưng là doanh nhân Đặng Xuân Huề, nguyên Chủ tịch Hội đồng
quản trị, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Quảng Bình và nhạc sĩ Đặng
Thái Sơn đã chủ trì vận động thành lập Câu lạc bộ Hát nhà trò, đồng thời tạo Quỹ
bảo tồn Hát nhà trò Kinh Châu. Hiện nay, nguồn quỹ văn hóa này đã lên đến 500
triệu đồng. Quỹ đóng vai trò hỗ trợ trực tiếp cho hoạt động câu lạc bộ, từ
trình diễn quảng bá đến bảo tồn truyền dạy. Cá nhân nhạc sĩ Đặng Thái Sơn đã
sưu tầm, tập hợp và biên soạn bản thảo tập sách “Hát nhà trò Kinh Châu”, gồm 14
làn điệu với 55 bài lời cổ và lời mới. Đồng thời, ông tổ chức ghi âm tiếng hát
của các ca nương để làm nguồn tư liệu quý giá truyền dạy cho các thế hệ sau.
Nhạc sĩ Đặng Thái Sơn gần như nhớ hết những bài hát sinh
thời mẹ ông trình diễn trong những buổi hội làng:
Thử địa thử nhân tòng thử khứ
Di sầu di hận cảnh di thương
Mối tình riêng ai sẻ nửa bước đường
Bên bờ liễu ngập ngừng cơn tống biệt
Người viễn khách biết chăng chẳng biết
Mối tơ vò vấn vít suốt năm canh.
Khi cung đàn khi tiếng hát
Khi gió mát lúc trăng thanh
Khúc Bạch Tuyết bên mình còn văng vẳng
Mấy bước tiễn đưa vàng đá nặng
Ba câu gắn bó nước non tình…
(Gánh tương tư - Nguyễn
Quý Tân)
Tài năng và niềm đam mê sâu sắc đối với hát nhà trò của cụ
ông Đặng Phàn và cụ bà Nguyễn Thị Hưng đã tác động đến phong cách sáng tác của
nhạc sĩ Đặng Thái Sơn. Rất nhiều ca khúc của ông phảng phất âm hưởng nghệ thuật
hát nhà trò. Những luyến láy, ngắt nhịp, nhả từ trong ca khúc Đặng Thái Sơn là
một khác biệt, đòi hỏi ca sĩ phải mẫn cảm với ngôn từ và có kỹ năng trình bày tốt.
Ca khúc “Ca nương” là một dẫn chứng cụ thể. Dẫu biết rằng, trong thời đại công
nghệ thông tin bùng nổ, sự tồn tại của các loại hình văn nghệ dân gian là khó
khăn lớn, nhưng gia đình nhạc sĩ Đặng Thái Sơn vẫn quyết tâm vận động con cháu
trong dòng họ tham gia gìn giữ vốn quý tổ tiên ông bà để lại. Nhạc sĩ đã động viên
được con trai Đặng Tuấn Anh - Thạc sĩ Công nghệ thông tin, một người trẻ năng động
và hiện đại theo học đàn đáy. Hiện nay, Tuấn Anh là tay đàn chính trong các cuộc
hát của làng và tham gia các hội diễn văn nghệ dân gian trên địa bàn tỉnh.
Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn
hóa Việt Nam xác định “Phục hồi, bảo tồn di sản văn
hóa phi vật thể, nghệ thuật truyền thống có nguy cơ mai một, cần bảo vệ khẩn cấp” là một trong những mục tiêu quan trọng nhằm “Đẩy mạnh xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc; thống nhất trong đa dạng; mang đặc trưng dân tộc, dân
chủ, nhân văn, khoa học, hiện đại”. Những hoạt động
của gia đình doanh nhân Đặng Xuân Huề, nhạc sĩ Đặng Thái Sơn đối với nghệ thuật
hát nhà trò trong thời gian qua đã góp phần rất quan trọng trong giữ gìn các
giá trị văn hóa truyền thống, tiếp thêm cho di sản văn hóa của quê hương nguồn
lực mới để hòa nhịp cùng đời sống hiện đại.
Hát nhà trò - ca trù, một di sản văn hóa phi vật thể
của nhân loại. Người Kinh Châu - Phong Châu đã vịn vào điệu hát ấy để đi qua
bao năm tháng thăng trầm mà xây dựng quê hương. Hôm nay, câu hát của người xưa
vẫn dập dìu trên sóng nước sông Gianh, ngưng lại trên rặng núi quanh làng, hòa
vào mây vào gió và neo lại trong tâm hồn mỗi con người hiền lành, chân chất mà
sâu sắc nghĩa tình. Di sản ấy, mãi mãi của nhân dân - người sáng tạo, người lưu
giữ, bảo tồn và trao truyền!
T.T.H
