Trời trong. Tượng uy nghi trên núi. Dừng xe, Hân quay nhìn lốp sau, đúng như đã nghĩ, chắc lủng xăm rồi. Hơi bực, song khung cảnh sớm xanh, mây mỏng trên vòm trời bức tượng, Hân bỏ ý định chạy xe đi tìm chỗ vá ngay.
Hân tranh thủ chụp khoảnh khắc này, lúc trở lại thì Ngọc nói: “Em thấy đầu kia có sửa xe, đó đó”. Hân nhìn theo tay Ngọc chỉ về cái lều treo chiếc lốp cũ phía trước. “Ô may quá, xẹp lép rồi. Để anh dắt xe đến đó rồi quay lại ta chụp ảnh”.
Bác sửa xe đón Hân: “Lủng hả chú, dựng qua đây”. Hân tính để xe đó là đi chụp hình ngay, chợt nghe bác thợ thốt lên vô tình: “Trời xanh trong soi sắc kiếm/ Cờ đào bay ngựa trắng hí vang sông”. Hơi lạ, Hân ngồi xuống. Anh không quên vẫy tay gọi Ngọc trở lại.
- Cháu vừa nghe bác đọc thơ về vua Quang Trung thì phải?
Bác Lư hỏi:
- Cô cậu từ xa đến nhỉ. Ghé thăm tượng hay qua đoạn này xe xẹp lốp?
- Dạ, hồi năm cuối sinh viên cháu có tìm hiểu về nhà Tây Sơn. Nguyễn Huệ dựng đàn tế trời đất, lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung. Ông tế cáo trời đất trước khi ra Bắc cùng ba quân đánh đuổi giặc Thanh. Hôm nay cháu ghé xem tượng và chụp hình.
Bác Lư nhìn Hân rồi tiếp tục công việc cà xăm.
- Tui ở đây từ ngày tượng ôn dựng lên, như người trông coi lặng thầm rứa. Hồi đầu còn rèn dao kéo, sau máy móc nhiều, hàng ế, tui chuyển qua sửa xe đạp. Ngồi bên tượng ôn, nương nhờ chút phước, vui chớ.
Ngọc ngồi trên cái chõng tre lên nước vàng óng của bác Lư thường nằm nghỉ mỗi trưa, cô quay người nhìn khắp cái lều nhỏ áp sát chân núi. Lều được thưng và lợp tồn gỉ sét, nó chỉ che tạm được mưa nhẹ chứ bão chắc khó. Chợt Ngọc thấy cuốn sổ nhỏ dắt bên cạnh vách đặt chõng, cô nhìn bác Lư hỏi: Cháu xem được không? Bác Lư gật, nói đừng cười, tui ghi chép hàng ngày đó thôi.
Ngọc đọc chậm, có trang thì viết nhật ký từ gia đình đến câu chuyện với khách, có trang ghi thơ, không biết có phải của bác hay không. Ở một trang ố vàng, nét bút mực học sinh cách hơn chục năm về trước: “Ngựa trắng ba lần hí, trời xanh không vẩn mây/ Bân sơn ba tầng cỏ mọc thơm/ Ngang qua đây nghe gió reo thầm/ Tiếng người tiếng ngựa trên đỉnh trời năm ấy”.
Ngọc không nhìn ai, hỏi ngang:
- Thơ bác viết về vua Quang Trung đó à?
- Tui đâu biết mần thơ chi, chỉ là nghe gió mưa kể lại, chép lại. Nghe và đọc lõm bõm đâu đó, có lúc tự nó kết lại vần vè cho vui thôi.
Hân ngưng điện thoại, nheo mày ngước lên, rồi đến bên Ngọc xem trang thơ đó. Một cảm giác là lạ trong anh.
Ngọc đọc tiếp: “Ông Nguyễn Huệ lên ngôi đã lâu, mây còn giữ vóc dáng ngựa”. Thơ này cũng của bác à?
Bác Lư dùng khăn lau phía trong lốp xe chỗ săm bị lủng, nói: “Ngày còn nhỏ tui theo ông cố lên núi Bân bẻ củi, ổng hay chỉ về phía đàn tế mà ngân nga như vậy, giọng như chủ lễ cúng ấy. Tui khi đó chưa hiểu, cứ tưởng ổng ngâm chơi, mô dè sau này nghe câu hò cũ, thấy giống rứa”.
Hân hỏi bột phát: “Ông cố bác có sách cũ gì hay không ạ?”
Gió khẽ giật tấm tôn, bụi sắt li ti sáng lấp lánh.
- Sách thì không có nhưng đồ nghề truyền lại cho tui thì có. Hồi xưa nớ ông cố từng là lính đội Tây Sơn, được giao rèn gươm giáo cho nghĩa quân. Tui còn nghe chuyện về lễ đăng quang ở núi Bân. Tui nghĩ chắc ông cố nói cho oai chơ hồi đó khéo mới lẫm chẫm đi.
- Dạ, cháu nhớ không lầm thì Nguyễn Huệ lên ngôi năm 1788 ạ!
- Ờ, chắc chuyện của bác nghe từ ông cố có lẫn vô từ giai thoại dân gian nữa.
Giọng bác Lư khàn, đọc như chỉ cho mình nghe: “Trời cố xứ hôm xưa soi sắc kiếm/ Cờ đào bay ngựa trắng hí vang sông”. Có lẽ có con ngựa trắng trong đội quân của Tây Sơn năm ấy. Tui nghe nhiều câu hò có ngựa trắng, không thấy con ngựa màu khác, lạ chú nhỉ.
- Dạ, chắc ngựa trắng dành vua cưỡi bác ạ.
- Ờ, tui nhớ ông cố nội, ổng chuyển giao cho tui cả một bao đồ thợ rèn. Năm ngoái thằng con vô Nam học nghề, đành theo lời nó đem bán. Hồi đó vàng có giá, được mấy chỉ. Người ta nói giờ chỗ đó khối tiền. Tui tiếc không giữ được gì ngoài cái đe dưới giường đất lấp, vừa rồi nâng nền nhà kẻo lụt, nó hiện ra làm tui nhớ ông cố nội lắm. Hễ tới mùa gió Nam nổi, tui lại thấy trong lòng rộn vó ngựa. Tiếng rộn mà xưa ông cố nội gọi là gió Bân.
Ngọc thấy hai người nói chuyện hợp nhau, nên muốn để Hân lại thoải mái hơn, cô đứng dậy hỏi qua loa: “Bác sửa đây cả ngày à?”.
- Sáng đi tối về cô ạ, tuy dạo này sinh viên học đêm có lúc cần bơm vá, nên tui nán lại, ăn dĩa bánh nậm lọc qua bữa, tầm người ta thể dục xong thì tui dọn đồ.
Ngọc bước về phía tượng Quang Trung. Nắng chói trên nền, cô đi giữa khuôn viên rộng. Mấy em nhỏ đạp xe vòng quanh. Nơi đây như một gạch nối của lịch sử. Vua Quang Trung hướng về phương Bắc, cô tưởng đến một thanh kiếm bằng đồng rực lên. Ngọc đưa điện thoại tự chụp mình với bức tượng lớn phía sau, chợt thấy một chàng trai bận áo thể thao đứng nhìn. Ngọc cảm được sự thân thiện, cười chào lại rồi đi về phía sau tượng.
Chàng trai bước theo Ngọc. Các cụ già tập dưỡng sinh, phụ nữ và con gái đi bộ, có số xếp hàng tập dân vũ. Ngọc tựa lưng vào chân tượng, nghĩ, anh chàng này mà thấy Hân phía góc kia vẫn đang nhìn mình, chắc tránh đi rồi. Tính Ngọc thích chủ động trò truyện với người lạ, cũng từ thói quen bắt chuyện với người Tây.
- Núi Ngự đẹp anh nhỉ. Lần đầu tiên em đến Huế thấy đó.
Chàng trai cười lạ lắm, một lúc mới nói:
- Em mới đến Huế là đúng rồi. Đây là núi Bân, còn núi Ngự kia kìa, cây cối che hết lối, muốn lên phải có người tìm đường cho.
- Ô… À, em nhầm em nhầm thật. Núi Bân là nơi Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế mà nhỉ.
- Nhiều người cũng nhầm như em đó.
Tiếng chàng trai khẽ và nhỏ dần. Ngọc nheo nheo đôi mắt nhìn con người biết chăm sóc hình thể ấy. Mắt Ngọc chùng xuống.
- Vậy có ai nhầm Nguyễn Huệ lên ngôi ở núi Ngự không anh?
- Có đó em. Anh nghĩ có lẽ do chữ “ngự” làm họ tưởng đến “vua”.
Ngọc gật nhẹ, cô nhìn về phía lều bác Lư. Chắc Hân có bực đây. Cô tách chàng trai, bước ra nhìn ngược lại bức tượng, như khám phá thêm bí ẩn.
Bác Lư đang ấn lốp vào vành xe. Lành nghề, bác chỉ dùng tay cũng lắp được lốp mà không cần nạy.
- “Trên núi Bân mùa gió/ Cờ đỏ chạm trời xanh…”. Rồi cậu, bơm lên nữa là xong.
Câu chuyện của bác Lư về ông cố và lính nghĩa quân Tây Sơn vẫn cuốn hút Hân.
- Bác vừa hát đoạn nghe như dân ca thì phải?
- Ông cố tui nói, đêm trước lễ đăng quang, có con ngựa trắng từ dưới sông Hương phi lên, lông ướt sũng mà lóng lánh. Khi Nguyễn Huệ bước ra đàn tế, ngựa hí ba tiếng, mây tan. Người ta nói đó là thiên mệnh. Dân gian họ hát theo làn điệu Nam Ai, nghe lơ lớ âm Chàm nữa. Mỗi lần gió Nam nổi, tui cứ nhìn lên trời xem có đám mây hình ngựa nào bay ngang không.
Ngọc vẫn muốn chàng trai hỏi về mình, chẳng hạn như ở đâu mà tới Huế lần đầu, đi với ai không; lúc đó Ngọc sẽ chỉ về Hân đằng kia. Chàng trai thì say sưa nói với Ngọc trong vai một hướng dẫn viên. Cô nghĩ anh ở Huế lâu rồi chăng, chứ chất giọng như từ miền Bắc vào hơn.
- Em biết không, ở đây lên hình lạ lắm, nhất là tầm chiều, có nắng xiên qua vai tượng, ánh lên thanh gươm, lóe một vòng hào quang.
Ngọc ngạc nhiên. Hân vốn dân săn ảnh, hôm nay trời trong, chiều xuống bức tượng chắc độc đáo lắm.
Ngọc giấu niềm vui vào trong, nói:
- Tụi em chỉ ghé qua chút thôi.
Rồi Ngọc chợt muốn hỏi câu khiến chàng trai không trả lời được: “Anh thấy gió vùng này lạ đúng không?” Nhưng chàng trai trả lời ngay: “Ừ lạ, dân gọi là gió Bân, bởi có lúc tiếng vó ngựa lẫn vào”.
Ngọc bước về phía sau tượng, ở đó có thảm cỏ, hoa dại mọc rất nhiều. Chàng trai thẫn thờ, nhìn Ngọc xa xa.
Phía sau lưng tượng vắng người, hàng thông lấp lánh đổ bóng lên vạt cỏ xanh miên man. Nắng rải thành từng mảng mềm, gió bất ngờ thổi vung lá khô lên. Đằng kia là lưng núi Ngự Bình. Vẳng lại tiếng búa gõ đe như ai rèn một thanh gươm mới trong mây.
Trời xanh lạ thường. Ngọc ngồi xuống phiến đá nhỏ bên gốc thông non, tay chạm vào cỏ, nghĩ đến lời anh chàng về ngọn gió Bân.
Hân vẫn ngồi cạnh bác Lư đang vá săm xe. Từ xa, Ngọc thấy anh vừa cười vừa cúi nghe điều gì chăm chú lắm. Hân dõi mắt về phía Ngọc khi cô nói chuyện thật vui với chàng trai lạ; cái nhìn ấm áp song có lúc nó khiến cô xao động mơ hồ.
Ngọc bước về phía Hân. Chợt nhớ âm giọng bác Lư ngâm hai câu thơ mà hồi nãy Ngọc đọc qua đã nhớ: “Trên núi Bân cờ đỏ chạm trời xanh/ Ngựa trắng hí ba tiếng, trời Nam nổi gió lành…”. Cái giọng khàn lửng lơ trong tâm hồn cùng nỗi ưu tư trên vùng đất lần đầu tiên cô và Hân đến.
“Trời vẫn trong như hôm nào người cưỡi ngựa trắng lên núi Bân tế trời…”. Hân nhẩm câu hát, lẫn trong dòng kể của bác Lư về lễ khánh thành tượng Quang Trung. Bác còn nói hồi xưa mỗi khi gió Nam nổi lên là y rằng tiếng ngựa hí lồng… Ngọc lặng lẽ ngồi lại chỗ cũ trên chiếc chõng của bác Lư. Hân ở một phía khác của miền lịch sử. Anh thấy rõ hơn đội quân áo vải. Nguyễn Huệ cưỡi ngựa trắng, thề trước trời đất: “Một trận dẹp quân Thanh, cứu dân khỏi nạn lầm than”.
Ngọc quay vào vách lều, mắt nhắm hờ, trong tưởng tượng hiện ra cảnh ngựa trắng đứng giữa đàn tế, cờ bay, tiếng trống dội. Quang Trung gươm giơ cao, mắt sáng hướng về Bắc. Rồi cô thấy nắng đầy tay, những ngọn cỏ nghiêng theo gió. Đất thiêng.
- Rồi, xong nha! - Tiếng bác Lư phá tan không gian của hai người.
Ngọc đứng dậy, trước lúc rời lều bác Lư, cô ngoái nhìn tượng Quang Trung sừng sững trong nắng, bóng đổ dài như thanh kiếm báu. Chiếc xe máy đường trường đi về hướng ra chợ An Cựu, Ngọc nhìn qua gương chiếu hậu còn thấy bức tượng.
- Em hồi nãy nói chuyện gì với người đó mà lâu thế.
Ngọc nhớ ra, nhanh nhảu:
- Anh ta kiểu trong đội hướng dẫn viên free cho du khách đó. Ảnh nói chiều về có nắng xiên qua vai tượng với thanh gươm, ít người phát hiện ra.
- Vậy à, rất hay. Chiều mình quay lại nhỉ, anh muốn chụp khoảnh khắc đó.
Ngọc ừm. Hân tiếp luôn:
- Mình mua gì tặng bác Lư em nhỉ?
- Tùy anh.
Chiều trở lại, Hân không còn thấy bác Lư, chắc hôm nay bác có việc về sớm. Anh băn khoăn với gói đồ trong tay, hỏi Ngọc:
- Để lại đây có mất không em?
- Thì anh lấy bút ghi vào rồi gác lên mái lều, à, chỗ bác Lư nằm trên chõng nhìn lên là thấy ấy.
Màu trời nghiêng dần về phía tượng. Cỏ bên đường ánh lên lớp bụi mỏng. Ngọc một mạch đi về phía chân núi Ngự Bình. Triền đất thoai thoải, tán thông già vất vơ theo gió. Lá thông mùa này rất khác mùa thu, không vàng óng mà loang xanh đỏ. Ngọc cúi nhặt vài quả thông nằm lẫn trong lớp lá. Cô sẽ mang về làm kỷ niệm như mang theo chút gió Bân của buổi sáng và những câu chuyện mênh mang trên dòng sử cũ. Có người phụ nữ đằng kia đang khom mình gom lá và cành thông. Bây giờ vẫn còn nấu bếp củi, Ngọc thầm nghĩ, thấy vui vui.
Hân đeo máy ảnh vào người, cân chỉnh thông số đi ra tượng chụp vầng mây sắp sửa.
Mấy quả thông được ém chặt trong tay Ngọc, chút nhựa vương đầu ngón. Ngọc hái nắm hoa dại, trở lại lều bác Lư. Thấy cuốn sổ vẫn dắt ở vách sát chõng, Ngọc dựng nắm hoa dại được buộc bằng dây cỏ gà cạnh bên: “Cho bác”, giọng rất khẽ, “để khi nào gió Bân thổi, bác biết là có người nhớ đến”.
“Cho bác”, Ngọc như nhắc lại trong gió. Mấy cánh hoa rơi xuống, nằm im trên đất.
Ngọc đến bên Hân đang hướng ống kính lên bầu trời sẫm dần. Nắng xiên qua vai tượng loang xuống bậc đá. Mặt trời rực từ dưới mảng mây hướng bay về phương Bắc. Tượng Quang Trung sừng sững giữa viền trời ngả tím. Những dải ánh vàng từ trong mây tỏa lên lộng lẫy.
- Ồ…
Hân say sưa bấm máy. Khi anh cúi xuống che màn hình để xem, mây hồng lên.
Ngọc kêu: - Kìa, anh coi…
Vệt mây vừa tách ra, dáng bờm tung, như bóng ngựa phi giữa khoảng không mờ ảo. Một tia sáng rơi xuống mặt tượng, chạm vào thanh gươm loang loáng. Ánh nắng cuối cùng óng ánh ngọc phỉ thúy rồi lịm vào vầng tím.
Ngọc nhìn vệt sáng chạm lưỡi gươm, chợt nhớ ngọn gió sáng nay; nhớ khuôn mặt chàng trai lạ nói chuyện với mình. Lúc Ngọc qua bên núi Ngự, quay lại chào tạm biệt, người đã rời đi lúc nào. Căn lều của bác Lư cũng hồ như tan giữa sóng nắng bồng bềnh.
Gió phiêu diêu. Cỏ rợp rờn. Ngọc thảng thốt: “Chắc người về phương Bắc, chắc gió mây đã cưỡi ngựa về phương Bắc…”.
N.N

