Giới thiệu
Tin tứcSự kiện & Đối thoại
Sáng Tác
Nghệ thuật
Lý luận & Phê bìnhNgười & Đất quê hương
MultiMedia
Zalo

Ký ức người đội trưởng Đội Thiếu niên tiền phong Xuân - Phiên - Hà

LÊ THI    23/05/2026    3
Xuân - Phiên - Hà là cách gọi tắt trìu mến, giản dị của bà con nhân dân về ba thôn Dương Xuân, Duy Phiên và Hà La hợp thành vùng đất cù lao Bắc Phước (xã Triệu Phước, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị cũ, nay là xã Nam Cửa Việt, tỉnh Quảng Trị). Trong lịch sử đấu tranh cách mạng, mảnh đất này là một địa danh giàu truyền thống yêu nước. Đặc biệt, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tên gọi thân thương Xuân - Phiên - Hà lại được gắn cho một tổ chức cách mạng anh hùng, bất khuất, “tuổi nhỏ - chí lớn”, đó là Đội Thiếu niên tiền phong Xuân - Phiên - Hà.


Cù lao Bắc Phước nằm giữa hai nhánh sông cuối dòng Thạch Hãn - Ảnh: Hồ Thanh ThọCù lao Bắc Phước nằm giữa hai nhánh sông cuối dòng Thạch Hãn - Ảnh: Hồ Thanh Thọ

Một chiều giữa tháng tư chúng tôi đến thăm ông Trương Kim Quy (khu phố 4, phường Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị), người đội trưởng Đội Thiếu niên tiền phong Xuân - Phiên - Hà xưa trên vùng đất cù lao Bắc Phước. Mặc dù ở vào cái tuổi xưa nay hiếm nhưng ông Quy vẫn rất hoạt bát, minh mẫn khi chuyện trò về những ngày tháng cùng nhân dân nuôi giấu cán bộ cách mạng nằm vùng để hoạt động chiến đấu chống Mỹ cứu nước ở giai đoạn chiến tranh khốc liệt nhất.

Theo ông Trương Kim Quy, vùng đất cù lao Bắc Phước nằm cuối dòng sông Thạch Hãn và nằm án ngữ trên tuyến đường thủy Cửa Việt - Đông Hà. Trong chiến tranh, Mỹ coi đây là tuyến đường huyết mạch để tiếp tế hàng hóa, vũ khí, quân trang, quân dụng cho vùng Quảng Trị và đường 9 - Nam Lào. Đối với chúng ta thì Xuân - Phiên - Hà là một trong những địa bàn quan trọng, là tuyến hành lang vận chuyển vũ khí, quân trang, quân dụng từ Vĩnh Linh, Gio Linh vào Triệu Phong, Hải Lăng… Vì thế, sự đối kháng giữa ta và địch trên vùng đất này ngày càng gay gắt, ác liệt. Nhằm bảo toàn cơ sở và cán bộ cách mạng, ngoài việc thành lập các tổ chức, cấp trên đã đồng ý cho thành lập Đội Thiếu niên tiền phong vào ngày 26/3/1965. Ban đầu gồm 15 đội viên, đến năm 1967 phát triển thêm 8 đội viên, do Trương Văn Bảo phụ trách đội trưởng và Trương Kim Quy làm đội phó (sau đó làm đội trưởng từ năm 1968 - 1969).

Đội Thiếu niên tiền phong Xuân - Phiên - Hà có nhiệm vụ phối hợp cùng nhân dân và các tổ chức cách mạng khác để nắm tình hình diễn biến, nơi ăn, chốn ở, cảnh giới phát hiện ổ phục kích của địch nhằm bảo vệ an toàn cho cơ sở và cán bộ hoạt động cách mạng. Không kể thời gian đêm ngày, lúc chăn trâu, cắt cỏ hay buông lưới đánh cá trên sông, hễ có dấu hiệu nghi ngờ là thực hiện mật báo cho tổ chức. Như có lần đội trưởng Trương Văn Bảo phát hiện địch cho quân đến bao vây một cơ sở nuôi giấu cán bộ cách mạng khi đang chăn trâu giữa cánh đồng làng, ông liền nhanh trí xua trâu đến chọi nhau. Thấy những con trâu mộng húc nhau tung tóe bọn địch dừng lại xem, nhân đó ông có đủ thời gian chạy về báo cho cơ sở kịp thời che giấu cán bộ cách mạng.

Một lần khác khi trời tờ mờ sáng, quân địch bất ngờ đổ bộ lên đất cù lao Bắc Phước, tổ chức liền bố trí hai đội viên Trần Văn Nhơn và Trương Kim Quy giả dạng đi bủa lưới bắt cá, vượt qua nhiều tốp lính Mỹ để báo cho cơ sở ta che giấu cán bộ được an toàn. Nhiều đội viên khác cũng vậy, khi đi làm nhiệm vụ nếu gặp quân địch dù chúng có hung hăng đá đít, nhéo tai đến tươm máu vẫn quyết không sợ, tìm mọi cách ứng xử để bảo vệ cơ sở cách mạng, và khi có được thời cơ là tiêu diệt địch. Ngoài việc hóa trang giả dạng để che tai mắt địch, các đội viên còn tham gia đào hầm bí mật, đục lỗ thông hơi, có những đêm mưa rét vẫn cùng nhau lặn lội chèo ghe, thuyền đưa cán bộ và bộ đội qua sông, tham gia làm giao liên dẫn đường cho bộ đội, cán bộ đi về công tác…

Cuộc chuyện trò của chúng tôi đang sôi nổi bỗng nét mặt ông Quy chùng xuống, đôi mắt đỏ hoe, im lặng hồi lâu rồi ông chậm rãi kể về sự hy sinh anh dũng của người đội trưởng gan dạ, mưu trí Trương Văn Bảo. “Năm 1967, được sự đồng ý của tổ chức, đội trưởng Trương Văn Bảo nhận nhiệm vụ làm giao liên cho Huyện ủy Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Khi ấy tuổi Bảo vừa tròn mười lăm. Gia cảnh vô cùng nghèo khó, có hai anh trai đã hy sinh, anh thứ ba là thương binh nặng, bản thân phải đi chăn trâu thuê để phụ giúp gia đình. Mặc dù hoàn cảnh gia đình hết sức khó khăn nhưng anh sẵn sàng nhận nhiệm vụ, thể hiện tinh thần trách nhiệm, lòng trung thành tuyệt đối với Đảng và nhân dân. Và trong một lần thực hiện nhiệm vụ mang thư mật cho cơ sở, anh rơi vào ổ phục kích của địch. Bị truy đuổi ráo riết, Trương Văn Bảo vừa chạy vừa tìm cách tiêu hủy tài liệu bằng cách cho vào miệng rồi nhai nát để giữ bí mật cho cách mạng. Khi không còn đường thoát, anh đã dùng lựu đạn tiêu diệt địch rồi anh dũng hy sinh bên bờ cát trắng quê hương… Cũng như Trương Văn Bảo, tiếp nối truyền thống chiến đấu kiên cường, bất khuất, tháng 2 năm 1969, đội viên Trần Văn Nhơn hy sinh trong một trận phục kích khi đang làm nhiệm vụ. Trần Văn Nhơn ngã xuống trong sự tiếc thương vô hạn của đồng đội và bà con nhân dân. Sự hy sinh của Trương Văn Bảo, Trần Văn Nhơn đã trở thành biểu tượng bất khuất của tuổi trẻ trong cuộc trường chinh kháng chiến, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do cho Tổ quốc…”.

Với nhiều cách thức giả dạng để vượt qua tai mắt địch nhằm bảo vệ cán bộ hoạt động, tiếp tế hàng hóa, vũ khí, quân trang, quân dụng chiến đấu… nhưng việc trực đèn tín hiệu của ông Quy và đồng đội cho thuyền vượt sông vận chuyển vũ khí vào tuyến trong để lại ấn tượng sâu đậm trong những năm kháng chiến. Đây là việc nghe qua tưởng chừng đơn giản, nhưng thực tế rất khó thực hiện bởi cần sự phối hợp nắm bắt thông tin chặt chẽ, nhịp nhàng, chính xác của nhiều tổ chức. Họ phải cùng các chị, các mẹ nhà ở gần bến đò làng An Cư và Hà La làm nhiệm vụ, nếu không sẽ tổn thất nhân lực, vật lực rất nặng nề. Để nhận được thông tin có địch vây ráp, mai phục hay không thì từ sáng sớm các đội viên Đội Thiếu niên tiền phong Xuân - Phiên - Hà cùng các lực lượng cơ sở khác suốt ngày bám dọc bờ sông quan sát nắm tình hình địch đi càn quét ở khu vực nào, có mật vụ không, và nếu địch đi thì nó rút về hay ở lại… Trời càng về chiều tối việc quan sát, cảnh giới địch càng phải kỹ càng, chặt chẽ hơn. Theo mật hiệu, mỗi lần thực hiện nhiệm vụ thì ở hai bến đò mỗi bên có ba ngọn đèn lần lượt được các chị, các mẹ thắp sáng. Tín hiệu ấy như ngầm thông tin tình hình đã bảo đảm an toàn tuyệt đối, các thuyền vận chuyển bắt đầu xuất bến và khi thuyền đến nơi an toàn thì tắt đèn. Ngược lại, khi không nhìn thấy những ngọn đèn sáng thì những đò vận chuyển cũng như những người hoạt động cách mạng hiểu rằng địch đang hoạt động và mật phục… Có lẽ hình ảnh những ngọn đèn dầu giữa đêm đen nơi cuối dòng Thạch Hãn những năm chiến tranh bom đạn ác liệt đã trở thành một biểu tượng đẹp về tình quân dân, về sự thủy chung, son sắt của lòng dân cù lao Bắc Phước với sự nghiệp đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất quê hương, đất nước.

Ngoài hình ảnh những ngọn đèn tín hiệu biểu tượng đẹp lưu vào ký ức, trên khúc sông còn có hai bến đò An Cư và Hà La với một trận đánh không thể nào quên. Ông Trương Kim Quy kể rằng, do nắm được quy luật của địch là đêm đi ngủ, sáng chia từng mũi nhỏ về địa bàn, nên đêm ngày 29/8/1967, du kích xã phối hợp với lực lượng vũ trang huyện bố trí hai mũi, một ở An Cư, một ở Xuân - Phiên - Hà bí mật giấu quân, sáng sớm địch qua sông thì xuất kích tiêu diệt. Đúng 9 giờ, một trung đội địch do tên Sáng làm trung đội trưởng chỉ huy từ Xuân - Phiên - Hà qua đò đi An Cư, khi đến An Cư ta xuất kích chặn đánh buộc chúng phải quay lại Xuân - Phiên - Hà. Tại đây, địch bị lực lượng của ta chặn đánh nên tháo chạy tán loạn, một số nhảy xuống sông, ta diệt được nhiều tên, trong đó có tên trung đội trưởng, bắt sống một số khác, thu toàn bộ vũ khí, máy vô tuyến,... Cay cú vì thất bại, sáng hôm sau, địch chặt hạ toàn bộ lũy tre của thôn Hà La và bắt bớ, tra tấn, đàn áp những gia đình có con em tham gia kháng chiến ở Xuân - Phiên - Hà. Mặc dù vậy, quần chúng nhân dân vẫn kiên cường chịu đựng, không khuất phục trước sự tàn bạo của địch, một lòng hướng về cách mạng.

Mấy mươi năm chiến tranh đã lùi xa, đất nước đã hòa bình, thống nhất. Nhưng truyền thống cách mạng, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do cho Tổ quốc của Đội Thiếu niên tiền phong Xuân - Phiên - Hà vẫn luôn được các thế hệ hôm nay và mai sau trân trọng, gìn giữ và phát huy… Với những chiến công và hy sinh to lớn đó, tại Đại hội Thi đua Quyết thắng cuối năm 1967 của huyện Triệu Phong, Đội Thiếu niên tiền phong Xuân - Phiên - Hà đã vinh dự được tuyên dương danh hiệu “Tuổi nhỏ - chí lớn” và được trao tặng Huy chương Quyết thắng. Đây là sự ghi nhận xứng đáng đối với những cống hiến thầm lặng nhưng vô cùng lớn lao, là tài sản tinh thần vô giá, là nguồn động viên to lớn để các thế hệ hôm nay tiếp tục xây dựng quê hương ngày càng văn minh, giàu đẹp.

L.T