Cù lao Bắc Phước nằm giữa hai nhánh sông cuối dòng Thạch Hãn - Ảnh: Hồ Thanh ThọMột chiều giữa tháng tư chúng tôi đến thăm ông Trương Kim Quy (khu
phố 4, phường Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị), người đội trưởng Đội Thiếu niên tiền
phong Xuân - Phiên - Hà xưa trên vùng đất cù lao Bắc Phước. Mặc dù ở vào cái
tuổi xưa nay hiếm nhưng ông Quy vẫn rất hoạt bát, minh mẫn khi chuyện trò về
những ngày tháng cùng nhân dân nuôi giấu cán bộ cách mạng nằm vùng để hoạt động
chiến đấu chống Mỹ cứu nước ở giai đoạn chiến tranh khốc liệt nhất.
Theo ông Trương
Kim Quy, vùng đất cù lao Bắc Phước nằm cuối dòng sông Thạch Hãn và nằm án ngữ
trên tuyến đường thủy Cửa Việt - Đông Hà. Trong chiến tranh, Mỹ coi đây là
tuyến đường huyết mạch để tiếp tế hàng hóa, vũ khí, quân trang, quân dụng cho
vùng Quảng Trị và đường 9 - Nam Lào. Đối với chúng ta thì Xuân - Phiên - Hà là
một trong những địa bàn quan trọng, là tuyến hành lang vận chuyển vũ khí, quân
trang, quân dụng từ Vĩnh Linh, Gio Linh vào Triệu Phong, Hải Lăng… Vì thế, sự
đối kháng giữa ta và địch trên vùng đất này ngày càng gay gắt, ác liệt. Nhằm
bảo toàn cơ sở và cán bộ cách mạng, ngoài việc thành lập các tổ chức, cấp trên
đã đồng ý cho thành lập Đội Thiếu niên tiền phong vào ngày 26/3/1965. Ban đầu
gồm 15 đội viên, đến năm 1967 phát triển thêm 8 đội viên, do Trương Văn Bảo phụ
trách đội trưởng và Trương Kim Quy làm đội phó (sau đó làm đội trưởng từ năm
1968 - 1969).
Đội Thiếu niên
tiền phong Xuân - Phiên - Hà có nhiệm vụ phối hợp cùng nhân dân và các tổ chức
cách mạng khác để nắm tình hình diễn biến, nơi ăn, chốn ở, cảnh giới phát hiện
ổ phục kích của địch nhằm bảo vệ an toàn cho cơ sở và cán bộ hoạt động cách
mạng. Không kể thời gian đêm ngày, lúc chăn trâu, cắt cỏ hay buông lưới đánh cá
trên sông, hễ có dấu hiệu nghi ngờ là thực hiện mật báo cho tổ chức. Như có lần
đội trưởng Trương Văn Bảo phát hiện địch cho quân đến bao vây một cơ sở nuôi
giấu cán bộ cách mạng khi đang chăn trâu giữa cánh đồng làng, ông liền nhanh
trí xua trâu đến chọi nhau. Thấy những con trâu mộng húc nhau tung tóe bọn địch
dừng lại xem, nhân đó ông có đủ thời gian chạy về báo cho cơ sở kịp thời che
giấu cán bộ cách mạng.
Một lần khác
khi trời tờ mờ sáng, quân địch bất ngờ đổ bộ lên đất cù lao Bắc Phước, tổ chức
liền bố trí hai đội viên Trần Văn Nhơn và Trương Kim Quy giả dạng đi bủa lưới
bắt cá, vượt qua nhiều tốp lính Mỹ để báo cho cơ sở ta che giấu cán bộ được an
toàn. Nhiều đội viên khác cũng vậy, khi đi làm nhiệm vụ nếu gặp quân địch dù
chúng có hung hăng đá đít, nhéo tai đến tươm máu vẫn quyết không sợ, tìm mọi
cách ứng xử để bảo vệ cơ sở cách mạng, và khi có được thời cơ là tiêu diệt địch.
Ngoài việc hóa trang giả dạng để che tai mắt địch, các đội viên còn tham gia
đào hầm bí mật, đục lỗ thông hơi, có những đêm mưa rét vẫn cùng nhau lặn lội
chèo ghe, thuyền đưa cán bộ và bộ đội qua sông, tham gia làm giao liên dẫn
đường cho bộ đội, cán bộ đi về công tác…
Cuộc chuyện trò
của chúng tôi đang sôi nổi bỗng nét mặt ông Quy chùng xuống, đôi mắt đỏ hoe, im
lặng hồi lâu rồi ông chậm rãi kể về sự hy sinh anh dũng của người đội trưởng gan dạ, mưu trí Trương Văn
Bảo. “Năm 1967, được sự đồng ý của tổ chức, đội trưởng Trương Văn Bảo nhận
nhiệm vụ làm giao liên cho Huyện ủy Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Khi ấy tuổi
Bảo vừa tròn mười lăm. Gia cảnh vô cùng nghèo khó, có hai anh trai đã hy sinh,
anh thứ ba là thương binh nặng, bản thân phải đi chăn trâu thuê để phụ giúp gia
đình. Mặc dù hoàn cảnh gia đình hết sức khó khăn nhưng anh sẵn sàng nhận nhiệm
vụ, thể hiện tinh thần trách nhiệm, lòng trung thành tuyệt đối với Đảng và nhân
dân. Và trong một lần thực hiện nhiệm vụ mang thư mật cho cơ sở, anh rơi vào ổ phục
kích của địch. Bị truy đuổi ráo riết, Trương Văn Bảo vừa chạy vừa tìm cách tiêu
hủy tài liệu bằng cách cho vào miệng rồi nhai nát để giữ bí mật cho cách mạng.
Khi không còn đường thoát, anh đã dùng lựu đạn tiêu diệt địch rồi anh dũng hy
sinh bên bờ cát trắng quê hương… Cũng như Trương Văn Bảo, tiếp nối truyền thống
chiến đấu kiên cường, bất khuất, tháng 2 năm 1969, đội viên Trần Văn Nhơn hy
sinh trong một trận phục kích khi đang làm nhiệm vụ. Trần Văn Nhơn ngã xuống
trong sự tiếc thương vô hạn của đồng đội và bà con nhân dân. Sự hy sinh của
Trương Văn Bảo, Trần Văn Nhơn đã trở thành biểu tượng bất khuất của tuổi trẻ
trong cuộc trường chinh kháng chiến, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do cho Tổ
quốc…”.
Với nhiều cách
thức giả dạng để vượt qua tai mắt địch nhằm bảo vệ cán bộ hoạt động, tiếp tế
hàng hóa, vũ khí, quân trang, quân dụng chiến đấu… nhưng việc trực đèn tín hiệu
của ông Quy và đồng đội cho thuyền vượt sông vận chuyển vũ khí vào tuyến trong
để lại ấn tượng sâu đậm trong những năm kháng chiến. Đây là việc nghe qua tưởng
chừng đơn giản, nhưng thực tế rất khó thực hiện bởi cần sự phối hợp nắm
bắt thông tin chặt chẽ, nhịp nhàng, chính xác của nhiều tổ chức. Họ phải cùng
các chị, các mẹ nhà ở gần bến đò làng An Cư và Hà La làm nhiệm vụ, nếu không sẽ
tổn thất nhân lực, vật lực rất nặng nề. Để nhận được thông tin có địch vây ráp,
mai phục hay không thì từ sáng sớm các đội viên Đội Thiếu niên tiền phong Xuân
- Phiên - Hà cùng các lực lượng cơ sở khác suốt ngày bám dọc bờ sông quan sát
nắm tình hình địch đi càn quét ở khu vực nào, có mật vụ không, và nếu địch đi
thì nó rút về hay ở lại… Trời càng về chiều tối việc quan sát, cảnh giới địch
càng phải kỹ càng, chặt chẽ hơn. Theo mật hiệu, mỗi lần thực hiện nhiệm vụ thì
ở hai bến đò mỗi bên có ba ngọn đèn lần lượt được các chị, các mẹ thắp sáng.
Tín hiệu ấy như ngầm thông tin tình hình đã bảo đảm an toàn tuyệt đối, các
thuyền vận chuyển bắt đầu xuất bến và khi thuyền đến nơi an toàn thì tắt đèn.
Ngược lại, khi không nhìn thấy những ngọn đèn sáng thì những đò vận chuyển cũng
như những người hoạt động cách mạng hiểu rằng địch đang hoạt động và mật phục…
Có lẽ hình ảnh những ngọn đèn dầu giữa đêm đen nơi cuối dòng Thạch Hãn những
năm chiến tranh bom đạn ác liệt đã trở thành một biểu tượng đẹp về tình quân
dân, về sự thủy chung, son sắt của lòng dân cù lao Bắc Phước với sự nghiệp đấu
tranh cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất quê hương, đất nước.
Ngoài hình ảnh
những ngọn đèn tín hiệu biểu tượng đẹp lưu vào ký ức, trên khúc sông còn có hai
bến đò An Cư và Hà La với một trận đánh không thể nào quên. Ông Trương Kim Quy
kể rằng, do nắm được quy luật của địch là đêm đi ngủ, sáng chia từng mũi nhỏ về
địa bàn, nên đêm ngày 29/8/1967, du kích xã phối hợp với lực lượng vũ trang
huyện bố trí hai mũi, một ở An Cư, một ở Xuân - Phiên - Hà bí mật giấu quân,
sáng sớm địch qua sông thì xuất kích tiêu diệt. Đúng 9 giờ, một trung đội địch
do tên Sáng làm trung đội trưởng chỉ huy từ Xuân - Phiên - Hà qua đò đi An Cư,
khi đến An Cư ta xuất kích chặn đánh buộc chúng phải quay lại Xuân - Phiên
- Hà. Tại đây, địch bị lực lượng của ta chặn đánh nên tháo chạy tán loạn, một
số nhảy xuống sông, ta diệt được nhiều tên, trong đó có tên trung đội trưởng,
bắt sống một số khác, thu toàn bộ vũ khí, máy vô tuyến,... Cay cú vì thất bại,
sáng hôm sau, địch chặt hạ toàn bộ lũy tre của thôn Hà La và bắt bớ, tra tấn,
đàn áp những gia đình có con em tham gia kháng chiến ở Xuân - Phiên - Hà. Mặc
dù vậy, quần chúng nhân dân vẫn kiên cường chịu đựng, không khuất phục trước sự
tàn bạo của địch, một lòng hướng về cách mạng.
Mấy mươi năm
chiến tranh đã lùi xa, đất nước đã hòa bình, thống nhất. Nhưng truyền thống
cách mạng, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do cho Tổ quốc của Đội Thiếu niên
tiền phong Xuân - Phiên - Hà vẫn luôn được các thế hệ hôm nay và mai sau trân trọng,
gìn giữ và phát huy… Với những chiến công và hy sinh to lớn đó, tại Đại hội Thi
đua Quyết thắng cuối năm 1967 của huyện Triệu Phong, Đội Thiếu niên tiền phong
Xuân - Phiên - Hà đã vinh dự được tuyên dương danh hiệu “Tuổi nhỏ - chí lớn” và
được trao tặng Huy chương Quyết thắng. Đây là sự ghi nhận xứng đáng đối với
những cống hiến thầm lặng nhưng vô cùng lớn lao, là tài sản tinh thần vô giá,
là nguồn động viên to lớn để các thế hệ hôm nay tiếp tục xây dựng quê hương
ngày càng văn minh, giàu đẹp.
L.T
