Đã từng nghe chuyện tỉnh Quảng Bình thời kháng chiến chống Mỹ có
thành lập một “đoàn tàu không số” cho riêng địa phương này, tôi đem thắc mắc đó
hỏi người dân Cảnh Dương. Ông Nguyễn Văn Biểu quả quyết: “Đúng là như vậy. Tuy
nó không chính thức mang tên là Đoàn tàu không số nhưng hình thức tổ chức và
hoạt động cũng gần như thế. Đây là đoàn tàu vận tải đặc biệt mang ký hiệu VT5
và chỉ tham gia chở một chuyến hàng duy nhất vào chi viện cho chiến
trường Trị Thiên. Chiến công này đã được ghi vào cuốn Lịch sử Đảng bộ
Quảng Bình, giai đoạn 1954 - 1975. Nhiều bà con Cảnh Dương trong đó có tôi đã
tham gia chuyến đi lịch sử này”.
Ba ngày Tết Mậu Thân 1968 vừa mới đi qua, cả làng Cảnh Dương bỗng nhận được một thông tin rất quan trọng. Ông Nguyễn Kỉnh, Tỉnh đội phó Tỉnh đội Quảng Bình về tận vùng biển này truyền đạt chỉ thị cấp trên chuẩn bị cho chuyến vận tải vũ khí vào Trị Thiên. Sau khi xem xét kỹ, 71 người dân Cảnh Dương được lựa chọn, trong đó có 20 đảng viên. Tỉnh đội Quảng Bình cử ông Đậu Thanh Long, Tham mưu trưởng Tiểu đoàn 45 làm đoàn trưởng. Biên chế đơn vị trên 12 thuyền, mỗi thuyền là một tiểu đội gồm 6 người, ba thuyền là một trung đội. Toàn đoàn là một đại đội. Trẻ nhất đoàn là Nguyễn Văn Biểu khi ấy mới 16 tuổi, già nhất là ông Nguyễn Đái đã 70 tuổi.
Ông Phạm Ngọc
Hướng (65 tuổi), một thành viên của đoàn ngày ấy kể với chúng tôi: “Tôi đã có
lệnh nhập ngũ, nhưng vẫn xung phong đi chuyến này dù biết rằng vô cùng nguy
hiểm. Mình cứ nghĩ đơn giản đi mươi ngày nửa tháng rồi về, vẫn còn kịp đi bộ
đội. Ai ngờ...”.
Ngày nay, từ
Đông Hà ra Đồng Hới chạy trên Quốc lộ 1 khoảng chừng một tiếng rưỡi đồng hồ.
Nhưng ngày ấy họ phải đi mất đến 9 tháng trời. Vậy là vào thời điểm khó khăn,
ác liệt vào bậc nhất, đồng bào, chiến sĩ ở chiến trường Quảng Trị đã nhận
được sự chi viện bằng tất cả tấm lòng và không tiếc máu xương của những người
anh em Quảng Bình thân thiết.
Trước ngày lên
đường, làng Cảnh Dương tổ chức lễ truy điệu sống cho những người con cảm tử vì
Tổ quốc. Ai nấy xúc động, rưng rưng với lời nguyền quyết xả thân mình để hoàn
thành nhiệm vụ. Hôm nay nhắc lại, nhiều người mắt vẫn đỏ hoe.
17 giờ ngày
12/1 âm lịch năm đó, đoàn thuyền xuất phát từ Cảnh Dương, lợi dụng gió mùa Đông
Bắc cấp 5, cấp 6 và sương mù dày đặc. Rạng sáng hôm sau, đơn vị này đã đến
Quảng Phú. Tại đây, Tỉnh đội Quảng Bình đón họ về nơi tập kết sau chặng đường
đầu tiên xuôi chèo mát mái. Ông Trần Sự, Tỉnh đội trưởng đến thăm hỏi động
viên, quán triệt nhiệm vụ lần này. Cấp trên rà soát lại các phương án đi đường,
tác chiến, hậu cần, chuẩn bị ứng phó với mọi tình huống bất trắc có thể xảy ra.
Đoàn thuyền nhận được 24 tấn vũ khí gồm đạn B.40, B.41, cối 82, thuốc nổ TNT,
súng AK, CKC..., lương thực, thuốc men và vũ khí chiến đấu. Họ lại tiếp tục
hành quân dưới lớp vỏ ngụy trang là các thuyền đánh cá. Gian khổ, nguy nan đang
chực chờ trước mặt.
Xuất phát trong
đêm tối, nương theo gió mùa Đông Bắc, sau một đêm vất vả, khẩn trương chịu đựng
sóng to gió lớn bãi ngang, rạng ngày rằm tháng Giêng, đoàn thuyền mới đến được
Vũng Si - Vĩnh Linh (Quảng Trị). Đơn vị dừng chân, ngụy trang lại thuyền chờ
trời tối lại đi nhưng đã bị địch phát hiện. Đối phương lập tức cho máy bay ném
bom, tàu chiến bắn pháo cấp tập. Một thuyền bị chìm, mấy thuyền khác bị hỏng.
Chỉ huy ra lệnh cứu hàng, trai tráng trong đoàn bất chấp hiểm nguy, băng ra cứu
vũ khí, đạn dược.
Ở Vĩnh Linh họ
lại được làm lễ truy điệu sống lần thứ hai. Ông Biểu nhớ lại: “Mới đụng trận
đầu, đoàn chỉ còn lại 8 thuyền. Chi bộ họp khẩn cấp, hạ quyết tâm phải hoàn
thành nhiệm vụ. Trước mắt là chặng đường nguy hiểm nhất, phải vượt qua vĩ tuyến
17, vượt qua Cửa Việt, nơi có một quân cảng đáng gờm của địch. Tình hình đã có
thay đổi, còn 8 thuyền thì chỉ cần 48 người khỏe mạnh cùng đi, 20 người ở lại
sửa thuyền, rồi tìm đường quay về”.
Địch đã phát
hiện đoàn thuyền lạ nên tăng cường tuần tra. Ngoài khơi thì tàu chiến lùng sục
đêm ngày, ven bờ thì ca nô tuần tiễu, trên trời máy bay quần đảo liên tục, tối
đến là bắn pháo sáng để ngăn ngừa xâm nhập. Tình hình mỗi lúc một khó khăn.
Đoàn thuyền cứ chờ đêm xuống ngậm tăm mà đi sát bờ men theo con sóng để tránh
chạm địch. Qua được Cửa Tùng, mới vào đến Cát Sơn, xã Trung Giang, huyện Gio
Linh (nay là xã Bến Hải) lại bị địch phát hiện. Đối phương cho tàu chiến ngoài
khơi pha đèn, máy bay thả pháo sáng, rực một góc trời. Lại thêm tiếng loa gọi
hàng, tiếng súng uy hiếp, siết chặt vòng vây hòng bắt sống đoàn thuyền vận tải.
Cả đơn vị hội ý tìm cách đối phó. Đoàn thuyền chia thành hai hướng, mỗi hướng 4
thuyền. Hướng thứ nhất do các ông Nguyễn Ngọc Liên, Trần Em, Hồ Khắc Nông, Phạm
Đờn chỉ huy tiến vòng ra khơi để tránh tàu địch, hướng thứ hai gồm 4 thuyền còn
lại do các ông Đậu Thanh Long, Phạm Minh, Lê Lộc, Nguyễn Tường chỉ huy tiến sát
gần bờ, lợi dụng bóng tối sóng ngả để vượt lên.
Hướng ra khơi
do ông Phạm Đờn đi đầu khi vượt qua Cửa Việt bị địch phát hiện và lập tức cho
ca nô rượt theo. Biết không qua được, ông Phạm Đờn cho đánh đắm thuyền, chấp
nhận địch bắt người nhưng không thu được vũ khí. Ba chiếc đi sau phải quay lại
Vĩnh Linh, giao vũ khí cho du kích. Lợi dụng địch đang bận vây bắt 4 thuyền
ngoài khơi, 4 thuyền còn lại vượt qua cuộc truy đuổi ác liệt, cập bến tại địa
bàn Quảng Trị. Họ bàn giao 10 tấn vũ khí cho quân dân nơi đây. Nhưng sau hôm
đó, ông Hướng đã bị địch bắt trong một trận càn ở xã Triệu Vân, huyện Triệu
Phong (nay là xã Nam Cửa Việt). Ông bị tra tấn dã man, đưa từ nhà tù Đà Nẵng ra
Phú Quốc, đến sau Hiệp định Paris mới được trao trả bên sông Thạch Hãn. Vậy là
ông đi 5 năm mới được trở về.
Ông Nguyễn Văn
Biểu hồi tưởng: Đầu tháng 6/1968, thành viên đoàn thuyền cảm tử được lệnh lên
trạm giao liên 205 Trường Sơn, tham gia chống càn, vận tải lương thực, tải
thương. Rồi lại tiếp tục trèo đèo lội suối ròng rã gần một tháng trời qua tận
đất Lào, theo đường Savannakhet - Đèo Mụ Dạ, Cha Lo - Bãi Dinh - La Trọng -
Cổng Trời... những địa danh nổi tiếng trong chiến tranh. Mãi đến tháng 9 mới về
được quê nhà.
P.X.D
