Người con của vùng đất lửa Quảng Trị và những năm tháng quân ngũ
Võ Quang Thuận
sinh ngày 10/10/1960, tại làng Gia Đặc, xã Triệu Lăng, huyện Triệu Phong (nay
là xã Triệu Cơ), tỉnh Quảng Trị. Anh là con thứ sáu trong một gia đình có tám
anh chị em, gồm sáu trai, hai gái. Bố mẹ anh là ông Võ Hữu Ấm và bà Đặng Thị
Phú, đều làm nghề buôn bán nhỏ các mặt hàng tiểu thủ công nghiệp, ngư cụ và ngư
sản. Họ thu mua ngư sản từ quê đưa vào Huế tiêu thụ, đồng thời mang ngư cụ và
các vật dụng phục vụ nghề biển từ Huế về cung cấp cho ngư dân địa phương.
Võ Quang
Thuận sinh ra trong thời buổi chiến tranh, loạn lạc. Quảng Trị trước đây vốn đã
nghèo khó, lại là vùng giới tuyến trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, bị chiến
tranh “chà đi xát lại”. Cha của anh từng tham gia kháng chiến chống Pháp, được
tổ chức bố trí ở lại hoạt động bí mật, dưới “lớp vỏ bọc” của một thương nhân
buôn bán nhỏ, có dịp di chuyển nhiều nơi, vừa nắm tình hình, dò la tin tức vừa
làm kinh tài cho cách mạng, nên bị chính quyền Sài Gòn bắt giam qua nhiều nhà
tù ở miền Nam (từ năm 1968 đến 1973), mà lâu nhất là nhà tù Côn Đảo. Sau khi
Hiệp định Paris được ký kết ngày 27/1/1973, đến tháng 10/1974, cha anh được
trao trả tại Lộc Ninh. Đất nghèo, nhà nghèo, cha bị tù tội, nhà đông anh em nên
tuổi trẻ của Võ Quang Thuận vô cùng cơ cực, trôi dạt giữa đôi bờ sông tuyến Bến
Hải, trong khói lửa của đạn bom. Không có phép lạ nào cho sự chắp cánh ước mơ
và khát vọng tuổi thơ dưới gầm trời bão dữ của cuộc chiến tranh khốc liệt và
dai dẳng. Cho nên, dù có sự đảm đang, tảo tần, chắt chiu hết mực của người mẹ
và sự nỗ lực vượt bậc của bản thân, nhưng con đường học vấn của anh cũng chỉ
dừng lại ở lớp 9 (hệ 10 năm) để lao động kiếm sống, phụ giúp gia đình.
Tháng 8/1980,
Võ Quang Thuận tình nguyện gia nhập quân đội, theo sắc lệnh 29-LCT kêu gọi Tổng
động viên toàn quốc để bảo vệ biên giới phía Bắc của Chủ tịch nước Tôn Đức
Thắng. Anh có mặt trong đội ngũ chiến đấu tại khu vực Bắc Thái - Hà Tuyên (nay
thuộc tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Tuyên Quang), trong một đơn vị pháo binh ĐKZ là
K65, được mệnh danh là một trong những “quả đấm thép” của Sư đoàn 320 (tức Đại
đoàn Đồng Bằng), Quân đoàn 3 - một trong sáu đại đoàn chủ lực đầu tiên của Quân
đội Nhân dân Việt Nam, thành lập vào năm 1951. Tuy đơn vị anh là đơn vị phòng
thủ ở tuyến hai, nhưng những gian khổ, hiểm nguy vẫn thường xuyên rình rập. Là
người lính pháo binh thuộc đơn vị quân chủ lực, câu chuyện về những trận “pháo
đối pháo” rực lửa trên bầu trời biên giới… là câu chuyện dài không sao kể hết
trong anh và đồng đội.
Điều quan trọng
hơn, chính những năm tháng gian khổ trong rèn luyện và chiến đấu đã giúp Võ
Quang Thuận trưởng thành, hun đúc bản lĩnh của một người đàn ông quyết đoán,
biết kiên trì vươn tới mục tiêu. Cũng từ môi trường quân ngũ, những tình cảm
đồng đội sâu nặng trong cuộc chiến sinh tử bảo vệ Tổ quốc đã được hình thành và
gìn giữ bền bỉ cho đến hôm nay. Dù đã rời quân ngũ, trong các dịp gặp mặt
truyền thống hay lễ, tết, anh vẫn luôn nhận được sự trân trọng, yêu quý từ đồng
đội cũ với những lời nhắc nhớ chân thành về cách ứng xử và tinh thần sẻ chia,
giúp đỡ hết lòng.
Một đồng đội
của anh, nguyên là chiến sĩ trinh sát pháo thuộc đơn vị pháo cối 120 ly C.14,
nhớ lại: “Ngày ấy, tôi và Thuận đều ở tuổi đôi mươi. Nếu tôi còn là một chiến
sĩ trẻ non nớt, thì Thuận đã sớm chững chạc và đảm nhận cương vị Chỉ huy trong
Đại đội C.15. Trừ những lúc hành quân hay công tác xa, gần như ngày nào tôi
cũng gặp Thuận, khi trực ban, lúc miệt mài trên thao trường, hay trong những
giờ tăng gia lặng lẽ. Khi ấy, Thuận hiện lên giản dị mà đĩnh đạc, mang dáng dấp
chững chạc của một người lính sớm biết sống có trách nhiệm. Nhiều năm sau gặp
lại, nhìn anh trưởng thành trong sự nghiệp, lặng lẽ cống hiến cho ngành cao su
Việt Nam, cho Bình Phước và quê hương Quảng Trị, trong tôi dâng lên niềm cảm
phục xen lẫn tự hào về người đồng đội năm nào.”
Những trăn
trở tìm hướng đi sau ngày xuất ngũ
Năm 1984, Võ
Quang Thuận xuất ngũ với quân hàm Thiếu úy, chuyển về địa phương thăng hàm
Thượng úy sĩ quan dự bị. Trước đó, chỉ huy đơn vị đã nhiều lần động viên anh ở
lại đơn vị chuyển thành sĩ quan chuyên nghiệp, nhưng anh đã suy nghĩ hết sức
cẩn trọng. Anh nhận ra cá tính, tính cách và cả lối sống của mình không phù hợp
với con đường binh nghiệp lâu dài. Là một thanh niên yêu nước, khi đất nước bị
ngoại xâm đe dọa, anh tự nguyện và xung phong gia nhập đội ngũ những người cầm
súng chiến đấu. Nhưng khi đất nước tạm yên hàn, trách nhiệm của người công dân
yêu nước là phải xây dựng đất nước đẹp giàu. Cuộc dấn thân mưu cầu hạnh phúc ở
thời bình cũng không kém gian nan, thử thách, đòi hỏi ý chí và nghị lực kiên
cường của mỗi một con người sống có trách nhiệm với quê hương.
Quê hương Quảng
Trị của anh là vùng đất nghèo khó, mang nhiều dấu tích tàn phá của chiến tranh.
Người lính Võ Quang Thuận trở về, đi trên con đường quê giữa mùa hè bỏng rát,
gió Lào hun nóng cát trắng. Suốt hai tháng ở nhà, trong màu áo lính đã bạc, anh
lặng lẽ đi khắp thôn xóm, mang theo bao nỗi nghĩ suy nặng trĩu.
Trong cuộc đời
con người, có những lúc thời gian trôi chậm lại, ngưng đọng lắng nghe những
trăn trở, nghĩ suy để tìm ra lời giải cho đường đời. Những ngày đầu rời quân
ngũ trở về quê của Võ Quang Thuận là những ngày như vậy. Anh tự chiêm nghiệm,
nghĩ suy, trăn trở. Đất quê vẫn vậy, khô cằn, sỏi đá, cát trắng bỏng da. Anh tự
hỏi lòng mình liệu có đủ bản lĩnh để vượt qua muôn vàn thử thách phía trước,
dẫu không còn hiểm nguy như những năm tháng chiến tranh nhưng gian khó lại bội
phần. Những suy tư ấy không lúc nào yên. Sau nhiều đêm trăn trở, nhiều sớm mai
ra biển đón mặt trời, anh dần nhận ra con đường phải đi của mình: “Nam tiến”
theo bước cha ông. Anh khoác lại chiếc ba lô đã bạc màu, mang theo phẩm chất
người lính vẫn còn nguyên vẹn, làm hành trang lên đường, sẵn sàng đối mặt với
mọi gian nan.
“Nam tiến”
cho một sự khởi đầu mới
Võ Quang Thuận
không phải là người Quảng Trị đầu tiên vào làm cao su trên đất miền Đông Nam
Bộ. Trước anh, từ những năm đầu của thế kỷ XX đã có nhiều người từ Bố Trạch, Lệ
Thủy, Gio Linh, Cam Lộ rời quê hương vào sống dưới sự chở che của những tán
rừng cao su trên nhiều nông trường như Phú Riềng, Dầu Giây, Long Thành, Cam
Túc... thuộc đất Đồng Nai (mới) ngày nay. Nhưng ít có ai thành công như Võ
Quang Thuận. Cái “duyên” đưa chân anh đến với đất và người, và cây cao su Bình
Phước là bởi vì lúc ấy trong anh đang có một địa chỉ làm niềm tin: người anh
ruột Võ Văn Hoa lúc bấy giờ đang làm Thư ký Công đoàn của Công ty Cao su Đồng
Phú. Công ty này chính thức ra đời vào ngày 21/5/1981 (cùng lúc với Dầu Tiếng
và Bình Long), trên cơ sở của Nông trường Quốc doanh cao su Thuận Lợi (Nông
trường 13, thành lập năm 1978 và từ tháng 7/1980 thuộc Công ty Cao su Phú
Riềng). Bình Phước lúc bấy giờ tuy vẫn còn rừng thiêng nước độc, nhưng đất rộng
người thưa. Người thanh niên vừa rời quân ngũ với bầu nhiệt huyết tràn đầy có
một niềm tin xác tín rằng, mình sẽ sớm có một cuộc sống ổn định cho gia đình,
góp phần xây dựng quê hương.
Với nhân thân tốt và những thành tích đạt được trong quân đội, Võ Quang Thuận sớm được nhận vào làm nhân viên văn phòng Đảng ủy Công ty Cao su Đồng Phú. Đầu năm 1988, anh được đề bạt lên làm Quản lý Xí nghiệp 30/4, cùng với đó là được cử đi học lớp Quản lý kinh tế ở trường Nguyễn Ái Quốc 7 tại Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (từ tháng 1 đến tháng 10/1988). Tốt nghiệp, anh được phân công về Phòng Kinh tế - Kỹ thuật Công ty Cao su Đồng Phú. Từ thực tiễn công tác, anh nhận ra cung cách làm kinh tế của các đơn vị nhà nước, dù có những ưu điểm nhất định, nhưng nhìn chung còn chậm thích ứng với yêu cầu của thời cuộc, chưa thoát khỏi dấu ấn của cơ chế bao cấp. Không lâu sau, vào tháng 1/1989, anh quyết định chuyển hướng sang hoạt động kinh tế tư nhân. Sau nhiều trăn trở tìm hướng đi, năm 1993, anh thành lập doanh nghiệp tư nhân Thuận Lợi. Từ nền tảng đó, anh tiếp tục mở rộng hoạt động, lần lượt xây dựng Công ty TNHH một thành viên Thuận Lợi tại Kon Tum (tháng 5/1993) và tại Bình Phước (năm 2015). Với sự năng động trong thu mua, quản lý sản xuất và phát triển thị trường, tên tuổi của anh dần trở thành một điểm sáng trong ngành cao su. Tháng 1/2015, anh vinh dự được bầu làm Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Bình Phước...

Tư duy Võ Quang
Thuận không ngừng sáng tạo và đổi mới. Ví như, khi xây dựng nhà máy, “cái ruột”
bên trong như máy móc, anh đầu tư hiện đại; còn “cái vỏ” bên ngoài anh mua phế
liệu về, rồi tự tay cùng với thợ cải tiến lắp ráp dựng nên. Anh còn lợi dụng
địa thế của đất đồi núi, tạo sự vận chuyển dây chuyền của việc nhập mủ thô từ
trên cao chảy xuống, khỏi mất công vận chuyển, tiết kiệm được cả nhân công và
nhiệt lượng. Chỉ riêng nhà máy ở Bình Phước, với việc phủ kín tấm năng lượng
mặt trời cung cấp năng lượng cho nhà máy đã tiết kiệm hàng chục triệu đồng tiền
điện mỗi ngày… Nhờ những sáng tạo đó, cùng với cách quản lý linh hoạt của một
doanh nghiệp tư nhân và tác phong luôn “xắn tay áo” trực tiếp vào công việc,
chi phí đầu tư và nhân công được tiết giảm, qua đó góp phần hạ giá thành sản
phẩm so với nhiều đơn vị khác.
Những thành
công của một doanh nhân
Võ Quang Thuận
vốn nhạy bén với kinh tế, vì thế nhịp sống thương trường luôn thôi thúc anh dấn
bước. Gần hai năm làm cán bộ văn phòng hành chính trong thời bao cấp, công việc
đều đặn nhưng không quá bận rộn, lại trở thành khoảng thời gian để anh âm thầm
quan sát thị trường, tìm hiểu quy luật, tích lũy vốn liếng, từng bước thử sức
và chờ đợi thời cơ.
Năm 1986, dưới ánh sáng của công cuộc đổi mới, nhà nước khuyến khích phát triển kinh tế hộ tư nhân. Chính quyền sở tại cấp đất cho dân trồng cao su. Những rừng cao su theo hộ tiểu điền phát triển mạnh mẽ. Nhưng cao su đến kỳ thu hoạch chỉ bán đổ bán tháo cho thương lái, thay vì cạnh tranh lành mạnh, người trồng cao su bị ép giá rẻ. Doanh nghiệp tư nhân Thuận Lợi do anh sáng lập đã góp phần bảo đảm quyền lợi cho người trồng cao su. Anh ký kết hợp đồng với các hộ tiểu điền theo mức giá hợp lý, thu mua mủ của bà con và đưa vào tiêu thụ tại các nhà máy chế biến của các doanh nghiệp tư nhân ở Thành phố Hồ Chí Minh. Rồi khi nhận thấy sản lượng mủ cao su ngày một dồi dào, song song với việc thu mua và nhập mủ thô cho các nhà máy ở thành phố, anh đứng ra thành lập Nhà máy Cao su Thuận Lợi - Kon Tum và Nhà máy Cao su Thuận Lợi - Bình Phước. Rồi từ doanh nghiệp tư nhân Cao su Thuận Lợi, anh và cộng sự phát triển thành Công ty TNHH Cao su Thuận Lợi. Cho đến nay Công ty đã có hai nhà máy lớn với sản lượng lớn bậc nhất Việt Nam, hơn 10 loại sản phẩm chất lượng cao. Ngoài thị trường nội địa anh còn xuất khẩu đến hơn 100 nước trên thế giới như các nước ở Bắc Mỹ, châu Âu, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản... Đáng lưu ý hơn, Cao su Thuận Lợi đã tạo nên một chuỗi dịch vụ khép kín và kết nối được giữa người sản xuất và nhà máy, tạo thành sản phẩm từ đầu đến cuối, gắn với nhu cầu của thị trường tiêu dùng.

Điều đáng nói
là, dù không được đào tạo bài bản về kinh doanh theo con đường chuyên sâu,
nhưng với tư duy linh hoạt và sự nhạy bén về kinh tế, Võ Quang Thuận luôn nhìn
ra giá trị trong cơ hội, nắm vững quy luật cung - cầu của thị trường. Nhờ đó,
hoạt động thu mua, chế biến và tiêu thụ sản phẩm của anh vì thế luôn duy trì
hiệu quả ổn định. Không chỉ phát triển công việc của mình, anh còn sẵn sàng hỗ
trợ, chia sẻ kinh nghiệm với bạn bè trong giới kinh doanh, cùng hướng tới hợp
tác bền vững, hạn chế những cạnh tranh thiếu lành mạnh. Không chỉ trong nước,
mà còn đối với cả các công ty ở nước ngoài đến tìm hiểu, học tập kinh nghiệm,
anh đều hướng dẫn tận tình, không hề “giấu nghề”, với mong muốn mọi người
cùng có lợi, đời sống ngày một tốt đẹp hơn. Vì vậy, cùng với lối sống thẳng
thắn, giản dị, dễ gần, anh không chỉ là bạn thân của nhiều đồng nghiệp là doanh
nhân ngành cao su trong nước mà còn có cả doanh nhân nhiều nước trên thế giới.
Hằng năm, anh
dành nguồn kinh phí lớn cho các hoạt động thiện nguyện, hướng về quê hương,
nhất là trong những thời điểm khó khăn như thiên tai, dịch bệnh. Trong các đợt
mưa lũ lớn ở miền Trung, anh kịp thời hỗ trợ kinh phí, nhu yếu phẩm giúp người
dân vùng bị ảnh hưởng sớm ổn định cuộc sống; khi dịch COVID-19 bùng phát, anh
cũng tích cực chung tay sẻ chia với nhiều hoàn cảnh khó khăn. Không dừng lại ở
những hỗ trợ mang tính thời điểm, nhiều việc làm của anh còn mang ý nghĩa lâu
dài, thiết thực. Trong một chuyến phát gạo cho bà con vùng núi Hướng Hóa (Quảng
Trị), chứng kiến người dân vẫn phải giã gạo thủ công, anh đã hỗ trợ mua tặng ba
máy xay xát, đồng thời chi trả tiền điện và công vận hành trong suốt ba năm để
bà con được sử dụng miễn phí.
Dù lập nghiệp
xa quê, Võ Quang Thuận vẫn luôn đau đáu hướng về nơi chôn nhau cắt rốn. Những
năm gần đây, anh không chỉ trở về hương khói tổ tiên, hỗ trợ người dân khi gặp
thiên tai, mà còn tham gia đầu tư vào một số công trình quan trọng của địa
phương, như khai thác mỏ đá phục vụ mở rộng tuyến đường xuyên Á, phối hợp xây
dựng cảng biển nước sâu Mỹ Thủy, phát triển các dự án trồng và chế biến rừng nguyên
liệu ở miền tây Quảng Trị, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của
tỉnh. “Những việc làm này sẽ mở ra một hướng phát triển mới cho vùng đất vốn
còn nhiều khó khăn. Trước mắt, các dự án sẽ góp phần tạo việc làm, mang lại
sinh kế cho đông đảo người dân địa phương. Tôi nay cũng đã lớn tuổi, không còn
làm được bao lâu nữa, rồi sẽ chuyển giao cho con cái, để thế hệ sau vẫn giữ
được sợi dây gắn bó với quê hương. Con người sinh ra phải biết nhớ nguồn, biết
giữ cội và biết lắng nghe tiếng gọi của làng quê” - Đó là những điều căn cốt mà
Võ Quang Thuận luôn tâm niệm.
Nhiều đồng đội
từng gắn bó với Võ Quang Thuận khi gặp lại anh đều nhận xét rằng, con người và
lối sống của anh “y chang” như người lính trẻ năm xưa trên chiến trường biên
giới, với sự năng nổ, hoạt bát, thân thiện, đầy nhân ái nhưng cũng ngập tràn
nghị lực, với khát vọng đem lại lợi ích cho cộng đồng. Võ Quang Thuận là một
điển hình tiêu biểu cho chân dung những con người sống đẹp, luôn hướng tới một
cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người.
P.P.P
