Trong một tài liệu khoa học có lẽ thuộc hàng sớm nhất (1930 - 1937) về địa hình khu vực, nhà địa chất - cổ sinh học người Pháp Jacques Fromaget1 thuộc Sở Địa chất Đông Dương đã từng đề cập và mô tả địa hình karst lưu vực Rào Nậy, sông Gianh, nơi có các lèn đá vôi dựng đứng hai bên bờ sông này: “Rào Nậy chảy theo hướng tây bắc - đông nam, giáp phía đông bắc xứ Quy Đạt. Thung lũng của nó, ngổn ngang những nham thạch đá vôi trên một phần lớn lòng sông, hầu như chạy theo một đường thẳng”2.

Giữa “ngổn ngang những nham thạch đá vôi” kia, dĩ nhiên là có lèn
Chợ Gát, ngọn lèn “một” độc đáo đứng đột khởi giữa bình địa bao la, phối cùng
cảnh quan sông nước, cánh đồng, làng mạc… bao quanh đã tạo nên một thắng cảnh
sơn thủy hữu tình ven đường ngược miền thiên thai Tuyên Hóa (cũ), hấp dẫn bao
thế hệ tao nhân mặc khách. Thế nên, ông Thương Tùng sau khi chiêm ngưỡng vẻ đẹp
và sự hùng vĩ của lèn Chợ Gát đã không kìm được cảm xúc mạnh mẽ của mình, vượt
lên trên cảnh sắc mà cảm khái rằng: “Hình như có nhiều quả núi mang sứ mạng
tiêu biểu cho cái bản sắc nhân phong của cả vùng đất chung quanh nơi nó tọa
lạc. Có người cho rằng chứng tích tụ khí của trời đất, của hà nhạc sơn xuyên,
rồi cái khí ấy ảnh hưởng đến dân cư trong vùng, nhất là những người sinh ra đúng
vào lúc nó tỏa phát ra mạnh mẽ”3.
“Hà nhạc sơn
xuyên” (河岳山川) là cụm tu từ đối ngẫu quen thuộc trong văn phong
cổ, thường được người xưa dùng
trong các loại hình văn bia, địa chí, thơ phú..., chỉ cảnh quan sông núi giao hòa, linh khí trời đất, mà ông Thương Tùng đã vận dụng vào bài biên
khảo du ký của mình để mô tả một cách trang
trọng, sinh động
và đầy kính ngưỡng về hình sông thế núi hùng
vĩ, ngoạn mục nơi lèn Chợ Gát. Quả đúng như
vậy. Làng Phúc Sơn nằm thơ
mộng bên dòng chảy Rào Nậy, có cánh đồng làng nhỏ bé, yên bình bao quanh ba phía. Trên thảm xanh bình địa
ấy, từ một kiến tạo địa chất thần kỳ nào đó đột ngột khởi lên một ngọn núi đá
vôi khổng lồ đơn chiếc mà người dân nơi đây gọi là lèn Chợ Gát, trấn ngữ nơi
rìa làng, khiến dòng Rào Nậy chảy đến đây phải gấp gáp uốn khúc đổi hướng, tạo
nên một tiết tấu cảnh quan tự nhiên mạnh mẽ và cũng đầy thơ mộng. Đi dọc đường
bộ qua cầu,
thấy lèn Chợ Gát soi bóng xuống mặt nước Rào Nậy lung linh, còn ngồi thuyền
xuôi theo dòng sông lại thấy lèn Chợ Gát như bức tường đá in hình lên nền trời
thăm thẳm. Và dù với góc thưởng ngoạn nào thì
màu sắc, tạo hình phong phú của đá núi, của quần thể đa dạng sinh học sinh tồn
trên đỉnh núi, quyện với sóng nước dập dềnh cũng đều tạo nên cảm giác như ta
phút chốc được lạc vào chốn thần tiên nơi hạ giới.
Ngọn lèn ngoài
tên Nôm mộc mạc là lèn Chợ Gát4 do
dân gian định danh sớm nhất có lẽ từ thuở người Việt di dân vào
đây khai khẩn, lập làng, lập chợ sinh sống,
còn gắn liền với hai mỹ tự trang trọng khác có
âm Hán Nôm nghe chữ nghĩa hơn là Tiên
Giới và Ngọc
Nữ Lâm Phong. Tất cả các danh xưng này của
ngọn lèn đều được sử dụng đồng thời trong giao tiếp, trong thư tịch, thân thuộc
như nhau cho đến tận ngày nay, ngay tại quê hương của ngọn lèn cũng
như trong nhiều cộng đồng người Quảng Bình, Tuyên Hóa (cũ) nơi viễn xứ. Tuy nhiên, trong điều kiện tư liệu hiện nay, chúng tôi chưa tìm
thấy tài liệu cổ nào ghi thành văn chữ Hán cho hai danh xưng có âm Hán Nôm Tiên Giới và Ngọc Nữ Lâm Phong của ngọn
lèn Chợ Gát này. Và trong các tài liệu khoa học của nhà
địa chất - cổ sinh học người Pháp Jacques Fromaget thập niên 19305, cũng không có
các địa danh lèn Chợ Gát/Tiên Giới/Ngọc Nữ Lâm Phong, do tài liệu chỉ mô tả vùng địa chất rộng, ít khi ghi chi tiết những địa
danh nhỏ cấp làng, hoặc
núi đá riêng lẻ. Mặc dù vậy, người ta thấy các danh xưng/mỹ tự
có âm Hán Nôm Tiên Giới và Ngọc Nữ Lâm Phong của lèn Chợ Gát từng được
văn tự hóa từ năm 1925 trong bài thơ thất ngôn
bát cú Lèn Tiên Giới viết bằng chữ quốc ngữ của vị huyện quan sở tại yêu thơ
phú bấy giờ là Tri huyện Tuyên Hóa Trần
Mạnh Đàn6. Và có lẽ đây là tài liệu thành văn
thuộc vào hàng sớm nhất chép về hai danh xưng này gắn liền với lèn Chợ Gát:
Tiên Giới lèn này ở Phúc San
“Lâm phong
ngọc nữ” thấy dung nhan
Thanh cao
trước hết chầu Thiên Khuyết
Trích giáng
nay còn ở thế gian.
Trời rạng
ngàn năm trăng dọi tỏ
Sóng bao ba
phía nước hồi loan.
Ở gần huyện
lỵ không xa cách.
Hỏi có tình
chi với huyện quan7.
Xem xét nội
dung, cấu tứ của bài thơ, có thể thấy rằng hai mỹ
tự có âm Hán Nôm Tiên Giới và Ngọc Nữ Lâm Phong phải xuất hiện sau danh
xưng thuần Việt lèn Chợ Gát và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ sự tích Tiên nữ giáng trần xuống ngọn
lèn được lưu truyền rộng rãi xưa nay trong khu vực,
một kiểu thức huyền
thoại hóa địa danh rất phổ biến trong văn
hóa cổ truyền Việt Nam. Tích
truyện Tiên nữ giáng trần thì
rất dài không thể dẫn nguyên văn vào bài viết này,
nhưng cũng nên lược hóa lại để có dữ
liệu mà cùng suy ngẫm về ngọn lèn đá có đến ba danh xưng rất thú vị này. Tích rằng: Có một chàng tiều phu lên rừng đốn củi, thấy các tiên nữ giáng trần tắm
suối, chàng giấu một bộ cánh, rồi lấy nàng tiên mất
cánh không thể về trời làm vợ, sinh con. Nước
nhà có binh biến, chàng
ra trận, tiên nữ ở nhà làm lụng nuôi con. Một hôm, nàng vô
tình tìm thấy bộ cánh, cùng lúc đó chồng nàng giải ngũ trở
về. Thấu cảm cảnh một chốn đôi quê, Bụt thương tình giúp gia đình nàng đoàn viên
trên Thiên đình. Sau một thời gian, thấy các con cháu ở Thiên đình
buồn nhớ cố hương, Ngọc Hoàng cho gia
đình chàng trở lại hạ giới bằng cách để họ cùng ngồi trên một chiếc thúng lớn, buộc dây
dòng xuống đất. Trong thúng cho đặt một chiếc
trống và quy ước: khi đến mặt đất, gõ tiếng trống, trên trời sẽ cắt dây, hoàn tất chuyến hồi hương. Tuy nhiên, khi chiếc thúng còn trên
cao, gia đình dùng cơm, đứa con vô tình đánh rơi cơm ra mặt
trống. Một con quạ bay qua, mổ
hạt cơm, phát ra tiếng trống, khiến Thiên đình cắt dây,
chiếc thúng cùng gia đình rơi tự do. Phát hiện
sai lầm, Thiên đình kịp biến cả gia đình thành khối đá, tránh bị cháy rụi. Khối
đá rơi xuống đất, thành lèn Chợ Gát/Tiên Giới/Ngọc Nữ Lâm Phong ngày nay8. Theo
đó, không khó để nhận ra việc vị huyện
quan, nhà thơ Trần Mạnh Đàn với vốn thẩm mỹ
Nho học cuối thời Nguyễn đã dựa trên tích
truyện Tiên nữ giáng trần của người xưa mà thi vị hóa cảnh đẹp quê hương
bằng bài thơ Lèn Tiên Giới. Bằng chứng là dấu vết nội dung tích truyện Tiên nữ giáng trần
xuất hiện khá nhiều trong tứ thơ, đặc biệt là qua các
điển tích được tác giả sử dụng rải rác trong bài thơ: Thanh
cao trước hết chầu Thiên Khuyết/ Trích giáng nay còn ở thế gian, trong đó: Thiên Khuyết 天闕 nghĩa
là: cổng trời, cung điện của trời, ý nói: tiên nữ vốn ở cõi trời; Trích giáng 謫降 nghĩa
là: xuống trần gian, ý nói: Tiên nữ
giáng trần xuống làng Phúc Sơn…
Như vậy, Tiên Giới và Ngọc Nữ Lâm Phong - hai danh xưng phiên âm
từ chữ Hán, rõ là do các vị túc nho hay chữ trong vùng sau khi tiếp cận với địa lý cảnh quan lèn Chợ Gát và sự
tích dân gian mà diễn giải ra, chữ nghĩa hóa ra cho văn chương thi vị. Tiên Giới (仙界) là một mục từ
có trong từ điển Hán Việt, với nghĩa Việt là “cõi tiên, nơi tiên ở”9… Còn mỹ tự Ngọc Nữ Lâm Phong là một
cụm từ, một ngữ đoạn, không được giải thích trong từ điển như một đơn vị từ
vựng, nên việc hiểu theo nghĩa Việt phức tạp hơn nhiều, khi không có nguyên tác
chữ Hán đi kèm. Có
người giảng “Ngọc Nữ lâm phong” nghĩa là “người đẹp đứng trước gió”, đó là một
trong nhiều cách hiểu về cụm từ - ngữ đoạn này. Trong Hán ngữ, rất nhiều trường
hợp nếu chỉ dựa vào phiên âm Hán Việt mà không có nguyên tác chữ Hán đi kèm,
thật khó để hiểu đúng nghĩa của văn bản. Bởi vì, mỗi từ phiên âm Hán Việt
thường có nhiều hơn một chữ Hán được dùng để ghi cho cùng một âm này, và đến
lượt mình, mỗi chữ Hán lại có nhiều hơn một nghĩa để thể hiện. Thế nên,
không thể mạo muội phản biện các cách hiểu khác nhau về mỹ tự phiên
âm Ngọc Nữ Lâm Phong, mà chúng tôi chỉ đưa ra
đây cách hiểu của mình để tham góp một điều rằng: chữ nghĩa của người xưa thật
phong phú và sâu xa! Chúng tôi cho rằng, từ
khóa của phiên âm mỹ tự này là ở âm phong. Trong sách “Hán Việt từ điển” của tác giả Thiều
Chửu10 có thống kê, giảng nghĩa 15 chữ Hán có âm Hán Việt cùng đọc là “phong”, nhưng tự dạng không đồng nhất và mỗi chữ lại mang
nhiều nghĩa khác nhau. Theo suy luận của chúng tôi, âm phong trong Ngọc Nữ Lâm Phong có tự
dạng 峰, với nghĩa Việt là “ngọn núi”11 do đó, “lâm phong” 臨 峰 nghĩa là “xuống/đến núi”. Vậy “Ngọc
nữ lâm phong” 玉女 臨 峰 có nghĩa
là: “Tiên nữ
xuống/giáng/đến núi (này)”,
diễn đạt bị động sẽ là “núi
có tiên nữ đến» và tĩnh lược là “Núi Tiên”.
Diễn giải theo hướng này là chúng tôi dựa vào cách mà các nho sĩ đặt tên Hán
Nôm địa danh lèn Tiên Giới/Ngọc Nữ Lâm Phong (Núi Tiên) dựa trên nội dung câu chuyện cổ tích lưu truyền
về một tiên nữ giáng trần xuống núi (lâm phong) và thậm chí tiên nữ đã cùng gia
đình hóa thân thành núi. Và trong thi, văn chữ Hán ở Việt Nam cũng có rất nhiều bài thơ của
nhiều tác giả dùng chữ “phong” (峰) này để
chỉ ngọn núi12:
徘徊獨步西峰岭,
遙望南天憶故人。
Bồi hồi độc
bộ Tây Phong lĩnh,
Dao vọng Nam
thiên ức cố nhân.
(Một mình bồi hồi dạo bước trên đỉnh
núi Tây Phong
Trông về
phía trời Nam xa xăm nhớ bạn cũ.)
[Hồ Chí
Minh - Mới ra tù học leo núi]
Hoặc:
橫山一帶接滄溟
萬里孤峰入眼青
Hoành Sơn
nhất đái tiếp thương minh
Vạn lý cô
phong nhập nhãn thanh
(Dãy Hoành Sơn một dải nối liền biển xanh
Muôn dặm một
ngọn núi cao xanh biếc
vào tầm mắt)
[Nguyễn Du: “Hoành Sơn” - Thanh Hiên thi tập]
Từ những dẫn
chứng này, chúng tôi liên tưởng đến một ý nghĩa khái quát: Phong (峰)
thường gắn với một đỉnh núi cụ thể, hình
ảnh nhô cao, chót vót, có thể đứng độc lập, lẻ loi như một khối lèn đá. Theo
đó, khi đặt tên Hán Nôm địa danh lèn Chợ Gát thành “Ngọc Nữ Lâm Phong” (玉女臨峰) là các vị túc
nho tiền bối đã dựa theo tinh thần Hán văn truyền thống vậy.
Dù với cách hiểu nào thì lèn Chợ Gát/Tiên Giới/Ngọc Nữ Lâm Phong ở Phúc Sơn, theo cổ tích đã kể vẫn là nơi tiên nữ thường lui tới, tá túc, hẳn nhiên phải đẹp như chốn bồng lai tiên cảnh, phải linh thiêng tụ khí trời đất khiến Tiên, Phật và người phàm giao hòa sống động. Liên hệ đến câu văn “Sơn bất tại cao, hữu tiên tắc danh”13 (Núi không cần cao, có tiên ở là sẽ nổi danh) trong bài minh của Lưu Vũ Tích đã trở thành điển ngữ văn hóa thường dùng để nhắc nhở giá trị không nằm ở hình thức bên ngoài mà ở nội dung bên trong, thì lèn Chợ Gát/Tiên Giới/Ngọc Nữ Lâm Phong còn hơn thế: không chỉ có Tiên về trong truyền thuyết, mà còn có đa dạng sinh học, có cảnh quan, có cộng đồng cư dân cần cù, chất phác, trí tuệ quần tụ xung quanh, sáng tạo nên các giá trị văn hóa làng xã phong phú, nhờ đó mà đã nổi danh như ta từng biết. Mô típ “tiên nữ giáng trần” rồi kết duyên với người phàm, hoặc do quyến luyến cảnh sắc sơn thủy hữu tình nơi trần thế mà không trở lại cõi trời có từ cổ xưa và xuất hiện phổ biến trong kho tàng Folklore Việt Nam. Thế nên, không xa lèn Tiên Giới, ở vùng Tuyên Hóa (cũ) còn có nhiều thắng cảnh khác như Hang Minh Cầm, Hang Tiên… cũng lưu truyền các câu chuyện cổ tích về các tiên nữ giáng trần như vậy, và đó là cách mà tiền nhân huyền thoại hóa các khu rừng già, núi non, sông suối…, những không gian sinh tồn lý tưởng nhưng cũng đầy bất trắc để kính ngưỡng, tôn thờ các nhiên thần, những mong tự nhiên nuôi sống và che chở mình bình yên. Có lẽ do thấy xuất hiện nhiều các truyền thuyết “Tiên nữ giáng trần” trong khu vực mà ông Thương Tùng khi so sánh với các vùng địa linh khác đã có sự liên tưởng thật lãng mạn: “Tuyên Hóa (cũ) thì ngọn Ngọc Nữ Lâm Phong và có nhiều người đẹp mỹ miều”14. Nhưng chúng ta còn biết rằng, truyền thuyết Tiên nữ giáng trần gắn với cảnh quan lèn Chợ Gát là sản phẩm dân gian do chính cộng đồng cư dân bản địa truyền khẩu sáng tạo ra đã từ lâu đời. Hiện tượng người xưa sáng tạo ra sản phẩm văn nghệ dân gian nhằm huyền thoại hóa các địa danh núi, sông, làng mạc… là mô thức văn hóa phổ biến đương thời, mà truyền thuyết lèn Chợ Gát là một trường hợp trong số đó. Tựu trung lại, đó là cách mà các thế hệ tiền nhân dùng để giải thích nguồn gốc địa hình khi hiểu biết khoa học còn hạn chế, để thiêng hóa không gian cư trú của cộng đồng nhằm bảo vệ tự nhiên và cầu mong được tự nhiên che chở, để gắn kết cộng đồng bằng một ký ức chung cổ tích, dễ ghi nhớ. Từ đó, khi một vùng đất, một cảnh quan sông, núi tự nhiên được thần thoại, truyền thuyết, cổ tích bao phủ bỗng trở nên có hồn cốt, có lai lịch, tồn tại sống động như một sinh thể linh thiêng trong lãnh thổ cộng đồng, góp phần tạo bản sắc văn hóa địa phương. Và đến lượt mình, theo thời gian, các sản phẩm huyền thoại hóa địa danh cảnh quan, núi sông, làng mạc… độc đáo này lại trở thành một phương thức sáng tạo nghệ thuật dân gian đang được bảo tồn với tư cách là giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc.

Các mỹ tự Tiên Giới và Ngọc Nữ Lâm Phong gắn với
ngọn lèn hẳn nhiên là do một vị túc nho, người làm địa chí, nhà thơ… hay chữ
nào đó trong khu vực định danh cho, nhưng đây không chỉ là việc đặt lại, đặt
thêm tên, mà còn là một hành vi văn hóa - thẩm mỹ - hành chính có ý thức. Các
nho sĩ đặt tên Hán Nôm cho địa danh núi sông, bên cạnh mục đích thẩm mỹ hóa
cảnh quan, biểu tượng hóa không gian cho thêm phần sâu sắc ý nghĩa khi thể hiện
vào văn chương thi phú bác học, thì hành vi này còn giúp cho địa danh cảnh quan
tự nhiên ghi chép được vào địa chí, sử sách, tài liệu hành chính… để quảng bá,
bảo tồn và quản lý một cách thuận lợi, trong điều kiện nước ta đang phải vay
mượn chữ Hán làm chữ viết.
Như vậy, chúng
ta thấy rằng tổ hợp sáng tạo ba lớp thông tin: tên gọi bình dân (lèn Chợ Gát),
truyền thuyết dân gian (sự tích lèn Chợ Gát) và các mỹ danh chữ nghĩa (Tiên
Giới/Ngọc Nữ Lâm Phong) liên quan đến ngọn lèn Chợ Gát đã bộc lộ tâm thức chính
đáng của người xưa ở nơi đây: khát vọng giao hòa với cõi thiêng, khát vọng tìm cách tồn tại thuận với tự
nhiên, trân trọng, bảo vệ tự nhiên để cầu mong cuộc sống bình yên, no đủ và cả
những day dứt rất đời về sự mong manh của hạnh phúc, về bài học đạo đức trong
tình yêu…, tất cả được chứa đựng mộc mạc, tinh tế trong cổ tích lẫn danh xưng.
Những giá trị tinh thần này là sản phẩm chân thành do người xưa sáng tạo ra,
thấm đẫm vào cảnh quan thiên nhiên, khiến một ngọn lèn tự nhiên khô khan trở nên
có hồn vía, như là một tiểu “không gian văn hóa” sống động trong thế giới mơ ước của cộng đồng.
Ở khắp tỉnh
Quảng Trị, nơi mỗi làng quê, các thế hệ tiền nhân đều trao truyền nhau sáng
tạo, gìn giữ nhiều di sản phi vật thể độc đáo, riêng có của cộng đồng gắn với
hình sông thế núi của quê hương như thế. Những địa danh núi, sông có tên gọi
song hành Nôm/Hán chứa đựng trong đó các huyền thoại nhân bản xuất hiện rất
nhiều trong kho tàng văn học dân gian, văn học thành văn thời trung đại
trở về trước và cả trong thực tế cuộc sống ở xứ này: Đèo Ngang/Hoành Sơn, Sông
Gianh/Linh Giang, Núi Chùa Non/Thần Đinh (Quảng Bình cũ), Non Mai/Mai Lĩnh Sơn,
Động Ngài/Mang Sơn Động, Sông Cái/Thạch Hãn, Lòi Rèng/Linh Sơn, Động Voi Mẹp/Tá
Linh Sơn (Quảng Trị cũ)15… Cổ
nhân đúc kết: “đá trôi, làng không trôi” chính là dựa nhiều vào các giá trị
tinh thần truyền thống đã góp phần hun đúc nên hồn cốt của làng mình, bản sắc
văn hóa của quê hương mình, vậy thôi! Thế nên, bên cạnh việc bảo vệ cảnh quan
thiên nhiên, bảo vệ môi trường sống vật chất, chúng ta cần phải bảo tồn các giá
trị tinh thần truyền thống liên quan do các thế hệ người xưa đã dày công sáng
tạo và trao truyền lại đến ngày nay.
T.H
____________
1 Ông Jacques Fromaget (thường viết
tắt J. Fromaget) là nhà địa chất - cổ
sinh học người Pháp thuộc Sở Địa chất Đông Dương đặt tại Hà Nội hoạt động ở Đông Dương khoảng 1920 - 1940, đặc biệt giai đoạn
1930 - 1937. Ông được xem là một trong những
nhà địa chất đầu tiên nghiên cứu hệ thống địa chất của Đông Dương, với nhiều
công trình từ 1930 đến khoảng 1941.
2 Địa lý - Lịch sử Quảng Bình, Lương Duy Tâm, Bảo tàng Tổng hợp
Quảng Bình, 1998, tr.19.
3,14 Lèn Tiên Giới và sự tích giáng tiên, Thương Tùng, Tập san Quảng Bình
quê tôi, 1972, tr.95.
4 Ngoài ra, ngọn lèn này còn có một biệt danh dân gian khác ít phổ biến hơn là “núi Đại
bàng” do
góc nhìn từ trước làng Phúc Sơn thấy ngọn lèn có hình tương tự con đại bàng
tung cánh giữa bầu trời.
5 Được trích giảng trong sách Những bài học Địa lý Quảng Bình của Lương Duy Tâm, Bảo tàng Tổng hợp Quảng Bình, 1998, tr.19.
6 Trần Mạnh Đàn (1882 - 1949) quê làng
Thuận Bài, phủ Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình (nay là phường Bắc Gianh, tỉnh
Quảng Trị), làm quan Tri phủ nhiều nơi, trong đó có thời kỳ là Tri phủ Tuyên
Hóa, nơi có lèn Chợ Gát “ở gần huyện lỵ không xa cách” này. Trong thời gian hành hạt, ông
tranh thủ làm thơ, viết sách và để lại nhiều tác phẩm với các thể loại: thơ,
địa chí, nghiên cứu, sưu tầm khảo luận, dịch thuật…
7 Quảng Bình nước non và lịch sử, Nguyễn Tú, Sở Văn hóa Thông tin
Quảng Bình xuất bản, 1998, tr.23.
8 Tóm tắt theo Trần Trọng Diên, Tập san Quảng Bình quê tôi, số thu Nhâm Tý 1972, Hội đồng hương Quảng Bình tương tế, Sài
Gòn, tr.95.
9 Từ điển Hán Nôm online, thivien.net, truy cập ngày
22/11/2025.
10 Hán Việt từ điển, Thiều Chửu, NXB Tp Hồ Chí Minh, 2004, tr.54.
11 Hán Việt từ điển, Thiều Chửu, NXB Tp Hồ Chí Minh,
2004, tr.161.
12 Thivien.net, truy cập 15 giờ ngày 20/3/2026.
13 Lậu thất minh (Bài minh về căn nhà quê mùa),
Lưu Vũ Tích đời Đường, Thivien.net, truy cập ngày 23/11/2025.
15 Khảo về Quảng Trị xưa, Lê Đức Thọ, NXB Dân Trí, 2024,
tr.14, 15, 19, 35.
