Thời gian, không gian thiêng và tính chất thiêng trong lễ hội sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc thu hút khách du lịch. Lễ tế, lễ rước, lễ vật dâng cúng, các trò tục, trò diễn của lễ hội trở thành nhu cầu cần phải được duy trì và củng cố, nó có sức mạnh tinh thần to lớn lôi cuốn con người trở về với thế giới thiêng. Đây là nét đặc trưng riêng của lễ hội mà không loại hình du lịch nào có được.

1. Phường Đồng Hới được sáp nhập từ 8 xã, phường cũ trước đây,
có 12km đường bờ biển dài và đẹp, độ nghiêng ít, biển gần bờ cạn, bãi biển
thẳng tắp với một màu cát trắng kéo dài từ Quang Phú đến hết địa phận Bảo Ninh.
Đến với Đồng Hới, khách du lịch không những đến với du lịch tắm biển, nghỉ
dưỡng, thể thao biển, thưởng thức các món ăn đặc sản biển, mà còn tham dự các
lễ hội văn hóa dân gian của người Đồng Hới, đặc biệt là các lễ hội văn hóa dân
gian của vùng sông nước ở vùng biển, có sức thu hút khách du lịch rất
lớn.
Các lễ hội văn
hóa dân gian (truyền thống) liên quan đến tín ngưỡng nghề nghiệp như lễ hội cầu
ngư Bảo Ninh, lễ hội cầu mùa, lễ hội bơi trải, “lục niên cạnh độ” hay lễ hội
mang tính vui chơi như lễ hội hát sắc bùa ở các vùng xung quanh Đồng Hới, lễ
hội hoa đăng, lễ hội xuân thủ kỳ yên, lễ xuống đồng, lễ cầu mưa, lễ đại trường
câu, lễ hội cướp cù… Lễ hội văn hóa dân gian là tấm gương phản chiếu đời sống
văn hóa của từng vùng đất, là loại hình sinh hoạt văn hóa đặc biệt, từ cách
thức tiến hành, lượng người tham gia, không gian và thời gian diễn ra độc đáo,
riêng biệt, khó lặp lại. Bên cạnh phần lễ với các lễ vật và những nghi thức
cúng tế là phần hội được thể hiện qua các trò chơi dân gian như hội bài chòi,
hội hát sắc bùa, hội chọi gà, hội cờ thẻ, hội cờ tướng, trong lễ không thể
thiếu phần hội. Trong các loại lễ hội, tiêu biểu hơn cả, đó là các lễ hội cầu
ngư.
Ngày
30/10/2018, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chứng nhận Lễ hội cầu ngư ở các
huyện Quảng Trạch, Bố Trạch, Quảng Ninh, Lệ Thủy, thị xã Ba Đồn, thành phố Đồng
Hới (tỉnh Quảng Bình cũ, nay là tỉnh Quảng Trị) là Di sản văn hóa phi vật thể
quốc gia. Lễ hội cầu ngư là loại hình lễ hội lớn của cư dân ven biển Quảng Trị
với quy mô và thời gian khác nhau. Nguồn gốc của lễ hội bắt nguồn từ tục thờ cá
voi (cá ông) của cư dân miền biển. Khi có cá voi chết trôi dạt vào bờ, ngư dân
chôn cất và lập miếu thờ, hàng năm tổ chức cúng vào dịp rằm tháng tư âm lịch
với nhiều trò diễn xướng dân gian mà nổi bật là múa bông, chèo cạn. Lễ hội cầu ngư của cư dân biển phường Đồng Hới là một kỳ đại tế
có quy mô liên làng xã, mang ý nghĩa tâm linh lớn. Cộng đồng dân cư vùng Quang
Phú, Động Hải… hàng năm đều tụ tập về lăng ông (cá voi) tại Bảo Ninh để cùng
hành lễ.
Lễ thường được
tổ chức trong 3 ngày, từ ngày 14 đến 16 tháng 4 âm lịch hàng năm. Nay do điều
kiện làng xã phát triển rộng, việc tổ chức lễ đã chia ra từng địa phương, không
tổ chức tập trung như trước. Lễ hội cầu ngư ở Đồng Hới có những nét tương đồng
với lễ hội cầu ngư của ngư dân các tỉnh ven biển Nam Trung bộ và Nam bộ. Nhưng
có những nét đặc trưng riêng cả về phần lễ và phần hội. Lễ hội cầu ngư ở Đồng
Hới là sự giao thoa, tiếp biến văn hóa Việt - Chăm, xuất hiện vào khoảng trước
sau thế kỷ XV, khi người Việt vào định cư ở Đàng Trong, lễ hội này chỉ có mặt
từ đèo Ngang vào đến Phú Quốc, Cà Mau của Nam bộ. Trong quá trình tiếp biến văn
hóa, người Việt đã có những cải biến rất cơ bản, từ nghi thức tổ chức đám tang,
bốc cốt cá ông đến việc thờ phụng, cúng tế. Đã có sự hòa đồng giao thoa với một
số tín ngưỡng khác nhau của người Việt như tục thờ ông bà, tổ tiên, lễ nghi...
Đặc biệt, người Việt còn kết hợp lễ cầu ngư với lễ hội cầu mùa, lễ cầu yên...
Ngày nay, lễ hội cầu ngư ở Đồng Hới vẫn được bảo tồn và duy trì hàng năm với sự
quan tâm của lãnh đạo chính quyền phường. Tuy nhiên, về thời gian, không gian
tổ chức, về hình thức, quy mô và nội dung hoạt động lễ hội được điều chỉnh, bổ
sung để vừa duy trì, vừa bảo tồn, phát huy được các yếu tố truyền thống dân
gian, vừa phát triển theo chiều hướng phù hợp với sự năng động của xã hội trong
xu thế hội nhập.
Bên cạnh lễ hội
cầu ngư, Đồng Hới còn có lễ hội đua thuyền. Ngày 12 tháng 1 năm 2022, Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch công bố danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
trong đó có lễ hội đua thuyền trên sông Nhật Lệ (ở Quảng Ninh và thành phố Đồng
Hới, tỉnh Quảng Bình cũ). Trước đây, người Đồng Hới thường gọi là hội “bơi trải
lục niên cạnh độ” (sáu năm một lần), bơi trải khác với bơi thuyền, chiếc trải
khác với chiếc thuyền, chiếc trải chỉ dùng để đua bơi trong các ngày tế thần,
khi không phục vụ thần linh, trải được đưa vào đình làng cất giữ, còn chiếc
thuyền lại là công cụ, phương tiện để lao động. Khu vực sông Nhật Lệ, bơi trải
là một sinh hoạt văn nghệ dân gian của cư dân miền biển, cùng một phong tục
sùng bái, tế lễ chung các vị thần biển thần sông với nhau.
Lễ hội bơi trải
ở Đồng Hới ra đời sớm hơn các vùng khác như cửa Roòn, cửa Gianh. Lễ hội bơi
trải nay được phục hồi với cái tên lễ hội đua thuyền truyền thống không chỉ để
tế lễ thần biển mà còn được tổ chức vào những ngày kỷ niệm lớn hàng năm ở Đồng
Hới. Sách Ô châu cận lục của Dương Văn An, thế kỷ thứ XVI đã chép “Phá Nhật Lệ...
những năm ít mưa, dân địa phương tổ chức bơi thuyền tại đây liền được mưa ngay”1.
Cư dân ven biển
Đồng Hới nổi tiếng với hội bơi trải Động Hải (Đồng Hới hiện nay) vốn bắt đầu từ
làng biển Cừ Hà. Xưa, năm nào cũng có bơi trải về sau đổi định lại cứ 6 năm tổ
chức một lần nên có tên gọi là “lục niên cạnh độ”. Hội trải Đồng Hới có nét độc
đáo ở hai lễ, lễ “trình mũi” và “lễ buông phao”. Chiếc thuyền trải gần giống
với chiếc thuyền độc mộc ở miền núi (được chế tác từ một cây gỗ nguyên vẹn để
đi trên vùng thác chảy), chỉ khác ở chỗ chiếc trải được ghép lại từ năm tấm
ván. Đầu mỗi trải thường có mô hình bằng gỗ với hình thù mặt rồng được cách
điệu như hình ngọn rau muống dại mọc ở bờ cát biển và nhọn như mỏ chim đại
bàng. Mô hình “muống” mang hình sinh thực khí nam giới được cách điệu. “Nhọn”
mang hình sinh thực khí nữ giới cách điệu. Theo các nhà nghiên cứu, đây thực ra
là một dạng thức thờ sinh thực khí “Linga” và “Yoni” trong phong tục người Chăm
xưa. Điều này lý giải sự giao thoa giữa văn hóa Việt và văn hóa
Chăm cũng như nét riêng độc đáo của lễ hội bơi trải Đồng Hới với các vùng khác.
Xuất phát từ quan niệm về “sinh thực khí” có nguồn gốc lâu đời trước đó, đại
diện cho nguyên lý âm dương, có nguồn gốc từ văn hóa Chăm, các địa phương khác
không có kiểu dáng mũi thuyền này, ở đây được cách điệu cho thêm phần sinh động
và hấp dẫn hơn2.
Hội trải ở vùng
cửa sông Nhật Lệ diễn ra trong ba ngày liền. Ngày đầu gọi là ngày trình mũi. Lễ
trình mũi mang ý nghĩa trình diện và thỉnh mời bắt đầu từ đình làng Hà Thôn đi đến
khắp các nơi có đình, chùa, đền, miếu, am, điện ở ven hai bờ sông Nhật Lệ. Ngày
thứ hai là hoạt động của lễ hội. Ngày kết thúc “lục niên cạnh độ” còn được gọi
là ngày “buông phao”. Nghi thức buông phao mang ý nghĩa tưởng niệm và cầu siêu
cho những linh hồn, nạn nhân tử vong trên sông, biển. Lễ được tiến hành theo
một nghi thức dân gian truyền thống mang tính địa phương riêng biệt, độc đáo.
Trải qua thời gian dài trong lịch sử, biết bao sự đổi thay, nhưng sức sống của
lễ hội bơi trải vẫn đồng hành cùng người dân Đồng Hới từ thế hệ này qua thế hệ
khác. Trong những năm trở lại đây, hội trải được tổ chức trong khuôn khổ các
hoạt động Tuần Văn hóa - Du lịch của phường vào ngày 30 tháng 4 hàng năm, thu
hút đông đảo bà con và khách du lịch đến với lễ hội, với vùng biển đa dạng và
đặc sắc văn hóa.
2. Các trò chơi dân gian thường được tổ chức gắn liền với lễ
hội, trong đó có những trò chơi phổ biến như kéo co, cướp cù, đánh cờ người, cờ
tướng... tiêu biểu là chơi bài chòi (hội bài chòi từ lâu đã có ở Bắc Lý, Nam Lý,
Đức Ninh, Đồng Sơn, Hải Thành cũ...)
Ngày 7 tháng 12
năm 2017, Nghệ thuật Bài chòi Trung bộ Việt Nam được công nhận là Di sản văn
hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nghệ thuật Bài chòi có lịch sử hình
thành và phát triển trong vài thế kỷ trở lại đây, theo tiến sĩ Đặng Hoành Loan
thì “Bài chòi được hình thành và phát triển sau năm 1470”3, không gian di
sản của nghệ thuật Bài chòi được xác định gồm 10 tỉnh ở miền Trung, được bắt
đầu từ tỉnh Quảng Bình ở phía bắc và kết thúc tại tỉnh Ninh Thuận ở phía nam.
Cũng là loại hình bài chòi nhưng mỗi địa phương lại có nét riêng. Nghệ thuật
bài chòi tồn tại và duy trì ba phong cách âm nhạc đặc trưng ở ba vùng: Quảng
Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế với phong cách âm nhạc chậm rãi, dung dị;
Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi là phong cách âm nhạc nhẹ nhàng, trữ tình, thanh
thoát; Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận với phong cách âm nhạc mang
sắc thái kịch tính.
Nghệ thuật Bài
chòi là sản phẩm văn hóa của vùng đất Trung bộ nói chung, của Quảng Trị, Đồng
Hới nói riêng. Do điều kiện môi trường sống, người chơi bài chòi đã sáng tạo ra
nhiều dạng thức chòi chơi bài ở những địa điểm khác nhau4... Họ nghĩ ra
cách hô hát trên mỗi chòi, từ chòi này đối đáp qua chòi khác. Bài chòi chủ yếu
phục vụ tầng lớp bình dân và được chính người dân kế thừa, phát triển thành một
loại hình sân khấu ca kịch dân gian đặc sắc của các tỉnh khu vực Trung bộ,
trong đó có Đồng Hới.
Trong Nghệ
thuật Bài chòi, thơ ca, âm nhạc, ngôn ngữ, phong tục, lối sống được chuyển tải
một cách mộc mạc, tự nhiên, tạo sức hấp dẫn với công chúng. Rất nhiều tục ngữ
ca dao, bài vè... được biến tấu, diễn tả sinh động mọi cảnh đời, từ tình yêu
đôi lứa đến những khúc mắc nhân tình thế thái, tạo nên sự riêng biệt của bài
chòi. Bài chòi ở Quảng Trị thực hành có bài bản, có lịch sử lâu đời ở các địa
phương nam sông Gianh. Trong khi ở phía bắc sông Gianh chưa tìm thấy địa phương
nào thực hành hội chơi bài chòi. Hiện nay, có một thực tế là phía Bắc sông
Gianh, dân cũng có trò chơi mà họ gọi là bài chòi. Nhưng theo các nhà nghiên
cứu “Một địa bàn có sự thụ ứng giao thoa văn hóa hai miền Bắc Nam như Quảng
Bình thì việc có loại hình văn hóa phổ biến ở phía nam sông Gianh được cư dân
phía bắc sông Gianh tiếp nhận vào đời sống văn hóa của họ là lẽ thường tình,
nhưng những khác biệt đáng kể trong cấu trúc bộ bài và thể thức chơi thì khó có
thể gọi là bài chòi”5. Và rõ ràng “Trò chơi dân gian bài chòi vùng bắc sông Gianh
chính là biến thể của trò chơi tô điếm khi vượt đèo Ngang vào phía bắc Quảng
Bình cũ. Tổ tô điếm là loại hình trò chơi dân gian gần giống bài chòi thịnh
hành các tỉnh phía bắc lan vào Nghệ An, Hà Tĩnh”6.
Theo nhà nghiên
cứu Nguyễn Tú, bài chòi Đồng Hới nói riêng, phía nam sông Gianh nói chung được
bắt nguồn từ đánh “bài tới”, gọi là bài chòi, vì khi chơi, người chơi ngồi trên
chòi cao, còn gọi là “tới” bởi vì khi kết thúc ván, người chơi hô “tới”. Hội bài
chòi ở Đồng Hới thường diễn ra trong các lễ hội mùa xuân hàng năm. Nay chơi bài
chòi cũng được tổ chức trong các dịp lễ, khai trương đường đi bộ... Trong cuộc
chơi, mọi người đều bình đẳng như nhau, không phân biệt giàu nghèo, trên dưới,
ai cũng có thể tham gia.
Nét riêng của
bài chòi là hình thức chơi bài nhưng không mang tính ăn thua như ở sòng bài, mà
chỉ để giải trí bằng hình thức đối đáp vui xuân. Hội bài chòi thường diễn ra ở
sân đình hay đất trống gần khu dân cư, thường người ta dựng 9 hoặc 11 chòi tre.
Người lưu giữ và thực hành nghệ thuật bài chòi được gọi là các “anh Hiệu, chị
Hiệu”, họ là người dẫn dắt cuộc chơi, ngồi ở chòi cái, họ rút con bài trong ống
bài giơ lên rồi hát những câu hát đố tên con bài ấy, gọi là hô Thai.
Bài chòi có hai
hình thức chính là chơi bài chòi và trình diễn bài chòi, chơi bài chòi là hô,
hát kết hợp với thẻ bài có ghi tên các con bài. Trong các buổi trình diễn,
anh/chị Hiệu trình diễn trên chiếu cói hoặc di chuyển từ nơi này đến nơi khác.
Họ hát đối đáp về tình yêu quê hương đất nước, về tình yêu xóm quê, bến nước,
bờ đê, về sự gắn kết cộng đồng, những bài học về đạo đức, lối sống, cách ứng xử
giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên.
Hội bài chòi ở
Đồng Hới nói riêng và Quảng Trị nói chung đang được bảo tồn và từng bước khôi
phục. Giá trị nghệ thuật bài chòi Đồng Hới là sự giao thoa văn hóa giữa các
vùng miền, vùng duyên hải miền Trung, của các tỉnh miền Trung từ Quảng Bình
(cũ) vào cho đến tỉnh Phú Yên (cũ), là sự giao thoa văn hóa giữa các dân tộc trong
cộng đồng Việt Nam được trao truyền qua bao thế hệ. Từ những động tác, câu hò,
điệu hát của người cái và những người phục vụ hay người tham gia hội bài chòi,
đến hình vẽ trên 30 quân bài trong bộ bài tới với nhiều hình, nhiều kiểu, màu
sắc họa tiết, hoa văn hấp dẫn là kết quả của một quá trình giao thoa, cộng
hưởng của nhiều nền văn hóa. Đây chính là giá trị quý báu của loại hình Di sản
văn hóa phi vật thể Nghệ thuật Bài chòi Đồng Hới.
3. Nét văn hóa chung là các lễ hội văn hóa dân gian đều xuất phát từ tín
ngưỡng dân gian, cầu mùa, cầu ngư, cầu cho mưa thuận gió hòa, trời yên biển
lặng. Với ngư dân đi biển thì cầu mong cho thần biển phù hộ một mùa tôm cá đầy
thuyền, với cư dân trồng lúa nước thì cầu cho mưa xuống, khoai lúa tốt tươi,
thu hoạch thuận lợi, ngô lúa bội thu...
Múa bông, chèo
cạn trong lễ hội dân gian ở Đồng Hới có thể thức gần giống với chèo cạn Cảnh
Dương, nhưng lại có nét riêng không trộn lẫn được, đó là khác trong lối hò. Có
năm loại hò được đưa vào chèo cạn, hò mái dài, hò mái ba, hò mái nện, hò mái
khoan, hò kéo lưới. Nếu đứng riêng thì nó là những điệu hò chuyên dùng, nhưng
khi đưa vào chèo cạn thì nó hòa nhập với nhau tạo nên khúc ca nhuần nhuyễn.
Chèo cạn ở sông Nhật Lệ có múa bông đi kèm là múa thuần túy, không hát, không
lời... Đây cũng là nét riêng của múa bông chèo cạn nói riêng, lễ hội Đồng Hới
nói chung so với các địa phương khác.
Nhận thức đúng
giá trị, đặc trưng, nét văn hóa chung, riêng, sự giao thoa vùng miền của lễ hội
và các trò chơi văn hóa dân gian của người Đồng Hới, đưa lễ hội gắn kết với du
lịch là việc làm vô cùng cần thiết trong chiến lược phát triển kinh tế, văn
hóa, xã hội của Đồng Hới hiện nay, phấn đấu đưa Đồng Hới nhanh chóng trở thành
trung tâm văn hóa, du lịch của tỉnh, khu vực và cả nước. Tổ chức khai thác, phát
huy tính độc đáo, thế mạnh của lễ hội và các trò chơi văn hóa dân gian trong du
lịch trên địa bàn phường Đồng Hới, không những giữ gìn bản sắc văn hóa vùng
biển mà còn nhằm phát triển du lịch bền vững của tỉnh Quảng Trị.
T.Đ.H
______________
1 Dương Văn An, Ô châu cận lục, Nhà xuất bản
Thuận Hóa, năm 2015, trang 26.
2 Nguyễn Tú, Lễ hội bơi trải truyền thống “Lục niên cạnh độ” Đồng Hới, bản viết tay của tác giả, tháng 10 năm 2005, các trang
2,12,13,14,15.
3, 4 Đặng Hoành Loan, Bài chòi Trung bộ Việt Nam, từ góc nhìn của người nghiên cứu
điền dã, Tạp chí văn hóa Quảng Bình.
5 Tạ Đình Hà, Nguyễn Mậu Nam và
các cộng sự, Kiểm kê di sản văn hóa phi vật
thể của cư dân miền biển Quảng Bình, Đề
tài khoa học cấp quốc gia, tháng 12 năm 2014, trang 17.
6 Minh Nguyễn, Nghệ thuật Bài chòi Quảng Bình,
Tạp chí Văn hóa Quảng Bình số 6, năm 2018, trang 26 và 32.
