Tuổi thơ bên dòng Kiến Giang
Tuổi thơ tôi
gắn liền với những ngày ngụp lặn cùng dòng sông trong trẻo và đầy ắp tiếng
cười. Còn nhớ mỗi chiều, lúc mặt trời vừa khuất sau lũy tre làng, vương vài tia
nắng trên mặt sông, lũ trẻ chúng tôi lại ùa xuống bến. Chỉ cần một đứa chạy
trước, cả bọn nối theo sau, chân đất đầu trần nhảy ùm ụp xuống mặt sông trong
vắt. Đứa lặn, đứa bơi, đứa đứng ném lia thia ồn ào cả khúc sông. Nước vỗ vào
người thích thú, tiếng cười giòn tan theo từng cú nhảy.
Có khi, nước sông trong đến mức nhìn thấu tận đáy. Cá bạc, cá sơn… bơi thành đàn, lấp lánh như những mảnh bạc vụn. Có mấy đứa lớn tuổi thả lưới một hồi thu nhiều mớ cá tươi roi rói. Trên sông, người lớn lặng lẽ với công việc của mình. Những cánh tay săn chắc quăng chài, tung ra giữa không trung, xòe rộng như cánh hoa rồi khép lại giữa lòng sông. Mùi cá tươi, mùi bùn non, mùi gió sông quyện lại thành một thứ mùi suốt đời khó có thể quên được. Sông không chỉ nuôi sống con người bằng cá tôm, mà còn chứng kiến bao phận người trưởng thành và tung cánh bay xa.

Những con đò
dọc xuôi ngược suốt ngày. Sáng, thuyền chở người vùng hạ lưu lên chợ Tréo, chợ
Trạm mua bán; trưa chở mọi người qua sông đi chợ; chiều lại đón những bước chân
mệt mỏi trở về. Mỗi chuyến đò là một kho chuyện kể. Có chuyện vui, chuyện buồn,
chuyện làm ăn, chuyện cưới hỏi… lúc theo con nước lờ lững trôi đi, lúc dùng
dằng luyến lưu ở lại.
Mỗi khi đêm
xuống, Kiến Giang mang vẻ đẹp trầm sâu. Mặt nước dập dềnh dát ánh trăng cùng
ánh đèn những xóm bên sông hắt bóng. Tiếng “lồng cồng” từ những chiếc thuyền
vang lên, âm thanh tưởng như đơn điệu mà khiến lòng người bâng khuâng, đánh
thức những ký ức tưởng đã ngủ yên trong lòng người dân xứ Lệ. Nhiều đêm, trong
không gian bảng lảng khói sương, tiếng hò khoan Lệ Thủy cất lên, ngân nga và
sâu lắng:“Chỗ mô sâu bằng nơi Trôốc Vực/ Hói mô
quanh quẹo bằng hói Đại Phong…”. Câu hò mở ra
tấm bản đồ sông sâu, nơi có con hói uốn mình ghi dấu chân tiền nhân ngang qua.
Rồi có khi, giữa đêm khuya, giọng hò chợt chùng xuống, mang theo nỗi niềm riêng
tư của kiếp người: “Công bất thành, danh
bất toại, anh xách nón ra về/ Mất thầy mất mẹ khó kiếm và đạo nghĩa phu thê chi
bằng…”.
Cứ mỗi lần câu
hò này cất lên, lòng tôi lại chênh chao, khắc khoải. Và rồi, cũng giọng hò ấy
cất lên vỗ về: “Ơn thầy nghĩa mẹ nặng lắm
anh ơi/ Nghĩa phu thê sớm muộn nhờ trời/ Tiết thanh xuân em hãy còn nở/ Chưa
muộn thời mà anh lo…”. Những câu hò cứ thế nối
nhau, dập dìu trên sóng nước, tạo nên một không gian trữ tình, thiết tha.
Mỗi độ thu về,
lễ hội đua thuyền trên dòng Kiến Giang làm cả dòng sông bừng tỉnh. Từ sáng sớm,
hai bên bờ đã ken kín người. Cờ bay, trống giục, những chiếc thuyền dài sơn màu
rực rỡ, xếp hàng trên mặt nước như những mũi tên đang chờ lệnh xuất phát. Rồi
khi hiệu lệnh vang lên, cả dòng sông dậy sóng.
Những mái chèo
rẽ nước dồn dập về đích. Tiếng hò reo vang trời. Người trên bờ chạy theo
thuyền, gọi tên, cổ vũ. Người dưới thuyền gồng vai, dốc sức bơi đua. Mỗi nhịp
chèo tựa như đợt sóng của tình yêu làng quê, với bao đời cha ông khai sơn, lập
địa. Mỗi cú rẽ cua sang bãi bồi là một lần khẳng định sức mạnh, ý chí và tài
năng của người cầm lái. Bơi đua thuyền trong tâm thức của người xứ Lệ là cách
con người chinh phục khó khăn, vượt qua sự khắc nghiệt của thời tiết, bão lụt.
Tuổi thơ tôi lớn lên như thế, đầy rộn rã, đầy nhớ thương.
Dòng sông và
những vết thương
Nhưng dòng Kiến
Giang đâu chỉ “xanh mãi một màu”. Đến mùa mưa bão, sông trở tính thành một kẻ
nóng nảy, dễ giận dữ. Mưa từ đầu nguồn đổ xuống ngày này qua ngày khác không
dứt. Nước dâng cao, đục ngầu, siết chặt lấy miền quê nhỏ bé, cuồn cuộn gầm gào
như loài mãnh thú. Những lũy tre bị quật ngã, những bờ bãi bị xé toạc, những
vườn cây bỗng chốc chỉ còn trơ lại gốc rễ. Nhà cửa chao nghiêng, mái ngói chìm
lút. Trong mênh mông ấy, con người trở nên nhỏ bé đến tội nghiệp.
Người làng tôi
quen lụt bão. Quen đến mức có thể đo được mực nước qua tiếng mưa và tiếng gió
trong đêm. Những bữa cơm vội trên tầng áp mái (quê tôi gọi là “tra”), nhưng đó
là chốn dung thân an toàn cho bà con vùng trũng Lệ Thủy. Ở trên đó dung chứa
bao ánh mắt lo âu nhìn nhau trong ánh đèn dầu leo lét, nhưng lại chan chứa niềm
lạc quan về mùa sau ăm ắp phù sa, cá tôm sinh sôi…
Đáng sợ hơn cả
thiên tai chính là “nhân tai”. Dòng sông yên ả đang mang nỗi đau do chính bàn
tay con người tạo ra. Suốt thời gian khá dài, dòng Kiến Giang không còn chỗ cho
người dân thả lưới, quăng chài, gõ lồng cồng. Thay vào đó là các phương tiện
đánh bắt tận diệt nguồn thủy sản. Những dòng điện lạnh lùng từ các máy kích
điện quét qua dòng nước như những nhát dao vô hình. Cá lớn cá bé nổi lên trắng
bụng. Không có tiếng quẫy, không có sự vùng vẫy, chỉ mặt sông chết lặng. Người
làng đứng trên bờ nhìn sông bằng ánh mắt lặng buồn.
Rồi những bãi
bồi từng là nơi lũ trẻ chăn trâu, thả diều; người lớn trồng bắp, trồng khoai…
nay bị xâm lấn từng chút một bởi bê tông hóa. Những hàng tre từng cúi mình soi
bóng, vi vu cùng điệu hò khoan Lệ Thủy giờ thưa dần, có nguy cơ mất hẳn. Miền
quê “gạo trắng nước trong” từng là niềm tự hào của bao đời con cháu chợt nhận
ra nước không còn trong, cá tôm dần vơi mỗi ngày.
Sự hồi sinh
của dòng sông
Nhưng cũng như
người dân quê tôi, dòng Kiến Giang chưa bao giờ đầu hàng, tuyệt vọng. Sông mang
vết thương nhưng chưa bao giờ thôi chảy. Chính sự can trường, bền bỉ ấy đã bắt
đầu một cuộc hồi sinh.
Trong những năm
qua, nhiều người con quê hương đã trở về với dòng sông bằng một tình yêu lặng
thầm, mạnh mẽ. Giáo sư, Tiến sĩ, Anh hùng Lao động Nguyễn Anh Trí cùng các cộng
sự đã lặng lẽ thả xuống dòng Kiến Giang hàng tấn cá giống mỗi năm. Ông thả cá
tôm xuống sông với niềm tin, dòng Kiến Giang sẽ hồi sinh và người dân quê mình
sẽ làm du lịch ngay trên mảnh đất quê hương. Nhiều tổ chức thiện nguyện, nhiều
người con xa quê mỗi lần trở về cũng thực hiện những chuyến “phóng sinh”, mong
một ngày cá tôm lại chật ních lòng sông như ngày xưa.
Song song với
những bàn tay gieo sự sống ấy là những bước chân mang theo niềm tin, hy vọng về
việc bảo vệ dòng Kiến Giang, khôi phục dòng Kiến Giang trở lại thuở ban đầu.
Thời gian gần đây, công tác kiểm tra, truy quét nạn “cá tặc” của Công an xã Lệ
Thủy đã khiến người dân bên sông thực sự phấn khởi. Hàng đêm, tiếng ca nô tuần
tra vang lên đều đặn vào đầu buổi tối hoặc giữa đêm khuya thanh vắng khiến mọi
người mừng vui khôn tả. Tôi đã nhiều lần đứng trên bờ sông vào những giờ rất
muộn để nhìn các chiến sĩ công an đang thực thi nhiệm vụ. Có lần tôi chủ ý đợi
họ cập bờ. Ánh đèn pin quét nhẹ sáng loáng. Những gương mặt hiện lên trong ánh
sáng chập chờn, tôi hỏi vài câu chỉ như một người con của dòng sông muốn được
nói lời cảm ơn. Họ chỉ cười: “Bảo vệ thủy sản trên dòng Kiến Giang là trách
nhiệm chung thôi anh ạ…”. Trong khoảnh khắc ấy, tôi hiểu dòng sông đang được
giữ gìn không chỉ bằng trách nhiệm mà còn bằng tình yêu của người lính. Khi ca
nô rời bờ, tiếng máy nổ xa dần hòa vào màn đêm, tôi biết ở những khúc quanh
phía trước, dòng sông đang được bình yên.
Chúng tôi có
quyền mơ ước về một ngày không xa, dòng Kiến Giang sẽ trở lại như thuở nào.
Những chiếc thuyền nối nhau ra sông trong sương sớm, thả lưới giăng câu, gõ
lồng cồng quây cá. Trẻ con lại reo vang bên bến nước, người lớn quây quần bên
mẻ cá tươi cùng những câu chuyện nối dài bất tận. Và tiếng hò khoan Lệ Thủy của
những đôi nam thanh nữ tú lại vang vọng dọc hai bên bờ sông. Tiếng hò ngân dài,
lan quanh mạn thuyền, dội vào lòng người những cảm xúc xưa cũ. Tôi tin rằng,
chẳng còn lâu nữa, dòng Kiến Giang sẽ hồi sinh bởi tình yêu và sự gìn giữ của
người dân quê tôi.
N.M.T
