Bánh beng - biểu tượng văn hoá
Từ cuối tháng mười đến hết tháng mười hai dương lịch, khi những gùi lúa đã đầy, tiếng chày giã gạo vang lên đều đặn trong bản. Trai gái thay nhau giã nếp, những bà, những mẹ chuẩn bị lạt giang, lá dong rừng để gói bánh. Trong mỗi ngôi nhà sàn, bếp lửa đỏ suốt ngày đêm. Mùi khói quyện cùng hương nếp mới lan tỏa khắp núi rừng, báo hiệu mùa lễ hội - lễ mừng lúa mới đã về.
Với người miền xuôi (người Kinh), trên mâm cỗ dâng cúng tổ tiên những ngày Tết đến xuân về thì món bánh chưng, bánh tét là thứ không thể thiếu bởi nét văn hóa nghi lễ ngàn đời. Tương tự, trong lễ mừng lúa mới (lễ hội mùa màng) của đồng bào Vân Kiều, Pa Kô thì bánh beng là sản vật đặc trưng trong ẩm thực nghi lễ, một biểu tượng văn hóa hết sức quan trọng.
Bà Hồ Thị Đần, 62 tuổi, dân tộc Vân Kiều ở thôn Trăng - Tà Puồng, xã Hướng Lập, tỉnh Quảng Trị, hơn nửa thế kỷ ăn mừng lúa mới tự hào rằng, nhiều đời người rồi, cứ tới lúa mới là gói bánh beng, cưới xin cũng bánh beng, tưởng nhớ người xưa cũng gói bánh beng. Bánh beng như tấm lòng, sợi dây kết nối giữa con người với nhau, giữa con người với thần linh, với đất trời. Bánh beng đã trở thành truyền thống của đồng bào Vân Kiều những dịp quan trọng của gia đình, dòng họ và bản làng.
Bánh beng được làm từ gạo nếp trắng, chọn lọc từ những hạt lúa tốt nhất của vụ mùa. Gạo phải là lúa sạch, không sử dụng phân hóa học. Quan niệm này xuất phát từ niềm tin rằng thần linh chỉ chấp nhận những gì tinh khiết, không bị con người làm tổn hại.
Bánh được gói bằng lá dong rừng, buộc bằng lạt giang. Việc sử dụng hoàn toàn vật liệu tự nhiên phản ánh mối quan hệ mật thiết giữa con người và rừng, không gian sinh tồn cốt lõi của cộng đồng. Nét đặc biệt của bánh beng là không có nhân. Sự giản lược này không phải là thiếu thốn, mà là lựa chọn có chủ ý nhằm giữ trọn hương vị nguyên sơ của hạt lúa.
Tùy từng vùng miền cư trú khác nhau của đồng bào Vân Kiều và Pa Kô kéo theo sự khác biệt của bánh beng sử dụng trong nghi lễ về hình dáng. Bánh của người Vân Kiều thường ngắn và to, còn bánh của người Pa Kô thon và dài hơn. Tuy nhiên, sự khác biệt này không làm thay đổi ý nghĩa biểu tượng chung và thống nhất trong đa dạng văn hóa. Sự thống nhất nằm ở quan niệm, bánh beng là lễ vật thiêng, không thể thiếu trong các nghi lễ quan trọng. Thiếu bánh beng, mâm lễ được coi là chưa trọn vẹn, tương tự vai trò của bánh chưng, bánh tét trong ngày Tết của người Kinh.
Bánh beng là hiện thân của hạt lúa - “hạt ngọc trời”. Màu trắng của nếp tượng trưng cho sự trong sạch, trung thực. Màu xanh của lá tượng trưng cho sự sống, hy vọng và vòng tuần hoàn tự nhiên. Hình trụ của bánh gợi liên tưởng đến sự tiếp nối, sinh sôi và bền bỉ. Và việc không dùng nhân còn mang ý nghĩa là giữ gìn sự thuần khiết trong tình cảm và các mối quan hệ con người, giữa con người và thần linh, thiên nhiên…
Có rất nhiều giai thoại khác nhau xung quanh chiếc bánh beng của đồng bào Vân Kiều, Pa Kô. Đó là tình thân, tình yêu, đó là câu chuyện về tâm linh mà ở đây là thần lúa. Nhưng suy cho cùng, dù nhiều dị bản thì bánh beng vẫn tượng trưng cho sự thuần khiết của lúa - hạt ngọc trời cho, thể hiện lòng tôn kính, lòng biết ơn của đồng bào với đất trời, với thiên nhiên, đó cũng là tấm lòng yêu thương của đồng loại với nhau giữa non ngàn.
Ông Hồ Văn Giỏi dân tộc Vân Kiều ở thôn Trăng - Tà Puồng, xã Hướng Lập, tỉnh Quảng Trị kể rằng, ngày xưa giữa núi rừng Trường Sơn cây cối thâm u, thú dữ rất nhiều có hai chị em mồ côi sinh sống, họ hết mực thương yêu nhau. Một ngày, người chị đi vào núi rồi từ đó không thấy về, người em nhớ chị khóc cạn nước mắt. Từ cây lúa hai chị em trồng, người em bóc hạt lúa, lấy gạo nếp gói bánh đợi chị về. Màu xanh của chiếc bánh beng tượng trưng cho niềm hy vọng của người em, còn hạt lúa nếp trắng tượng trưng cho tấm lòng tinh khiết, trong trắng. Cũng chính vì thế gói bánh beng người ta không dùng nhân, không dùng nhụy, chỉ độc nhất gạo nếp hạt to tròn, trắng mẩy.
Ngoài câu chuyện trên, ông Hồ Văn Giỏi còn kể thêm một câu chuyện về tình yêu của đôi trai gái nhà ở cạnh nhau, từ nhỏ hai người quấn quýt bên nhau. Qua thời gian chàng trai đem lòng yêu cô gái nhưng cô gái chỉ xem chàng trai như người anh trai của mình. Cô gái đã yêu chàng trai bản làng bên. Trước ngày đám cưới, chàng trai bày tỏ nỗi buồn với mẹ. Thương con, mẹ chàng trai lấy lá rừng gói gạo nếp nấu bánh rồi nói với chàng trai: mẹ biết tấm lòng của con, nhưng tình thương của cô gái mà con thương trong trắng như suối nguồn, thơm tho như hạt gạo, người xem con như anh trai thì con cũng nên xem người là em gái. Mẹ gói bánh này cũng để nói lên điều đó, con mang nó cho em gái của mình. Đêm đám cưới cô gái, chàng trai mang bánh sang nhà như lời mẹ bảo, dọc đường đi, chàng trai thẫn thờ nhìn những chiếc bánh bốc khói mà cay xè đôi mắt…
Trong rất nhiều chuyện kể về nguồn gốc chiếc bánh beng nhưng tất cả đều quy tụ vào sự tôn kính, tấm lòng thủy chung son sắt, nghĩa cử của người thân yêu trao gửi cho nhau. Ông Hồ Văn Giỏi còn cho chúng tôi biết thêm, trên mâm lễ phong tục của đồng bào, bánh beng phải đi liền với bánh a dữy, một loại bánh nếp giã với vừng đen rang tạo nên sự dẻo ngọt, rất bùi. Nếu có bánh beng mà không có bánh a dữy thì mâm lễ đó coi như không trọn vẹn, ngược lại, nếu mâm lễ có bánh a dữy mà không có bánh beng thì nghĩa cử đó không tròn, nên a dữy và bánh beng luôn có mặt trong cùng mâm lễ đó là nguyên tắc không bao giờ thay đổi.
“Nếu không duy trì được phong tục tập quán bằng lễ hội, bằng thức ăn, lễ nghi thì không còn người Vân Kiều nữa. Con cháu sau này cũng không biết tổ tiên ăn gì, cúng gì. Không biết đến lễ nghi thì không biết văn hóa. Cũng bởi thế gia đình, dòng họ luôn giáo dục con cháu giữ gìn truyền thống của dân tộc mình. Giữ bánh beng và a dữy là giữ văn hóa, còn văn hóa Vân Kiều thì còn người Vân Kiều”, anh Giỏi thổ lộ thêm.
Nữ thần ấm no và hạnh phúc
Trong tín ngưỡng của đồng bào Vân Kiều, Pa Kô, nữ thần A Giã Bôn là vị thần mang hạt lúa cho con người. Thần không chỉ ban phát lương thực mà còn bảo hộ sự sống, sức khỏe và hạnh phúc.
Khác với các hệ thống thần linh mang tính siêu hình xa cách, thần A Giã Bôn hiện diện ngay trong đời sống thường nhật, trên nương rẫy, trong hạt lúa, trong chiếc bánh beng. Điều này cho thấy một thế giới quan “vật linh”, nơi mọi yếu tố tự nhiên đều có linh hồn và đáng được tôn trọng.
Người Vân Kiều, Pa Kô tin rằng được mùa là do thần ban phúc, mất mùa là do con người chưa sống đúng với tự nhiên. Khi gặp khó khăn, họ không trách cứ thần linh mà tự điều chỉnh hành vi trong khai thác rừng, giữ đất, sống hài hòa với cộng đồng. Quan niệm này hình thành một hệ thống đạo đức sinh thái đặc biệt, trong đó con người tự ràng buộc trách nhiệm của mình với môi trường sống. Việc chọn lúa sạch để gói bánh beng chính là biểu hiện cụ thể của đạo đức ấy. Và cũng chính vì thế, ẩn sau chiếc bánh beng giản dị là triết lý sống “vừa đủ”, không tích lũy quá mức, không khai thác cạn kiệt tài nguyên, biết chia sẻ khi có nhiều và tiết kiệm khi có ít. Hạnh phúc cá nhân gắn chặt với hạnh phúc cộng đồng.
Trải qua hơn nửa thế kỷ sống với bản làng, qua bao nhiêu ngọn đồi, bao nhiêu nương rẫy, bà Hồ Thị Đần khẳng định rằng, nữ thần A Giã Bôn là nữ thần mang hạt lúa cho người dân bản làng, đó là nữ thần ấm no và hạnh phúc. Qua bao thế hệ, đồng bào vẫn có những vị thần trong lòng mình, hiện hữu trên từng dòng sông, từng cái cây, từng nương rẫy. Sự sống bắt đầu từ giản đơn và duy trì được nó đã mang lại hạnh phúc bền vững cho con người, nhất là bản làng sống hòa mình vào thiên nhiên. Bà Hồ Thị Đần bảo, đời mẹ chỉ cần có cơm để ăn, có áo để mặc, được sống cùng cỏ cây thú rừng là hạnh phúc. Đó là thứ giản đơn, nhưng khi lật trở sự việc này, với đời sống hiện đại thì đó là cả một giấc mơ mà loài người đang quay trở lại để hướng tới tương lai bền vững.
Vài năm trở lại đây, hễ có dịp, chúng tôi lại lang thang qua những cánh rừng miền Tây Quảng Trị và vẫn bắt gặp ông Hồ Văn Giỏi, thôn Trăng - Tà Puồng với căn nhà cũ, nếp sống cũ, bộ quần áo đã phai màu. Nhưng ông Giỏi bảo, mọi thứ vẫn còn tốt, áo quần còn mặc được, tiết kiệm và vẫn còn đẹp lắm. Miên man nghĩ bao điều, như hạt lúa trên nương, nếu là chúng tôi sẽ bón phân, tìm cách tăng trưởng để cây lúa lên xanh, sản lượng đạt như mong muốn. Nhưng với đồng bào, bón phân nhất là phân hóa học đó là tác động xấu cho đất, cho cây và nhất là sức khỏe con người. Cũng vì thế người Vân Kiều, Pa Kô không dùng lúa đã bón phân mà phải chọn lúa sạch để cúng thần A Giã Bôn, nữ thần của ấm no và hạnh phúc. Để gói bánh beng hay a dữy người Vân Kiều cũng chọn gạo nếp như thế. Đó là phong tục của đồng bào, sau này có đổi thay không tùy vào ý thức của lớp trẻ, còn hiện nay bản làng vẫn duy trì nét đẹp của ngàn đời.
Như cách nói của bà Hồ Thị Đần, con người dù đi gần hết tuổi của mình thì trái tim vẫn luôn hướng về các vị thần, đặc biệt là thần A Giã Bôn luôn cho người dân bản làng hạt lúa để ăn. Và mọi thứ may mắn được quy đổi ra hạnh phúc, thứ không may mắn thường quy lỗi về mình, từ đó đồng bào cầu xin, chứ không mảy may trách cứ. Thần cho bao nhiêu lúa gạo cảm ơn thần bấy nhiêu. Cho nhiều thì phân phát cho cộng đồng, cho ít thì ăn tiết kiệm lại, mọi người cùng giúp đỡ nhau. Sống giữa núi rừng phải biết thương yêu, đùm bọc lẫn nhau mới vững bền cùng mọi thứ…
L.T
