Không hiểu sao trong mấy nàng dâu thì bà tôi ghét mẹ tôi nhất, vì sao bà ghét, tôi không biết, tâm hồn non nớt của đứa bé tám tuổi trong tôi ngày đó không thể lý giải được, nhưng nghe tiếng chửi thì tôi nghe nhiều, nghe cả tiếng bố nửa gắt nửa nài nỉ: “Thôi mà mẹ!”. Giọng nói của bố có cái gì trĩu xuống, tựa như bà đặt tảng đá thật to, được cọ rửa sạch sẽ, vẫn gồ ghề bốn cạnh, vào cái chum cà nén ngoài bể nước cạnh gốc cau đầu bếp vậy.
Mẹ thì nước mắt ngắn nước mắt dài, vừa tất tưởi gánh mạ, vừa khóc, bước thấp bước cao qua bờ ruộng, qua chỗ cây táo chín rụng quả đầy chuồng trâu, ra ngoài cánh đồng xa kia. Sụt sùi, sụt sùi. Cái nón che kín mặt như cố không cho ai nhìn thấy. Nhưng tôi vẫn thấy, tôi thấy mẹ khóc, bà chửi, còn bố cứ: “Thôi mà mẹ!”, đã bao lần.
Buổi trưa, khi những con ruồi lơ thơ đậu trên bậu cửa chỗ đặt nồi cơm cùng cái mâm vừa dọn đi khi nãy, bà ngồi cầm cái quạt mo phe phảy, hai chân choãi ra, miệng nhai trầu bỏm bẻm, thi thoảng bà lại nghếch cái cổ đầy gân xanh nổi lên chằng chịt như những con giun, sờ vào mềm mềm nhũn nhũn ra ngoài sân gạch, nhổ đến toẹt một cái, những hạt nhỏ li ti sậm màu của bãi nước trầu bắn tung tóe. Mẹ tất tả bê bát ra ngoài giếng, bóng mẹ đã khuất sau mấy cành cam lòa xòa, tiếng rửa bát lạch cạch. Bà vắt chéo hai chân vào nhau:
“Giống người là giống tham lam
Một người chẳng muốn muốn quàm cả hai…”.
Tiếng bố gắt lên trong nhà: “Thôi mà mẹ, chưa đủ đau đầu hay sao?”. Lúc đó bà mới yên, chỉ còn lại tiếng nhổ trầu toèn toẹt và tiếng lạch cạch càng mạnh hơn của bát đĩa sành va vào nhau ngoài giếng.
Không hiểu sao bà ghét mẹ. Ngày mẹ đẻ tôi, bà lên nhà chú ở không thèm về. Khi về, thấy mẹ nằm trên giường, đàn ngan kêu quang quác không ai chăn, bà hỏi:
“Thằng Hùng đâu không thả ngan ra?”
“Nhà con đi đâu mà từ sáng đến giờ. Nó kêu đến điếc cả tai. Kệ cha lũ nó mẹ ạ!”.
Phần vì tức bố, bỏ vợ con đói gần ngày trời, phần vì tiếng kêu inh ỏi của đàn ngan hành hạ đôi tai đang ong ong của gái ở cữ, mà mẹ tôi bực quá phát ra câu đó. Là nói đàn ngan. Bà biết mẹ nói đàn ngan. Nhưng không hiểu sao bà vẫn te tái xắn quần vừa giậm chân bạch bạch vừa gào lên ầm ĩ làm cả xóm phải đổ mắt ra nhòm.
Bà chạy một mạch xuống nhà bác: “Con cái Hằng nó mất dạy, mất dạy, nó dám chửi tao, nó lấy đàn ngan để chửi tao. Kệ cha nó, là kệ cha thằng bố mày nằm dưới kia, thằng bố mày không nghe được thì là kệ cha con mẹ mày đây chứ gì? Tao lót lá, tao dắt về để trả con mẹ thằng bố nó dạy!”.
Bà cứ xỉa xói, tru tréo, quần xắn vành nồi, bà nhảy tưng tưng như lên đồng. “Thôi mà mẹ!”, bác tôi gắt y hệt bố sau này. Đó là chuyện bác dâu tôi kể lại ngày bà tôi đã mất.
Bà ghét mẹ, ghét lây ra cả những đứa con mẹ đẻ ra. Anh tôi đẻ non yếu ớt, khóc suốt một ngày, bà không thèm đoái hoài. Những ngày bố theo đoàn người lên rừng xẻ gỗ kiếm tiền về chữa thận cho chú tôi đang nằm ở bệnh viện, mẹ một mình bên đứa con đầu lòng, xoay vần, đánh vật suốt đêm. Bà mặc. Sáng hôm sau mẹ bế con chạy bộ lên bệnh viện, bà đang sảy thóc ngoài hiên, chân kê cao vào vách tường, tiện tay bà nhón một nhúm đất trên tường rắc vào rốn đứa trẻ: “Cho nhanh khô!”.
Không biết do tập tục, thói quen, quan niệm, cách chữa bệnh, nuôi con phản khoa học ngày đó, hay gì - tôi nghĩ thế, mẹ cũng bảo thế. Dù gì thì bà cũng chẳng ác tâm đến thế dù bà ghét mẹ. Nhưng anh tôi chết. Chết không rõ nguyên nhân. Co giật liên hồi rồi chết. Sau này mẹ bảo tại bà, tại bà làm nhiễm trùng cháu. Mẹ không ngủ một tháng sau khi anh chết. Mẹ thức và khóc rấm rứt. Những hôm sau không khóc, nhưng vẫn thức. Bố vẫn cưa gỗ trên mạn ngược. Bà không nói chẳng rằng, ráo hoảnh, nhưng thi thoảng lại véo von:
“Làm người không biết làm người
Con mình thì bỏ con người thì nuôi…”.
Có lẽ mẹ khóc từ ngày đó, cho nên tôi lớn lên rồi thấy mắt mẹ lúc nào cũng đỏ, lúc nào nước mắt cũng như chực chảy ra. Mẹ lặng lẽ như cái bóng. Mùa đông thì gieo cải, mùa hè thì lội ruộng, rắc phân, mùa thu heo may về chuẩn bị quang gánh, sân phơi để gặt lúa mùa. Mùa xuân, bố mải vui chơi bên bạn bè, bố bán cả thóc đi để lên tỉnh tậu đôi giày mõm nhọn, da bóng lừ, cùng bộ com lê là thẳng đứng đi chơi cùng bạn bè. Mẹ sáng sáng lầm lũi ngồi gọt khoai, đun cho vài miếng mỡ nóng vàng cho để được lâu, đợi qua tết ra đồng cấy chiêm.
Bố ham chơi một thời sau ngày trở về từ cuộc chiến, dường như để bù đắp những tháng ngày mất mát quá nhiều trong bom đạn. Bà không nói, đôi khi chỉ thủng thẳng: “Nó là đàn ông, chấp nhận được. Chỉ sợ gái nạ dòng rồi, mà không biết phận đi mồi trai tơ!”.
Những câu mát mẻ của bà bao giờ cũng có vần có nhịp. Bà biết vận dụng linh hoạt những câu ca dao tục ngữ, thành ngữ cùng vần điệu vào lời ăn tiếng nói hàng ngày, nên lời bà sắc sảo lạnh lùng đến ghê người, bác tôi bảo vậy. Mẹ lại khóc. Mẹ thút thít trong căn buồng ngày bố đi chơi. Bố về tận thủ đô để chọn chim, chọn cá, chọn gà, cho thỏa thú chơi bố cho là cực kì tao nhã.
Năm đó tôi lên mười, bà hay vuốt tóc tôi, nhưng vuốt tóc tôi là để chửi mẹ. Mỗi khi bà cầm vào lọn tóc hoe vàng cứng ngắc, được buộc bằng thân cỏ may còn cả rễ, hay dây chuối khô, và đầy chấy, là tôi biết ngay bà chuẩn bị gây sự. Và người bị gây là mẹ. Những lúc đó, tôi giật mình, tôi gai người, tôi cố lảng bàn tay gân guốc những giun bò chằng chịt của bà. Nhưng tay bà còn khỏe lắm. Bà vẫn vất mạ tơi tới ngoài đồng, lội ruộng bì bõm, giam mẹ tôi đến tận mười hai giờ trưa giữa trời căm căm rét khi mẹ có chửa thằng em chín tháng.
Bà kéo tôi. Gọn lỏn. Nhanh chóng, tôi đã thu lu trong bầu bà. Xổ tung mớ tóc, bà nhoay nhoáy vạch tìm chấy, như là trút bực lên đầu tôi. Bà ngồi tỉ tê, lại tỉ tê. Mẹ tôi thì lúi cúi đánh cho xong đụn rơm để chạy cơn mưa đen kịt ngoài kia.
Bà ghét mẹ, vì sao tôi không biết. Cho đến ngày bác dâu tôi vào phòng mẹ thủ thỉ. Mẹ thì đang thút thít. Bà ngoài kia chửi chó mắng mèo, bà chửi nhiều hơn mọi bận, bà hục hặc với cả cái rế rách, cái quần thâm nhuộm không ăn củ. Mặc. Bác tôi cứ thủ thỉ, mẹ cứ khóc. Chưa bao giờ tôi thấy mẹ nằm khóc như thế mà bà chửi nhiều như thế. Thường lúc đó mẹ tất tả gánh mạ hay cố vun cho đầy luống đất để chờ lúc gieo hạt.
Bố tôi thì khác lắm. Ông ngồi tịt ngoài nhà, chiếc điếu cày để cạnh. Sòng sọc, sòng sọc, chẳng sợi khói nào thoát ra được, chui tọt vào ống nõ rồi vào miệng ông. Ông ngậm cả ống nõ, cả khói thuốc, cả nỗi buồn đau trong lòng. Ông ngồi đó lặng yên như hóa đá, cũng chẳng buồn nói: “Thôi mà mẹ!” như mọi bận.
Ngoài kia gió cứ thổi, từng cơn gió sông mát lạnh lùa vào căn nhà vốn thiếu đồ đạc, thừa khoảng rộng, lùa vào ống nõ, chui tọt vào cổ họng. Bố cứ ngồi, nuốt tất cả, tiếng chửi của bà, tiếng thút thít của mẹ, giọng dỗ dành thủ thỉ của bác, và cặp mắt ngác ngơ của tôi.
Cho đến chiều, khi tiếng kèn, tiếng khóc, tiếng gọi nhau í ào của mọi người ở cuối làng, nơi có đám ma chú Hòa vọng đến, bố mới giậm chân thật mạnh. Bước chân của bố như có sức nặng của ngàn quả pháo. Tôi tưởng thời gian như ngưng lại, đông cứng dưới từng cái giậm chân của bố. Cặp mắt lờ đờ của thuốc lào gần một ngày, bố bước qua bậu cửa gồ lên bằng ván gỗ dẫn vào căn buồng nơi mẹ nằm, nơi có cặp mắt của tôi dõi theo từ một khe cửa nhỏ xíu: “Mình cũng nên sang đó, còn làng còn nước, không thiên hạ lại chửi vào mặt tôi cùng mặt mẹ”.
Bố nói xong, bao lòng trắng của đôi mắt đều dồn tụ lại, mắt bố như trợn ngược. Từ cánh cửa, tôi nhìn thấy cái cổ bố như cố nuốt một cục gì cứng ngắc vướng víu ở trong, cái cục yết hầu chuyển động lên xuống liên hồi. Bố nói không nhìn mẹ, lưng quay vào giường, mắt nhìn lên trần nhà, cái cổ bố càng ngúc ngắc, nuốt nuốt, nuốt mãi chẳng xuôi. Mẹ không thút thít nữa. Nằm im.
Nhưng ngày sau, rồi ngày sau nữa tôi vẫn không thấy mẹ “sang đó” như lời bố dặn. Mẹ chỉ trở dậy ăn cơm khi bà chạy sang bác rồi lại trở về giường nằm. Chỉ bố sang. Bố sang đứng trước di ảnh chú Hòa, thắp hương, miệng lấp rấp lấp rấp. Tôi ước nghe thấy tiếng bố. Bố nói gì với chú. Tôi đã cố căng tai, cố lọc mọi thứ âm thanh hỗn tạp của tiếng khóc, tiếng gào, cả tiếng lợn kêu eng éc để nghe xem bố nói gì với chú. Bố nói chuyện được với người đã chết ư? Giọt nước mắt chảy ra khó nhọc từ cặp mắt khô khốc, lăn dài trên cặp má chảy xệ, sần sùi, chai cứng của bố.
Vài người nhìn bố con tôi, rồi vài người nữa. Bố vái xong ra bàn ngồi, đôi mắt ngầu ngầu lặng yên. Bố cứ ngồi đó, yên lặng. Yên lặng cho đến khi những người làm lễ ngừng tay, cho đến khi các cụ thôi màn chèo thuyền đưa linh hồn chú về chín suối. Bố về. Bước chân nặng nề. Nặng hơn cái lúc bố bước qua cái bậu cửa gỗ vào phòng mẹ.
Bố về đến nhà, tiếng bà thở dài trong vách, bố ra chiếc phản kê ở phòng ngoài nằm. Đêm đó bố nằm ngoài. Mẹ không ngủ, cả đêm. Mẹ không khóc nữa, nhưng không ngủ.
Từ hôm đó trở đi, bà ít chửi mẹ hơn. Mẹ càng lầm lũi.
“Người đâu mà ác, nghĩa tử là nghĩa tận, ai thế nào mặc ai chứ?”. Bác dâu tôi lẩm bẩm, mỗi lần bác chạy sang xin ít tương, vài quả cà sau ngày chú Hòa mất. Mẹ chẳng nói chẳng rằng, chỉ cúi mặt. Nhưng tối mẹ đi. Mẹ bảo lên bà ngoại xin cây chuối về thái cho lợn. Tôi lẳng lặng đi theo. Thấy mẹ chạy tắt cánh đồng mấp mô những ụ đất người ta vun lên để trồng sắn, mẹ rẽ ngang chỗ ngã ba có đoạn đường vòng ra khu đất, nơi chú Hòa nằm. Tóc xõa dài, mẹ khóc, mẹ vật vã bên mộ, vật vã hơn cả ngày ông ngoại tôi lên cơn đau tim rồi đột ngột qua đời. Tôi trân trối nhìn. Không hiểu sao mẹ lại đau đớn thế. Đau đớn cho chú Hòa?
Bố biết, ông ngồi yên lặng mỗi lần mẹ đi. Lại ngồi bên cái điếu cày, trong căn phòng không thắp đèn, cái cửa sổ trông ra bờ sông bao đom đóm lập lòe. Bố ngồi đó lặng yên như bức vách, chỉ nghe tiếng cái điếu sòng sọc, sòng sọc, bóng bố lẫn vào bóng đêm, im lìm, lặng ngắt. Mỗi lần mẹ đi, mẹ về, một cây chuối trên vai, tóc lại cột gọn gàng. Bà chỉ nghĩ mẹ lên ngoại xin chuối. Nhưng tôi thì biết, cả bố. Tôi không hiểu sao bố biết, chắc mẹ cũng không hiểu sao bố và tôi lại biết.
“Mẹ mày khổ quá con ạ, khổ đến tận lúc chết, may còn có bố mày thương…”. Bác dâu tôi ôm tôi và nức nở trong bốn mươi chín ngày của mẹ.
Bà ghét mẹ, nhưng bác thì thương. Bác thương mẹ như thương đứa em, đứa em lỗi lầm. Cái lỗi của chiến tranh, cái lỗi của lòng người không biết cảm thông, để một đời mẹ tôi lầm lũi, hết vào lại ra không dám cả đi qua chỗ ngã ba có tiếng kèn đám ma dạo nọ. Tất tưởi gánh mạ và che nón, nước mắt ngắn dài, để bố tôi lại gắt: “Thôi mà mẹ!”, rồi khuya về, lẫn vào bóng đêm bên chiếc tẩu cùng âm thanh sòng sọc.
Mẹ và chú Hòa yêu nhau ngày trẻ. Kỷ niệm của những đêm tát nước gàu đôi theo mẹ vào cả cái gối xinh xinh, mẹ thêu cho tôi ngày còn bé. Hai chiếc gàu chao đi chao lại với ánh sáng tỏ mờ của trăng đêm. Lúc gia đình bên ấy chuẩn bị sang hỏi mẹ, thì chú có lệnh lên đường nhập ngũ. Ba lô trên vai, chú đi, không dặn gì, chỉ một câu: “Chiến tranh có thể anh không về, em đừng chờ mãi, hãy tìm hạnh phúc”. Mẹ khóc suốt tháng ngày sau đó. Cứ mỗi lần nghe tin có giấy báo tử của ai đó về xã, dù đang bì bõm giữa cánh đồng xa nhất, để nguyên quần áo, cái chân ngập bùn, mẹ chạy. Chạy tất tưởi, đến tận nơi, nhòm vào tận sát, thấy không phải Nguyễn Hợp Hòa mẹ mới chịu về cấy tiếp. Nhưng đến ngày mẹ không thể về cấy tiếp được nữa. Mẹ lăn lộn ngoài Ủy ban, kêu gào thảm thiết. Hai ống quần dính đầy bùn, ngoen lên áo, ngoen vào tận mặt. Bà ngoại cùng các dì phải ra lôi, mẹ mới chịu về. Thời gian sau, mẹ cứ vật vã, đờ đẫn, mẹ lang thang hàng đêm bên bờ ao làng, cạnh cái giếng nơi xưa mẹ và chú hay ngồi.
Bố xin bà sang hỏi mẹ một năm sau đó. Bố và chú Hòa là bạn thân suốt thời niên thiếu. Cùng một cây sáo, cùng một con trâu, cùng chiếc bàn trong lớp học tránh bom thời đánh Mỹ, cùng đội mũ rơm, xách đèn đi học, khuya về cùng dọa ma ở búi ruối có cái miếu làng. Để chú phải một tay xách đèn, một tay xách thằng bạn run cầm cập, đái ướt đũng quần, trao tận tay bà nội, rồi lội nửa cánh đồng nước ngập để về nhà.
Mẹ về nhà bố làm dâu đúng hai mươi ngày, thì bố có giấy gọi. Bố lại đi như chú Hòa. Con gà đang nhảy ổ, bà bắt thịt để tiễn bố. Bà ngồi khóc. Bố không ăn chỉ gắp đầy bát mẹ, bát bà. Sáng hôm sau bố đi. Bố đi cũng chỉ dặn mẹ một câu giống y chú Hòa: “Nếu anh không về, em đừng chờ mãi…”.
Mẹ lại khóc suốt những tháng ngày sau đó. Nhưng mẹ không tất tưởi chạy lên xã mỗi khi nghe có giấy báo tử nữa. Mẹ cấy. Cứ cấy. Miệt mài. Kệ dân làng xôn xao tán loạn. Chiều gánh mạ về, trên đường qua xóm mẹ nghe dân làng kháo nhau: “Cu Thanh nhà ông Ấm, cái Hạnh nhà bà Gòn... Chưa thấy bố”. Không thấy hay chưa thấy. Mẹ kệ.
Mẹ vẫn đi cấy, gánh mạ ra đồng, mặc trên đường người ta tất tưởi ra ngoài xã. Nỗi đau làm mẹ bình thản đến lạ lùng. Cho đến ngày mẹ đang bì bõm lội ngoài cánh đồng xa nhất, cậu Hành chạy ra: “Chị về, có giấy báo tử của anh Hùng!”. Mẹ trợn mắt lên rồi đổ gục xuống. Sau hôm đó người ta không thấy mẹ gào, mẹ khóc như bận nghe tin chú Hòa chết. Một tuần sau mẹ lại ra đồng, lầm lũi, không nói, chẳng rằng.
Một chiều, mẹ đang cấy ở cánh đồng Na thì chú Hòa lùi lũi trở về. Cánh tay còn lại vắt vẻo theo dáng chú liêu xiêu trong bộ quân phục màu cỏ úa, lỗ chỗ vết thủng. Chú đi trên con đường tắt qua cánh đồng làng. Các bà vất mạ ù té chạy lên. Tiếng reo, tiếng hò inh ỏi một góc đồng, lan chạy về xóm nhanh hơn chớp. Mẹ ngẩng lên, lấy tay quệt mạnh mồ hôi, mắt thoáng nhìn ra xa, rồi lại cúi xuống. Mẹ cấy, cấy đến khi bóng những người nhổ mạ cũng hết sạch trên cánh đồng đang vụ, mới quay qua gánh bó mạ dở ra về. Bà ngồi yên lặng bên gốc cau nhai trầu, cạnh hàng dâm bụt đơm hoa đỏ lừ. Bà không nói. Mẹ cũng không. Vất mấy nắm mạ vào hiên, dấp dấp nước cho tươi, mẹ lại vội vã đổ thóc vào cối, giã gần hết đêm để gà gáy kịp ra đồng, tránh cái nắng chang chang khi mặt trời ló dạng. Cứ thế, mẹ làm. Cứ thế, bà không nói.
Đến một ngày, người ta thấy mẹ lạy bà. Mẹ quỳ xuống, hai tay chắp vào nhau. Mẹ quỳ, mẹ vái, mẹ khóc. Rồi ra lạy trước bàn thờ bố. Mẹ cắp nón, xách vài bộ quần áo sang nhà chú Hòa. Đun cho chú nồi nước xông ngày chú cảm. Nấu cho chú bát cháo nóng khi chú sốt vì vết thương ở đùi, ở tay, ở ngực. Bởi chú chẳng còn ai. Sốc ruộng cũ mẹ vẫn làm, xin bà ba gánh thóc cho chú ăn hết ba tháng đợi mùa, còn đâu đưa hết cho bà. Rau mẹ cấy ngoài ruộng, sắn mẹ trồng ngoài bãi, con cua ở đồng, con cá ở mương... Mẹ có thai đến tháng thứ chín. Sức yếu, thiếu ăn, mất ngủ, cái thai ra đi vì đó.
Một năm sau, mẹ lại dở khóc dở cười. Người ta thấy mẹ cứ dở khóc, dở cười ngoài cánh đồng, khi đi cấy, khi làm cỏ, bón phân, khi bố cũng lại lùi lũi trở về từ cuộc chiến. Một vết đạn làm vỡ xương bánh chè, một viên khác nằm sâu trong bả vai.
Sốc ruộng của bà mẹ vẫn giữ, thóc mẹ trả bà, chỉ xin ba gánh cho chú Hòa. Mẹ lại lạy chú để về với bố. Chú sang lạy bố, lạy bà xin tha lỗi vì mắc tội với người ngoài chiến trường. Bố lặng câm không nói, bố đốt thuốc ba đêm, nhìn đom đóm về mở hội bên vách nhà. Bà nằm trong trở ra trở vào, tiếng chèm chẹp ngày một rõ hơn. Mẹ khóc trong buồng, mắt thâm quầng. Vẫn tất tả ra đi từ tờ mờ, khi gà thôi gáy tiếng cuối cùng, để kịp cấy nửa sào ruộng khi mặt trời vừa ló lên. Mẹ làm gấp đôi, gấp ba khi trước.
Những ngày sau, bố bảo mẹ bê cho chú bát canh hay mớ rau cần. Ngày đầu chú ngại, ngày sau nhất định chú không lấy, chú đuổi mẹ về. Tiếng bà chửi mỗi lúc một to, mỗi lúc một nhiều. Mẹ lẳng lặng ra vào nhiều hơn. Bố ngày càng ít nói, có bữa chỉ uống, không ăn, chỉ hút, mà không ngủ. Tiếng bà cứ chửi, nguýt dài, càng dài. Mẹ vẫn tất tả gánh gồng, tay che, tay gạt. Bố vẫn vừa như bực, vừa như buồn, mỗi khi gắt: “Thôi mà mẹ”.
Đến ngày tôi lớn, đến ngày chú Hòa mất đã lâu, bà mất, rồi mẹ mất. Bố ôm tôi vào lòng: “Đời bố mắc lỗi với hai người, là mẹ và chú Hòa. Dù sao mẹ cũng đã về dưới ấy, mong sao mẹ gặp được chú. Kệ ai nói ra nói vào, bố vẫn để mẹ nằm cạnh chú ở một đồi chỉ có hai ngôi mộ, con lớn rồi, cũng đến lúc con cần hiểu”.
Xa nhà, mỗi bận về quê, tôi lại ra thắp hương cho mẹ. Bố cầm nắm hương chia nửa, rồi lại chia nửa. Đưa cho tôi một nửa, nửa nữa vào tay kia: “Con ra thắp hương cho mẹ và chú, bảo chú và mẹ phù hộ cho bố con mình!”. Bố nói xong mắt rơm rớm:
“Mẹ đừng giận. Có thể việc này mẹ không đồng ý, con hiểu mẹ cũng khổ lắm vì con… Nhưng lòng con chỉ thanh thản khi làm như thế”. Bố quay sang thắp nén hương còn lại lên bàn thờ bà và khấn.
Tôi thấy bà cười. Cái ảnh đen trắng bà chụp ngày tôi còn bé, bên gốc cây dâm bụt to đùng nở hoa. Bà ngồi trên chiếc ghế dài, hai tay để trên đùi. Bác dâu bảo: “Bà như thế nào vào trong ảnh vẫn như thế. Chẳng khác. Cứ quàu quạu, quàu quạu…”.
Nhưng hôm nay, tôi thấy bà cười, bà cười tươi lắm, nụ cười lẫn vào khói hương nghi ngút, bay vấn vào khuôn mặt bà, vào dòng nước mắt của bố và vẻ ngơ ngác của tôi. Nghi ngút, nghi ngút...
B.T
