Giữa ngọ về ngang qua nhà Giông, biết vợ chồng chú thím đang ăn cơm lão Sóa liền kéo xe đi thẳng. Thấy lão Sóa, thím Môi liền thúc bát vào vai chồng:
- Ông Sóa trồng cỏ trên đất nhà mình. Không đóng thuế, không
phân tro, không để lại bó cỏ nào. Anh xem, liệu mà thu phí. Đất bạc đi từng
ngày. Anh không phải giun, dế nên không biết.
Vợ Giông vốn khôn lanh mỗi tội keo kiệt, ai mà nhặt thanh củi
mục ở bờ rào nhà ả đưa về đun thì đố mà nấu chín nổi nồi cơm. Biết tính vợ sống
lụy vào tiền, Giông đành gật đầu.
Khoảnh đất kéo từ hồi nhà tới chân núi Tẻ có từ đời bố, mẹ Giông
di cư về. Hồi đó đất làng Đô ngập trong đá trắng không cây gì sống nổi, đập vào
mắt là cà độc dược, tàu bay, dền gai; phải tới khi xã kéo điện về thì cái khu
hoang hút này mới có tiếng trẻ con khóc, tiếng chó sủa, tiếng vợ nhiếc chồng.
Vợ Giông riết thế, vợ lão Sóa cũng riết không kém nhưng có lẽ vì đẻ nhiều, ở hổ
lốn với dê trong khoảnh đất bé bằng cục rỉ mũi nên bà Moan hay đòi chia đất.
Nghĩ tới miếng đất chó chạy đau nệm thịt mà vợ chồng chú, thím
đang trông coi bà Moan càng sốt ruột. Thấy lão Sóa về, bà đổ gắt:
- Lấy bó cỏ, ông đi hết buổi sáng. Ông đi thế đi nữa có tránh
được tôi không? Thằng Ất lớn vổng rồi, gái làng Đô chê, gái làng Náng nguýt.
Tôi già rồi, cố băm lấy vài vạt sắn nữa rồi cũng bó gối ngồi một chỗ. Tôi không
kiện cáo để giành đất cưới vợ cho con được. Ông làm bố thì nghĩ cho xa, nghĩ
được từ hiên ra sân thì nghĩ làm gì...
Bà lại đến hồi lôi đất đai ra nói, mỗi lần động tới là cứ phải
nói hết cả phần người sống lẫn người âm. Thả bó cỏ xuống trước cửa chuồng dê,
lão Sóa gằn giọng:
- Lúc các cụ ốm nằm thối chiếu, thối chăn tôi bảo đón về chăm,
bà không chịu. Giờ lý là chú thím thuê người coi sóc ông, bà nên được hưởng
miếng đất. Bà còn kêu gì?
- Ơ... Nhà bảy đứa con. Cả một đàn cầm bát chờ phát cơm như chó,
mèo đến cữ. Thử hỏi, tôi xẻ người ra chăm lúc nào? Chú, thím nhà cao cửa rộng,
nhõn một đứa con, có cái gì phải lo mà không kham thêm? Con gà đẻ lứa nào, tôi
gom đủ chục cầm sang, không nhỡ ăn một quả nào. Trời ở không cân thì thôi, ông
cũng đừng hùa theo trời...
Tất cả đều do cơm áo thúc ép mà ra, quanh đi quẩn lại con người
muốn nghĩ thoáng đi thì cuộc sống phải bớt chật hẹp mới nghĩ khác đi được, nếu
cố ép phải nghĩ cho thông thì e rằng rất khó. Ở làng cái sự phân rã, cái nỗi sợ
phải thấy người khác ăn no hơn, mặc ấm hơn nó rõ ràng lắm. Có những lúc đàn ông
không sợ gì chỉ sợ bị vợ ném về lại những đôi co ròng rã suốt nhiều năm mãi
không có câu trả lời. Nó giống một cái cây lâu năm, không thể bứng đi đâu cũng
chẳng thể chặt làm củi. Vằm hết rổ sắn, bà Moan tìm tới chỗ lão Sóa, giọng đã
bớt gay gắt:
- Đôi ba năm tới, Nhà nước mở đường qua núi Tẻ, kiểu gì cũng cắt
qua đất các cụ. Tôi hỏi Ủy ban, họ nói ông với chú Giông là con đẻ, đất sẽ được
chia đều. Ông không thương tôi thì thương lấy năm thằng con. Có miếng đất dựng
nhà, ai gả con gái về làm dâu họ cũng đỡ tủi...
- Ừ… Tối tôi sẽ sang gặp vợ chồng chú Giông để nói chuyện.
Được lời, bà Moan nhẹ cả người liền kéo sắn đi phơi còn nhâm
nhẩm hát. Lâu rồi, mới thấy vợ véo von nhưng lão không vui, thực sự lão rất
ngại nói về đất cát, để xảy ra co cãi thằng làm anh mang tiếng đi kể cả, chia
bôi với em rất khó chịu.
Trời về chiều, gió thổi
mạnh, tiếng dê òe òe như tiếng kèn lá thổi trên đê. Và vội bát cơm lão Sóa khục
khục đứng dậy. Bà Moan có cái tật rán trứng tọng rặt muối, vợt một đũa ăn nhức
cả lợi. Bà càng làm thế sẽ càng đào cái nghèo lên để bắt lão uống bao nhiêu
nước cũng không nhạt đi được.
Tối, vợ con tụm lại vét nồi, không để ý lão đã ra khỏi nhà.
Đường tới nhà Giông xa như xuống huyện, đi qua hai cây cầu vẫn chưa thấy căn
nhà thắp đèn điện ra ngõ. Lão đi mà không muốn tới, dù rất hiểu ý vợ nhưng
không biết nói thế nào cho lọt tai, nhất là với thím dâu.
Sương nặng dần, trăng buồn như để quên thứ gì ở đêm trước tối
nay quay lại thì không thấy nữa, có ai đó đã lấy đi. Đẩy cánh cổng đóng bằng
tre núi, chắc như củi lực lão cố nẩy ra vài tiếng ho.
“Khọc, khọc... ọc! Chú, thím ăn cơm chưa? Giờ này chắc no kễnh
rồi. Chú, thím lúc nào chả ăn sớm để còn xem thời sự” - Lão hỏi và tự trả lời.
Đáp lại là tiếng chó xồ lên, nó bị giữ lại bởi sợi xích to như dây chão cột
ròng rọc. Thím Môi đi ra, mồm ngậm tăm, tay bê ấm chè, lát thị quay vào bới
thêm đĩa sắn nóng. Lão Sóa thấy lạ, như là chú thím đang chờ mình tới.
Đêm dày sương, Giông đặt ấm nước, chốc lại ngả người vén lửa vào
kẻo cháy lan ra khỏi kiềng. Hai anh em, lão Sóa gầy gò, khù khòng, ít đau ốm
còn Giông tròn lẳn, bị tai biến, chân đi cà thọt. Rót hai lượt chè, Giông đổ
đường ra bát, giục lão Sóa chấm chấm. Thấy kiến đen, lão Sóa liền gạn gạn, lắc
lắc. Giông nhìn thấy thì nhớ ngày xưa, cái thời người lúc nào cũng thiếu chất
tanh.
- Anh Sóa ăn kiến à? - Giông biết mà vẫn hỏi.
- Ừ..., tôi cứ bị quen mồm. Hồi bé, chú thích kiến rang, tôi
thích kiến sống. Khi tôi bị giun, chú chả bảo do kiến đốt sưng cả bụng còn gì.
Giông cười, hai má bạnh ra, mỡ dưới cổ rung lên. Thấy chồng sa
vào chuyện ngày xưa, thím Môi ở trong nhà bắt đầu nóng mặt. Thị tăng tiếng ti
vi hết cỡ để đánh động nhưng Giông không để ý, tưởng luộc sắn ăn cho đỡ trống
miệng ai ngờ mồi lại cả một trời ký ức. Giông chỉ vào con kiến to như con thiêu
thân:
- Anh có nhớ mình tước sợi dọc mùng cột vào cổ, dắt kiến đi như
chó không? Bị mẹ mắng, anh thả dây chạy về. Không biết, con kiến đó về sau thế
nào?
Không khí lặng đi một quãng, có lẽ nhắc đến mẹ hoặc vì nhắc đến
cái chết của con vật vô tội, nó đã bị bỏ quên phải vài chục năm sau mới được
nhắc tới. Đêm khuya dần, dưới sân loằng ngoằng những sợi dây rút ra từ lõi sắn,
lão Sóa nhìn em muốn nói ra cái cơ sự đã đưa lão tới nhưng không tài nào mở
miệng. Mồ hôi đổ như vừa bửa xong đống củi, mặt lão tái đi. Giông vội hỏi:
- Bác bị trúng gió à? Hay say sắn?
- Không... Chú, thím nghỉ đi.
Nói rồi lão dắt xe ra cổng, tiếng lọc cọc mờ đục trượt theo màn
sương trắng bợt, trên trời sao nhói lên từng tia sáng lâm râm. Một nỗi buồn
không rõ từ đâu dài như rắn bò qua khoảng sân vắng lặng. Giông thở hắt ra, thật
không muốn trở vào nhà nhưng vợ đã đợi sẵn ở bàn.
“Tôi chưa thấy ai đù đụt như anh. Ngồi hết buổi tối chỉ nói
chuyện ăn kiến. Ngon lắm đấy mà nhớ mãi...”. Đổ hết sắn cho chó, thị lại nói
như hắt bã chè vào mặt:
- Anh em kiến giả nhất phận, ai lo được cho ai? Đến con Bu ra
đường gặp anh em cùng cha cùng mẹ nó còn nhe răng để giành cục xương. Không
giành thì chết đói...!
Nói rồi thị hằm hằm đi vào. Giông nhìn theo, mồm như lửa héo
không bùng nổi. Ngồi lại bàn, Giông nhìn trời, đêm cuối tháng bầu trời lạnh một
màu cỏ mực, cái rét chạy ngang qua sống vai. Chó ăn no, nằm cuộn trong cái lốp
xe tải. Giông nhìn chó nén một tiếng thở dài và rồi không biết mình nén vì lẽ
gì.
Về tới cửa, lão Sóa ngồi lặng trước thềm, chưa biết nói sao thì
bà Moan đi ra.
- Tôi biết ngay mà. Cái con mắt cụp, mỏ quặp đó kiểu gì chả diễn
đủ trò để chối. Ông không nói được thì để tôi.
Bà quay vào, dứt khoát dém màn đi ngủ. Bóng tối ở chỗ lão ngồi
không bạc màu, không dịch chuyển. Nghe tiếng ngáy rồng rộc như khói đốt lò
gạch, lão biết lần này bà ấy sẽ làm thật, đàn bà một khi đã quyết điều gì thì
giấc ngủ tới với họ rất nhanh.
Trong một nỗi sợ mơ hồ, lão thấy những ruộng cỏ biến mất, cà độc
dược mọc trở lại, đàn bà trong làng mặc áo đại cán cầm liềm đi, mặt gầy vạc.
Phía núi Tẻ rộ lên tiếng la ó. Hai người đàn bà tóc tai rũ rượi ngồi nhai lá
cứt lợn rịt vào vết rách ở chân, mồm không ngừng đổ lỗi. Họ bổ cuốc, bổ đôi tổ
kiến to như cái chum. Kiến ào ra, trứng rắc trắng đầu người đàn ông to béo, đần
thộn. Y nhặt những cục phân dê đem giấu vào bụi rậm, mếu máo khóc. Đất nứt ra,
những người đàn bà rơi xuống, tay bám chặt những cái rễ trồi lên khỏi mặt đất,
mồm vẫn không ngừng đổ lỗi. Mặc kiến cắn, họ gào la cho tới khi mặt đất đóng
lại, tiếng cãi vã tắt đi chỉ còn người đàn ông ngồi nhặt những hòn phân đen
õng, thổi thổi bụi đất, bỏ vào mồm nhai nhếu nháo...
Lão Sóa bật dậy, thở hổn hển.
Ngoài chuồng dê đòi trèo ra ngoài, tiếng kêu như bị thiến sống.
Con dê cái đau đẻ, nó đang phá chuồng. Nhờ con dê vỡ ối, bà Moan tạm gác ý định
sang nhà Giông. Súc ruột bằng điếu thuốc, lão định thần trở lại.
...
Mặt phù, má thũng, Giông ngồi ở sân với con chó trắng, lông rụng
từng nùi. Nhìn Giông ngồi một chỗ, gầu sủi trắng đầu, lão Sóa nặng nề quay đi.
Lúc sau về thấy cửa khác khác, thị Môi giật giọng:
- Ai vừa tới đây?
Giông không đáp, mắt rủ xuống.
Đêm qua, Giông bị dựng dậy lúc một giờ sáng; trong tiếng mưa rỉ
rắt, những viên đá nằm dưới ô cửa thông ra cánh đồng, chúng đã thấy y bị đạp
khỏi giường vì không thể khiến thị hân hoan như lũ ếch nhái vào mùa tỏng đõng ở
ngoài kia. Thị rít lên: “Đồ to xác, không được cái nước mẻ gì”. Giông hết lộn
phải quần rồi lại lộn trái, buồn rầu hỏi: “Thế…, tôi phải làm sao?”. Được đà,
thị liền ra giá: “Anh phải đền bù tuổi xuân cho tôi…”. Giông quỳ xuống: “Cái
nhà này là của cô. Kia là đất hương hoả, tôi không động vào được.” Đẩy Giông
ngã ra sàn, thị chỉ thẳng: “Đi ra. Anh không khôn với ai lại khôn với tôi”. -
Thị trợn mắt, đóng sập cửa. Tiếng ếch nhái vào hồi điên đảo, ộp oạp như vỡ chợ.
Giông chỉ muốn đổ nhựa, lu phẳng cả cánh đồng để không còn vùng trũng nào cho
lũ chân dài quắp lấy nhau mà rên rỉ…
Giông ngồi như cục thịt phơi giữa chợ, nhìn nắng rực lên rồi xám
ngắt trên khuôn mặt thũng mỡ của vợ. Khi bất cần, người ta thường nghĩ mình là
thứ gì đó bất di bất dịch, vô hình như một dạng vật chất đặc biệt, kim đâm
không đau và phó mặc cho sự phát tán của tự nhiên.
Đêm muộn, khúc mương trước nhà rì rì tiếng nước, Giông ngồi với
những ngày cuối cùng của tháng ba. Cửa đóng chặt. Môi ngáy ồ ồ. Âm vực rê rắt.
Mùi nước đái, mùi lông chó vúng váng. Da mặt trắng như đêm, Giông đợi vợ bước
ra như mẹ hiền xuất hiện nhưng không, chỉ bóng tối ken đặc. Ngày bé, mẹ mắng
“anh cứ hiền như sên thế thì sẽ bị lùng bắt về nấu cám cho lợn”. Giông không
hiểu gì, lâu dần có một nỗi sợ trết cục như xi măng chết cứ choán lấy tâm trí,
nỗi sợ phải đi ngược lại ý muốn của người khác.
Đêm thứ ba. Môi khóa rương gạo, chốt chặt cửa bếp. Trăng cong
queo, đổ bóng vàng nâu lên đống củi vụn. Ngả đầu vào vách, Giông lim dim ngủ,
mơ mơ nghĩ về những ngày vô nghĩa và có nghĩa, ngoài kia đêm vẫn trôi trên cánh
cửa quét sơn vàng.
Ngủ dậy, thấy chó gặm tổ
kiến, củi văng khắp bếp, Môi trừng mắt. Thị muốn hét lên để gọi đích danh cái
ngữ người không muốn làm người. Múc xô nước, Môi dội tắt bếp; trong đám bụi tro
ngột ngạt thị túm lấy Giông:
- Anh thi gan với ai? Hay anh đã có tính toán?
Thật khó để có thể dừng lại cơn hoang tưởng đang chế ngự một tâm
hồn chật ních những con số và mét vuông. Nhặt củi ném toàng toàng vào bếp, thị
đe:
- Anh cứ ở đây, khi nào nghĩ thông thì gọi tôi. Đàn bà lấy chồng
để ở cữ chứ không phải để đến cữ cho ăn như...
Ném cây củi, mắt thị đỏ như mang cá. Gặp lão Sóa ở ngõ, thị đi
thẳng. Lão Sóa vào sân, tức khí hỏi:
- Nó nói “anh cứ ở đây”, là sao?
Giông cố cười để giấu thẹn nhưng lão Sóa đã đoán ra. Không chịu
được nữa, lão mở cổng đưa Giông đi. Con chó tong tỏng sủa đòi mở xích nhưng sứ
mệnh của chó khác người. Chó phải ở lại vì rất có thể nó sẽ góp mặt trong một
sự kiện nào đó mà loài người buộc phải có đường dẫn để sòng phẳng với nhau một
số việc.
Xe đi về phía đầm cạn,
dưới chân cầu khô róc, những vệt nứt chạy qua nhau, những cây bèo chết thối
trong cái vẻ mịn màng của cuối xuân. Giông nhìn cái lưng khòng như cái cây bật
gốc của anh nhớ lúc ngồi trên cái bao tải dứa, anh kéo đi xà xạt giữa đường.
Giờ cũng ngồi phía sau nghe tiếng xe trầy trọc, mưa rơi lấm tấm trên cái đầu
trống hoác, Giông lại thấy đắng.
- Sao hôm nay nhiều mưa thế? - Giông hỏi.
- Mưa bay, lấy đâu ra mà nhiều. - Lão Sóa đáp lại.
- Em thấy tóc anh ướt. - Giọng Giông nghẹn đi.
- À... ừ, còn mấy sợi... nên dễ ướt. - Lão Sóa gật gù.
Đường về nhà mỗi lúc một gần, cái bụng vừa thương Giông vừa chưa
biết nói sao cho vợ hiểu. Bà Moan giờ như cái đập, có thể vỡ bất cứ lúc nào nếu
lưu lượng nước đổ xuống quá bất ngờ và nằm ngoài sức chứa. Về tới ngõ, lão gọi:
- Thằng Đạt...? Ra đây hộ bố.
- Ông gọi gì đấy?
Bà Moan lật đật chạy ra, thấy chú Giông thì mặt biến sắc. Biết
thể nào vợ cũng hỏi, lão lắp bắp:
- Nhà đ...ảo ngói, chú Giông ở nhà ta... ít hôm.
Đảo ngói gì mà “ít hôm”, sáng bắc thang trèo lên thì chiều phải
xuống. Ông Giông ở đây thế thím Môi ở đâu? Có ai đảo ngói mà phải đi ở nhờ đâu,
chủ đi thì thợ ai trông? Bà Moan định hỏi thì thấy thấp thoáng bóng dê ngoài
ngõ. Thằng Đạt lùa dê đi đã để sót một con. Ậm ừ cho xong, bà vội đưa con dê
chạy theo cho kịp đàn.
...
Trời quang mây. Nắng trải vàng sân gạch. Mùi sắn tươi thơm như
nhựa chảy ra từ cây đào già, gió lộng khu vườn nhỏ. Vằm hết bì sắn, Giông ngủ
một mạch từ trưa đến sẩm tối.
Đàn dê về, tiếng lục lạc rinh rang. Dê nhỡ đi tìm cỏ ăn thêm. Dê
tơ dụi sừng vào đá. Dê già vênh vang, lắc lư hạ bộ. Đèn tù mù sáng. Nồi canh
sắn thịt vụn bốc khói trắng. Lũ trẻ tranh nhau vớt mỡ nổi trên mặt và lấy và
để, chúng không biết người lớn đang rối như tóc người ốm.
Nhà không có ti vi, lũ trẻ thấm mệt thì lăn ra ngủ. Vạc giường
gãy gần hết, lót giấy bìa kín mít. Căn nhà vỏn vẹn hai lăm mét, gà vào ỉa tận
gầm giường. Bì to, bì nhỏ xếp quanh, lũ trẻ trèo qua trèo về, bổ nháo bổ nhào.
Buồng của lão Sóa treo cái ri đô mỏng, ngả màu khói, nó được vén lên vào mỗi
sớm. Chân giường chất đầy sắn khô, mùi chua và bụi rập rình đến phát ngốt.
Tháng ba, trời nồm, đi tới đâu cũng rịn ra cái mùi chuồng trại.
Lão Sóa thổ chiếu, trải ở gian giữa, lấy áo cũ làm gối. Vừa rửa bát bà Moan vừa
giỏng tai hóng, bình thường đến tận nhà tìm không ra việc nhưng giờ chú Giông ở
đây, có phải quá tiện không? Bà đợi chồng ra để nhắc nhưng lão cứ lủi lủi như
biết vợ sẽ nói gì.
Bị “gút”, Giông hay mất
ngủ, mười ngón chân cứ bị ai đó cầm búa đập, tím cả mắt cá. Lão Sóa lục tục đun
nước. Cỏ cháy rạch rạch, khói đùn lên. Ngoài trời, mưa tỉ tả, mùi sũng ướt của
cái áo bảo hộ treo ở cửa khiến Giông nhớ mẹ. Mỗi khi mưa đen núi, mẹ sẽ trở về
với cái áo ướt nhẹp, vắt vài vắt đưa lên bếp hong sơ. Mùi mưa, mùi khói bếp,
mùi vải hoà vào nhau, ngai ngái mùi nách của mẹ khi bà choàng tay ôm Giông.
Nhìn bóng cỏ lòe nhòe hắt lên vách, con kiến bò mãi không ra khỏi ngọn cây,
Giông nói:
- Mùa kiến đẻ, tổ kiến sẽ căng phồng lên, phải không anh?
- Ừ, hè là mùa kiến đẻ, giờ trong tổ toàn kiến đực, đen sì. Vẫn
ăn được nhưng hăng. Chú thèm kiến à?
“Trong đầu em cứ nghĩ đến
kiến rang.” - Nói thế rồi tự Giông chữa lại:
- Em không ăn nữa. Một tổ có hàng vạn con, tội tình gì mà đốt
chúng. Người sợ lửa, kiến cũng sợ lửa. Có lẽ, vì ăn kiến nên em mới lắm bệnh
tật và vô dụng thế này… Em lúc nào cũng ham sống, chỉ là...
Từ trong ý nghĩ, lão Sóa muốn dùng rượu để nói với Giông một số
điều, trong đó có chuyện đất cát và các bà vợ nhưng Giông không biết uống rượu.
Ông trời vẫn lấy đi của ta cơ số thứ nhưng không nhớ để trả lại thứ gì trong đó
có việc đàn ông thì phải uống được rượu...
Ngót ba hôm, dòm chừng nhà Giông đã đảo ngói xong, bà Moan muốn
đáo sang xem, từ hôm chú Giông tới tuyệt không thấy mặt thím Môi. Vừa ra đến
cổng thì gặp Môi, mặt thị vênh như xe tráng vành. Đời thuở nào, em dâu tới nhà
anh chồng lại vác theo cái mặt của chủ nợ tìm con nợ. Đảo mắt, thấy Giông đang
cho dê ăn, thị nói như hét:
- Ông cố ý không hiểu điều tôi nói... Ông thách thức tôi. Tôi sẽ
gọi lũ “chó chặt” tới đưa con Bu đi, cân hơi như cân lợn… để xem ông có hiểu
không...
Môi bỏ về.
Bà Moan đi gọi ông Sóa.
Giông tìm ra vườn.
Trời cao, mây trôi, quay đầu thấy đúng một vệt sáng cắt ngang
qua bầu trời xanh thẫm. Giông đi một vòng, chạm tay lên gốc ổi đã chết, ngắm
hòn đá mọc rêu tím, sờ vào lưỡi cày han rỉ ở đầu hồi… Ngần ấy năm, lão Sóa
không vứt đi thứ gì, nghèo vẫn nghèo và động tới thứ gì cũng xào xạc khói bay
lên.
Dừng lại ở ô cửa ố vàng, Giông sờ lên những vệt ve trầy tróc,
những vết xước chạy dài trên tấm gỗ đã đến hồi mục rữa. Ba mươi năm... Có thứ
gì là không bị thời gian lấy đi hơi ấm, chỉ trí nhớ là vẫn như lửa giữ cho ta
những ngày tháng vui, buồn đắt giá.
Tại sao về nhà xưa lại thấy buồn?
Điều duy nhất còn sót lại khi bố, mẹ rời đi là gì?
Giông ngậm ngùi nhìn về phía núi. Những ngôi mộ trắng òa lên khi
mùa xuân tới, và rồi sẽ chìm dần trong màu tro nguội của những buổi chiều thiếu
nắng. Dưới chân đàn kiến nối nhau tha mồi về tổ, xa kia những con dê cũng đi
tìm lá keo, lá mít. Ai cũng có chốn riêng, chỉ Giông thấy mình như đá cuội nằm
vơ vất đợi một đôi chân vấp phải, tiếng về nhà với vợ mà như trở lại cái ao tù,
thả cá cá không bơi.
Chiều bàng bạc, ô cửa nhòe đi, làng hóa những đốm trắng bay vô
định trên bức tường chưa trát vữa. Suốt quãng đường Giông không nói lời nào,
lão Sóa không hỏi gì, chỉ biết thương nhau mà không thể sống thay nhau. Ngược
gió, lão Sóa đi chậm. Giông bấu vào xe thầm nghĩ, nếu được mẹ sinh ra một lần
nữa sẽ xin bà mụ cho được làm anh để một lần trong đời được kéo anh đi qua cánh
đồng thơm mùi rễ mía, có núi kia nhìn thấy...
Gỡ đám xích ngoắc ở cổng, Giông giục lão Sóa về. Nhà vắng ngắt,
lá lay phủ vàng gốc mận. Giông lết chân đau, gọi to: “Bu ơi! Bu…uuuuuu!” Không
một tiếng sủa. Giống như những con kiến ngày bé, cả kiến và chó đều đeo trên cổ
một sợi dây, không ai tháo cho chúng dù vốn dĩ chúng không có tội lỗi gì. Giông
ngồi bệt xuống, gió thốc từng hồi dồn lá về cuối sân, lá trút như đắp lên Giông
một khối đất khổng lồ. Tối mịt, thị Môi về, chửi tới tấp:
- Tôi cảnh cáo, lần này là con Bu, lần sau sẽ tới lượt anh.
Giông hất đầu, cười đau khổ:
- Cô xem, mặt trời lại lặn rồi. Ánh sáng không sinh ra để chạy
theo ta mà ta phải lựa để xanh nhờ ánh sáng. Đó là những lời khó hiểu nhưng tôi
tin rồi cô sẽ hiểu. Sau tất cả khi chẳng còn gì, chẳng còn chó và người để
xích, cô sẽ hiểu vì sao thứ cô càng cố nắm bắt thì sẽ càng vuột khỏi tay. Bao
nhiêu năm, tất cả bay hơi… là lỗi của tôi. Giờ tôi mệt rồi, để tôi ngủ.
Giông bò vào nhà; trong bóng tối của một ngày đã cạn y ngủ một
giấc không cơm nước, không chăn màn. Tảng sáng, thị Môi chạy ra sân gọi thất
thanh, tiếng kêu chới với trong ánh sáng le lói của một buổi sớm muộn màng.
“Các bác ơi, anh Giông... Anh Giông chết rồi! Khổ thân tôi quá...”
Lúc tắm rửa, làng móc trong túi thấy một tờ giấy ghi rõ Giông từ
chối thừa kế đất cát các cụ để lại… Thị Môi nói đúng, trong đầu Giông sớm đã có
tính toán; chỉ là Giông cả đời chậm chạp, khờ khạo tới lúc chết vẫn lặng lẽ, âm
thầm.
Từng nắm đất rải xuống, từng đốt hương đỏ rực, gió thổi tàn bay
tới ruộng xa. Núi ở rất gần, người đi cứ đi, người ở cứ ở. Mùa cỏ năm nay sẽ
bắt đầu khi lá vàng phủ kín mặt đất, khi khói lam tím mờ lưng núi.
Giông đi rồi, lão Sóa ít kéo xe ra ruộng, lắm lúc lão hay vẩn vơ
nhìn đàn kiến bò qua tảng đá trắng và tự nói một mình với ai đó không rõ mặt.
Thị Môi bán nhà bỏ vào Nam, ngày giỗ Giông có về, không ghé nhà ai, thưa thớt
dần rồi mất bóng.
“Be eeeeeee”, đàn dê theo hoàng hôn trở về.
Bà Moan cõng cỏ trên lưng, liềm dắt ngang hông.
Chiều vàng suộm, làng lô xô gió.
Trong một chớp mắt lão Sóa thấy bà Moan ôm bụng chửa đi bới đất
dấm ngọn khoai, Giông đào hố chôn cột điện, thằng Ất lùa dê về, các cụ ngồi nhai
sắn dây, cụ ông giục cụ bà nhả bã vào cái rá con con...; cảnh yên lành như cụ
cố ngồi buông cần trong lòng một khúc mương bé bằng cái hố bom ở sau lũy tre,
đợi tới giờ cơm sẽ thủng thẳng cầm cái giỏ không đi về...
Hà Nội,
ngày 22 tháng 2 năm 2026
T.T
