Nằm dọc sông Gianh theo trục đông tây, Tiên Lệ Thượng (tức Thượng Thôn) có chiều dài 4km, diện tích 1.040 ha. Trong kháng chiến chống Pháp, các địa danh này thuộc xã Lệ Trạch. Khi hòa bình lập lại, Lệ Trạch được chia thành các xã nhỏ, Thượng Thôn trở thành xã Quảng Tiên và đây cũng là nơi duy nhất còn lưu lại danh xưng Tiên Lệ gốc xưa. Riêng Trung Thôn và Hạ Thôn hầu như đã yên bề cùng tên xã, nên khi nhắc tới hai địa phương này, ít ai còn nhớ đến chiếc nôi Tiên Lệ thuở nào.
Nhìn bốn hướng, phía bắc Thượng Thôn êm ái tựa lưng vào sông Gianh; phía nam tiếp giáp núi Giăng Màn - một nhánh nhỏ của dãy Trường Sơn; phía tây giáp Lệ Sơn (xã Tuyên Hóa); phía đông giáp Trung Thôn, cùng thuộc xã Nam Ba Đồn. Theo văn tế Thành hoàng làng, Tiên Lệ Thượng hình thành gần 600 năm trước; còn theo gia phả các dòng họ, phải sau những năm 1400, dân cư mới ổn định và hình thành làng xã. Cư dân Thượng Thôn gắn bó với ba nghề chính: làm ruộng, làm nón và đánh bắt cá tôm. Ngoài ra, làng còn có ngôi chợ mang cái tên gợi trí tò mò - chợ Nấp, nơi tiêu thụ sản vật trên rừng, dưới sông. Quanh ngôi chợ này, có thể lược kê biết bao trầm tích văn hóa và lịch sử, vừa bi tráng vừa hào hùng của địa phương.

Thuở trước, tại đây có một bến đò ngang đưa
đón lữ khách qua sông. Từ nghĩa quân các triều đại đến cán bộ, chiến sĩ vào ra mặt trận bằng đường giao liên đều qua bến sông này. Theo ông Phạm Đức An - một giáo
viên nghỉ hưu say mê tìm hiểu lịch sử
quê hương: Chợ Nấp ban đầu chỉ là vài
quán nhỏ cạnh bến đò do Ủy ban Hành chính kháng
chiến xã Lệ Trạch cũ
lập ra để đón tiếp bộ đội, dân công vào Nam ra Bắc. Dần dà, bà con làm
nghề chài lưới, trồng trọt, đi rừng… mang sản vật đến đây bày bán, người “ăn chợ” mỗi ngày một đông và ngôi chợ dần hình thành. Cái tên chợ Nấp ra đời cũng khá thú vị, các bậc cao
niên khi xưa đã cân nhắc đặt cho chợ một cái tên phù hợp. Xét thấy chợ nằm nép mình dưới hòn lèn Vận, cây cối rậm
rạp lại có tới sáu cây đa lớn tỏa bóng sum suê giúp mọi sinh hoạt phía dưới hoàn toàn kín đáo, các cụ bèn
đặt tên là “chợ Nấp”. Cái tên bình dị, dân dã ấy cứ thế theo tháng năm mà tồn
tại đến hôm nay.
Chợ Nấp
tuy không lớn nhưng đã gắn bó lâu
dài với người
dân Tiên Lệ. Chợ nhóm họp hằng ngày,
đông nhất từ 5 đến 7 giờ sáng. Sau khi bán sản vật gia đình làm ra và mua các
thứ cần thiết, mọi người mau lẹ trở về để kịp ra đồng, nhất là vào vụ gặt. Mặt hàng được mua bán thường xuyên ở chợ Nấp là các loại tôm cá nước lợ, đặc biệt là cá bống cát - loại cá chuyên vùi mình dưới cát, chỉ để đôi mắt trồi lên phòng ngừa những kẻ săn mồi và
hé miệng hứng hớp phù du.
Tuy
thân hình chỉ nhỉnh hơn đầu đũa nhưng
đây là loại cá rất ngon, phù hợp khi dùng với cháo trắng hoặc cơm niêu.
Ngoài ra, chợ còn có bán chắt chắt được xúc
ngay trên đoạn sông Gianh chảy qua trước mặt làng. Đây là món quà quê rất
được thực khách ưa chuộng. Xúc chắt
chắt là nghề mưu sinh của
nhiều bà con vùng đầu nguồn sông Gianh, nhưng chỉ chắt chắt ở chợ Nấp mới được coi là đặc sản. Do
yếu tố địa hình, nguồn nước tại đây không quá mặn khiến chắt chắt kém ngọt, cũng không quá nhạt làm chắt chắt mất đi vị béo. Bên cạnh đó,
các mặt hàng tươi sống như tôm đất, cá đối, cá hanh, nghêu sò; thịt gia
súc, gia cầm; rau củ quả hay các món hàng ăn như cháo canh, bún, bánh…
cũng tạo nên khung cảnh mua bán khá rôm rả. Cũng như một vài làng quê
trong vùng, Thượng Thôn là một làng nón nên nón lá là mặt hàng không thể thiếu ở chợ Nấp. Các dụng cụ phục
vụ sinh hoạt và sản xuất như đồ đan, đồ rèn, đồ nhựa, đồ may mặc… tại đây cũng
khá phong phú.
Nếu chỉ có bấy nhiêu thôi thì vùng đất này chưa có gì quá nổi bật. Nhưng chợ Nấp từng là nơi che chở cán bộ cách mạng, cất giấu vũ khí và hàng hóa quân sự phục vụ kháng chiến. Về Tiên Lệ hôm nay, lèn Vận dù mang trên mình bao thương tích chiến tranh vẫn đứng đó “trơ gan cùng tuế nguyệt”. Chợ Nấp khiêm tốn hiện diện bên dòng sông hiền hòa nhưng ẩn chứa trong lòng bao sự tích bi tráng. Ngày 17/4/1947, thực dân Pháp dùng 4 ca-nô chở quân lính từ Thanh Khê dọc theo nguồn Nậy đổ bộ lên chợ Nấp. Sau khi phóng hỏa đốt nhà ở Tiên Lệ, địch tiến vào Biểu Lệ tàn sát nhân dân rồi tràn xuống Lâm Xuân. Nghe tiếng súng giặc, lực lượng tự vệ ta với vũ khí thô sơ như đại đao, mác, gươm, đòn xóc… liền ra ứng chiến, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Địch lia một loạt súng máy rồi sục vào làng giết chết 53 người, trong đó có cả cụ già và trẻ em. Chợ Nấp chính là nơi Pháp đổ quân rồi chia thành các cánh nhỏ tàn sát dân ta. Đến ngày 24/4/1949, du kích Tiên Lệ đã phục kích địch ở hói xóm Phan, cho nổ bom ở xóm Am Mũi Rồng tiêu diệt nhiều tên lính Pháp, đồng thời cải trang đánh úp một tiểu đội địch ngay tại chợ Nấp.
Giai đoạn chống chiến tranh phá hoại của Mỹ, sông Gianh đoạn từ chợ Nấp trở lên thành tuyến đường huyết mạch của Hải quân ta. Khi màn đêm buông xuống, các tàu chiến Phân đội Hải quân xuất kích đi tuần tra, gặp địch thì chiến đấu ngay trên biển. Trước khi bình minh lên, các chiến hạm lại trở về, dựa vào bờ sông Gianh để che mắt địch. Dưới những rặng tre, địa phương đã huy động lực lượng đào thành các âu tàu, kéo ngọn tre phủ kín để ngụy trang. Đoạn sông này đã trở thành nơi tránh trú thường xuyên của Phân đội. Sáng 28/4/1965, một chiếc tàu từ biển trở về không may bị mắc cạn trên sông, đoạn nằm giữa lèn Bút, lèn Vận và lèn Voi. Do thủy triều xuống nhanh, việc xử lý gặp khó khăn khiến con tàu như phơi mình trên sông Gianh, ngay trước chợ Nấp. Đến 8 giờ sáng, máy bay địch phát hiện và tập trung oanh tạc dữ dội từ sáng đến chiều. Quân dân Tiên Lệ đã xông pha trong khói lửa, phối hợp cùng các chiến sĩ kiên quyết đánh trả máy bay Mỹ để bảo vệ phương tiện và làng quê. Tuy vậy, do con tàu mất khả năng cơ động nên ta chịu thương vong khá lớn. Dân quân địa phương đã dũng cảm dùng thuyền kịp thời chuyển thương binh từ tàu vào cấp cứu tại chợ Nấp. Đoạn sông này đã chứng kiến tinh thần chiến đấu quả cảm và sự hy sinh anh dũng của 37 cán bộ, chiến sĩ Hải quân Phân đội Sông Gianh. Đến nay, dọc bờ sông và khu vực chợ Nấp vẫn còn đó những di tích ghi dấu trận địa mai phục của du kích, bến bãi tập kết vũ khí, trạm cấp cứu dã chiến… được chính quyền và nhân dân xã Nam Ba Đồn trân trọng giữ gìn.
Song hành cùng quá khứ bi hùng, vùng quê này còn chứa đựng nhiều
vỉa tầng văn hóa phong phú. Đáng chú ý là đền thờ Phù Đổng Thiên Vương
tọa lạc bên lèn Vịnh, được nhân dân kính cẩn gọi là đền
Thánh. Đền tôn thờ vị anh hùng
Thánh Gióng - một trong bốn vị thánh bất tử trong tín
ngưỡng dân gian Việt Nam. Ngoài đền chính còn có các miếu thờ Trung
Nam tướng quân, Tây Nam tướng quân,
thờ quan bản xứ..., thể hiện sự đa dạng trong đời sống tâm linh, tôn thờ các bậc tiền nhân có công đánh đuổi ngoại xâm, giữ gìn thái bình cho đất nước. Tại đây vào tháng Tư hằng năm, nhân dân tổ chức lễ tế Thánh để mong cầu nhà an, nước thịnh, làng
xã ấm no, đồng thời bồi đắp truyền thống yêu nước cho các thế hệ. Năm nào khô
hạn, làng còn tổ chức lễ cầu đảo - một nghi lễ có nguồn gốc từ người Chăm
để mong mưa thuận gió hòa.
Ông Phạm Bá Phưởng - người thường trông coi hương khói tại đền - khá am hiểu về lai lịch ngôi đền này cho biết việc xây dựng đền Thánh gắn liền với câu chuyện được truyền tụng trong dân gian: Thuở xưa Tiên Lệ nghèo khó, một hôm cụ cao tuổi nhất làng nằm mơ thấy vị thần cưỡi ngựa sắt, tay cầm roi sắt trên đường đánh giặc trở về đã nghỉ chân tại đây. Thấy dân tình cơ cực, vị thần đã chỉ bảo cách sinh kế, từ đó làng liên tục được mùa. Chuyện không chỉ dừng lại trong mơ, mà thực sự đời sống dân làng ngày càng khấm khá. Nhận biết vị thần đó là Thánh Gióng, làng bàn bạc và cử một đoàn trai tráng mang theo các sản vật nuôi trồng tại Tiên Lệ, hành hương ròng rã một tháng ra đền Hùng làm lễ tế, sau đó đến đền Thánh Gióng làm lễ tạ ơn và xin rước lư hương về lập đền thờ tại làng. Trước đây dù đường sá còn cách trở, nhưng mỗi dịp lễ hội, người dân các vùng vẫn về đây dự lễ, tìm những phút thanh thản trong không gian tâm linh. Ngắm bức tiền án đắp hình Thánh Gióng tay cầm roi sắt, oai nghiêm cưỡi ngựa sắt bay lên trời, ai nấy đều thêm phần kính cẩn. Tiếc rằng hiện nay không ai còn nhớ và cũng không còn tài liệu nào ghi chép cụ thể đền Thánh ở Tiên Lệ được xây dựng vào năm nào.
Có thể nói, Tiên Lệ là nơi duy nhất ở miền Trung có đền thờ và lễ hội tôn vinh Phù Đổng Thiên Vương, thể hiện sự lan tỏa và kết nối văn hóa từ Bắc vào Nam qua các di tích và nhiều câu chuyện lưu truyền trong dân gian. Qua đó nâng cao ý thức trân trọng lịch sử và lưu giữ nét đẹp văn hóa tâm linh đặc sắc, thu hút du khách đến với vùng sông nước dọc triền sông Gianh, nhất là trong các dịp du xuân hay lễ hội.
Quảng Trị là vùng đất giàu bản sắc văn hóa. Vì vậy rất cần những động thái tích cực để khích lệ các vùng quê ra sức bảo tồn, phát huy các giá trị tín ngưỡng tâm linh, di sản văn hóa và di tích lịch sử. Đó chính là góp phần kết nối mạch nguồn văn hóa, khơi dậy và chuyển hóa tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc trong cộng đồng thành nguồn lực nội sinh, tạo động lực thúc đẩy phát triển trong kỷ nguyên vươn mình.
N.T.N
Tài
liệu tham khảo:
1.
Lịch sử Đảng bộ xã Quảng Trung,
Tập I.
2.
Lịch sử Đảng bộ xã Quảng Tiên, Tập I (bản thảo).
3.
Báo cáo di tích lịch sử của UBND xã Quảng Tiên
(cũ).
4. Vua Minh Mạng với việc thành lập bộ máy hành chính tỉnh Quảng Bình - Tiến sĩ Phan Viết Dũng.
