Giới thiệu
Tin tứcSự kiện & Đối thoại
Sáng Tác
Nghệ thuật
Lý luận & Phê bìnhNgười & Đất quê hương
MultiMedia
Zalo

Tục cúng đất ở Quảng Trị

Y THI    06/05/2026    51
1. Trong suốt chiều dài lịch sử, nhiều triều đại vua chúa kế thế trị vì đất nước. Tuy thể chế mỗi triều mỗi khác song ông vua nào đương ngôi hàng năm cũng đều làm lễ tế trời vào mùa xuân. Vào dịp này nhà vua ít nhất phải có 15 ngày trai giới, giữ gìn thể xác và tâm hồn trong sạch, cách ly cung điện, cung tần mỹ nữ để đến ăn ngủ ngay tại nơi lập đàn tế (thường gọi là đàn Nam Giao) toàn tâm toàn ý hướng về lẽ trời trước khi lên khấn nguyện. Làm như vậy là ngay trong thâm tâm mình, nhà vua không coi mình là người có quyền lực cao nhất để tự ý muốn làm gì thì làm mà đặt quyền lực của mình dưới quyền lực của trời, cầu cho quốc thái dân an, hợp với ý trời (thuận thiên) và lòng người. Nhưng nó là nghi lễ ở chốn cung đình, còn cúng đất, có người nói đất cát vô tri thì cúng để làm gì?

Nói vậy là họ chưa hiểu hết cội nguồn văn hóa của dân tộc. Trời ắt phải Đất. Quả bầu mẹ sinh ra nhân quần là biểu trưng của đất. Có mẹ đất cha trời mới giao duyên phối ngẫu sinh ra cây cỏ muôn loài. Tục cúng đất đã từ xa xưa, cúng để tạ ơn đất đai Mẹ Thiên nhiên đã nuôi dưỡng con người. Trong quá trình thiên di và hội nhập nơi vùng đất mới nó bổ sung vào rất nhiều thành tố mới lạ song vẫn lưu giữ được những ý nghĩa rất nhân bản sơ khai, có thể nói là đậm đà bản sắc dân tộc rất cần gìn giữ và phát huy.

Ai cũng biết hành trình “Nam tiến” của Đại Việt bắt đầu từ khi vua Chăm Chế Củ xin dâng ba châu Bố Chính, Địa Ma Linh để chuộc mạng vào năm 1069 dưới thời nhà Lý. Bấy giờ một lượng lớn người dân xứ Thanh - Nghệ mới đến phía bắc châu Minh Linh khai khẩn đất đai, lập nên làng mạc. Dưới thời nhà Trần và nhà Hồ có thêm một số đợt di dân lẻ tẻ vào phía nam châu Minh Linh. Nhưng phải đến năm Bính Ngọ (1306), với cuộc hôn nhân giữa công chúa Huyền Trân quốc vương Chăm là Chế Mân đã mang lại cho Đại Việt hai châu Ô, quốc vương Chăm dâng tặng làm sính lễ cầu hôn thì mới có những cuộc di dân có tổ chức. Đến thời nhà Lê, với cuộc đại di dân vào vùng Thuận Hóa sau năm 1471, các làng xã người Việt ở Quảng Trị chính thức được định hình. Và nhất là dưới thời các chúa Nguyễn, với những chính sách cai trị mềm dẻo, khôn ngoan trong việc phát triển kinh tế - hội, biết bao thế hệ lưu dân Việt đã rời bỏ quê cha đất tổ của mình trên đất Bắc tìm vào hội tụ trên vùng đất mới. Họ ra đi nhưng vẫn mang theo truyền thống văn hóa ngàn đời nơi quê cha đất tổ, trong khi vùng đất mới nhiều nhóm dân Chăm vẫn tồn tại.

Quá trình cộng cư cũng là quá trình hội nhập và phong hóa, tạo nên một diện mạo văn hóa (địa văn hóa) mới đa sắc màu trên vùng đất Thuận Hóa dân Việt người giữ vai trò chủ thể với nhiều điểm khác biệt so với tổ tiên họ Đàng Ngoài. Trên quê hương mới gọi vùng đất “Ô châu ác địa” không chỉ là nơi thường xuyên diễn ra các biến cố xã hội bởi chiến tranh, ly tán, chia cắt mà còn đối đầu với môi trường tự nhiên khắc nghiệt đặt con người trước những thử thách bởi hạn hán, mưa bão, lũ lụt lẫn những mối đe dọa rình rập khác làm cho những con người tha hương không thể không lo ngại. Ca dao cổ câu: Tới đây đất nước lạ lùng/ Con chim kêu cũng sợ, con vẫy vùng cũng kinh! Trong hoàn cảnh như thế, để khẳng định mình, các nhóm dân Việt phải tạo ra một lực lượng tinh thần mới đủ sức neo đậu con thuyền lưu dân trên bờ bến mới. Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường cho rằng, đã một cuộc tổng hợp văn hóa lớn từng diễn ra trên vùng đất Quảng Trị nói riêng Thuận Hóa nói chung từ thế kỷ XI - XIX. Tổng hợp đây là từ những cái đã có để tạo ra một cái gì khác, là khả năng “thăng hoa những yếu tố văn hóa ngoại lai để trở thành những giá trị văn hóa thuần Việt, thực hiện một cách hiệu quả sự tổng hợp văn hóa đại lục phía Bắc văn hóa hải đảo phía Nam”. Tất nhiên quá trình tiếp nhận, kết tinh, tổng hợp ấy thông qua rất nhiều con đường, kéo dài ra ở rất nhiều thế hệ, từ các cuộc hôn nhân dị chủng đến sự giao thoa về âm nhạc; kiến trúc điêu khắc đến tín ngưỡng thờ cúng cách ăn ở, ăn mặc… trong đó tập tục cúng đất, nét đẹp trong tâm thức của người Việt sống trên mảnh đất sính lễ xưa.

Cúng đất còn gọi lễ “Kỳ an Thổ thần” hay “Tạ thổ kỳ yên”. Người Việt cổ xưa quan niệm “đất có Thổ công, sông bá”, cúng đất để cầu nguyện âm siêu, dương thái, phần âm có yên ổn thì người dương mới yên ổn và có an cư thì mới lạc nghiệp. Cúng đất nói chung là tín ngưỡng của một vùng dân song tùy theo địa vực cư trú và thổ nhưỡng từng nơi mà những đặc điểm riêng. Ví như vùng núi vào các dịp chọn đất lập làng hay mở cửa rừng thì cúng thần rừng, mâm cúng thường sản vật của rừng. biển thì cúng thần Nam Hải, ông Ngư, mâm cúng sản vật biển. Dù cúng ở đâu thì cũng mang nghĩa thành kính tạ ơn, thiêng hóa những sức mạnh vô hình tác động đến đời sống con người, mong cầu hộ độ trì cho việc làm ăn sinh sống của dân được mưa thuận gió hòa trên đất đai rừng biển. Đó chỉ dấu của nền văn hóa, văn minh nông nghiệp vốn chịu tác động thường xuyên của thiên nhiên và đó cũng là chỉ dấu về mặt tín ngưỡng tâm linh của tổ tiên ông bà. Người Việt khi mong ước điều họ “cầu Trời, khấn Phật” cho được toại nguyện như một thao tác phản xạ tự nhiên trong tâm thức họ tồn tại hai cõi tâm linh song hành. Thứ nhất là cõi thần tiên của Lão giáo với Ngọc Hoàng Thượng đế, các vị thánh trên Thiên đình các vị táo quân, Thổ địa trần gian cùng các ông tiên, nàng tiên xuất hiện giúp họ vượt qua khó khăn hiểm nghèo. Thứ đến cõi Phật với Phật tổ Như Lai, Bồ tát Quan Âm cùng nhiều vị Bồ tát, La Hán khác. Một số người không có một tín ngưỡng chính thức vẫn “ẩn tàng” kết hợp việc thờ cúng tổ tiên theo đạo thần, đạo Lão với sự giác ngộ của đạo Phật. Dẫu cho thế giới biến đổi hàng ngày, hàng giờ đến đâu chăng nữa chúng ta vẫn tin rằng tín ngưỡng âm thầm kia của người Việt sẽ tồn tại lâu bền với thời gian mà bằng chứng là tập tục cúng đất. Không chỉ người dân bất luận giàu nghèo cúng ở nhà mình mà người ta còn cúng ở công ty, doanh nghiệp và cả các cơ quan công sở…

Điều đáng chú ý người Việt vùng ngũ Quảng (Quảng Bình cũ, Quảng Trị, Quảng Đức - Thừa Thiên Huế ngày nay, Quảng Nam cũ, Quảng Ngãi cũ) cả một số tỉnh Nam Trung Bộ nữa, ngoài ý niệm cúng đất là tạ ơn trời đất cũng còn tri ân các bậc tiền nhân mở đất lập làng, các vị thổ địa, thổ công, thành hoàng làng, các vị tiền khai khẩn, hậu khai canh thì còn do đặc biệt nghi lễ này còn sự phối thuộc thờ cúng các thần vị cai quản đất đai, tổ tiên tộc người Chăm cả ma Chăm (ma Hời) tiền trú, không nơi nương tựa, không ai thờ cúng. Lễ vật dâng cúng bao giờ cũng dành phần riêng cho vong linh Chăm, rất khiêm tốn nhưng đặc trưng và thành kính. Trong lễ cúng đất Quảng Nam bày mâm lễ vật gọi “tá thổ”, tá có nghĩa là tá túc, là thuê mướn đất sinh sống nay trả ơn cho chủ đất (tiền chủ). Như thế, từ mâm cúng đất mà thấu hiểu nguồn cơn, như đã nói về sự hình thành đất y, nhất đạo “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” vậy.

2. Hàng năm, người ta thường tổ chức cúng đất vào tháng hai hoặc tháng tám âm lịch. Ai cũng chọn ngày tốt, giờ tốt, tối kị giờ Dần giờ Dần thần không hưởng. Giàu làm kép, hẹp làm đơn nhưng một mâm cúng đất nhất thiết phải có bàn thượng, bàn trung và bàn hạ. Ở cả ba bàn nói trên đều có hương đèn, hoa quả, cơi cau trầu, ly rượu trắng, nước trong, giấy tiền vàng mã. Lễ vật ba bàn bài trí sự khác biệt như sau: Lễ vật bàn thượng bắt buộc phải bộ áo Thổ thần, con gà, đĩa xôi. Con cúng ở mâm thượng phải chọn lựa kỹ càng, đó là chú gà trống kiến tức gà ta có mào đỏ chót, lông tía vàng óng mượt và tất nhiên chân phải màu vàng. Gọi chú trống nghĩa phải đúng giò, không non cũng không tra (gà chưa đạp mái), không cúng “mồng trứt”, chân chì, lông nổ nhiều màu sẽ mang điềm xấu đến cho gia chủ. Trước lễ cúng, được nhốt trong lồng ba ngày cho ăn thóc gạo hoặc cơm và uống nước sạch gọi là tẩy uế trước khi dâng cúng thổ thần. Con cúng được luộc chín cùng bộ lòng và tiết kèm nhúm muối hạt. bàn trung lễ vật gồm: Hai bộ áo Bà, 5 bộ áo ngũ phương với lễ vật mâm cơm với đầy đủ thức ăn các loại, đặc biệt là bánh tét, bánh chưng như ngày Tết. Bàn hạ gồm: Áo binh đủ màu (số lượng tùy gia chủ), nhiều đĩa xôi chè, đặc biệt có mấy quả trứng, tôm cua, miếng “thịt tợ” (thịt ba chỉ), đĩa rau khoai luộc kèm chén mắm nêm cùng với một gắp đủ loại nướng vàng (cá sơn, liệt, cá mại…), mía đốt, khay hạt nổ trộn gạo, muối sống, tô “cháo thánh”, đĩa khoai, sắn, ngô luộc… Mâm lễ cúng đất đặt trước nhà, gia chủ đứng trong nhà cúng ra khác với cúng đầy tháng cho con trẻ (cúng đất cúng ra, cúng bà cúng vô). Nhiều đối tượng được gia chủ ghi tên vào tờ “sớ” được đọc lên khi cúng gồm thần Thổ địa đến thần núi, thần sông, cả thần “Man Di, Mọi Rợ” (thần linh người Chăm)... Khi lễ cúng gần xong, gia chủ thay nước trà và hóa “vàng giấy áo”. Điều đáng lưu ý gia chủ không bao giờ quên để phần vào một cái gọi là “xà lét” bằng bẹ chuối, bỏ vào đó một ít thức ăn (như khoai sắn, nhúm rau khoai luộc kèm mắm nêm, gắp cá nướng…) mang ra treo ở gốc cây trước ngõ hoặc ngã ba đường như là khẩu phần cho người âm khi chưa kịp đến dự lễ cúng đất. Phẩm vật sau lễ cúng sẽ được gia chủ mời mọc bà con láng giềng đến dùng gọi là “thừa thần chi huệ”.

Điều đó cho chúng ta những nhận t gì qua những sản vật nông nghiệp mà người n Quảng Tr và “ngũ Quảng dâng cúng trong l cúng đất?

3. rất nhiều chỉ dấu của văn hóa cố GS. Trần Quốc Vượng gọi “một bản sắc địa văn hóa được người Việt kế thừa từ người Chăm” (Miền Trung Việt Nam văn hóa Champa - một cái nhìn địa văn hóa). Đó là sự giao thoa về âm nhạc với Quan họ Bắc Ninh và Nam Bình Nam Ai xứ Huế (Trị - Thiên) cố GS. Trần Văn Khê cho rằng “trong nhiều thế kỷ giao lưu nhạc Việt đã nhuốm màu Chàm”, “Ariya” Chăm với lục bát Việt giao thoa thành món ăn đặc sản tinh thần, là tinh thần viễn dương Champa xưa truyền cho ngư dân miền Trung lòng quả cảm đánh bắt xa bờ, người Chăm để lại một phần “áo dài” cho người Việt cải tiến thành áo dài nức tiếng thế giới, là cách làm thủy lợi, đào giếng đến kỹ thuật lấy nước ngầm, cách chữa bệnh bằng thuốc Nam, cối xay lúa v.v… đây tôi chỉ gói gọn các sản phẩm nông nghiệp trong mâm cúng đất. Trước hết đó là mâm cơm và hạt nổ. Mâm cơm làm ta nhớ lại cái giống lúa Chiêm (lúa Chăm, giống lúa chịu hạn trước khi thủy lợi còn gieo trên đồng đất Quảng Trị trước năm 1975). Cũng giống lúa Chiêm này từ Việt Nam lan sang tận Trung Quốc tạo nên một cuộc cách mạng kinh tế lớn lao còn gọi là “lúa tiên”. Cũng như hạt nổ là chén thóc được rang nở bung ra chứ không phải là thứ hạt nổ công nghệ bây giờ. Người Chăm đã nhập và thuần hóa các loại thực vật để trồng trọt xây dựng nên các vùng đặc sản người Việt thừa kế như khoai (khoai T Đóa), mía (mía đường Quảng Ngãi)… mới mấy loại sản phẩm đặc trưng này trong mâm cúng (mía khúc, khoai môn sắn luộc, rau lang luộc…) đặc biệt đồ ăn biển, các loại mắm phù hợp với sở thích ăn cay, ăn mặn (nước mắm, mắm nêm, mắm chợp, mắm cà, mắm dưa, mắm chêng…) mà mắm nêm là loại mắm tiêu biểu được lựa chọn đi kèm với rau lang luộc.

Cuối cùng từ những tản mạn về tập tục cúng đất nói trên dẫn dắt chúng ta đến kết luận gì? Theo tôi đó nét đẹp từ văn hóa tâm linh đến triết nhân văn sự sống nương vào thiên nhiên, hòa hợp sống chung với thiên nhiên không nên phụ bạc thiên nhiên. Ngoài việc tri ân đối với tiền nhân nơi mình sinh sống cũng như việc giữ gìn tinh thần đoàn kết, giao lưu văn hóa giữa các vùng miền, các dân tộc thì Mẹ Đất vẫn là cội nguồn của sự sống để họ kính trọng và tôn thờ.

Y.T