Thằng
nhỏ bỗng nhiên trở về vào đúng ngày mọi người tập trung ở cổng làng chờ xem
người ta dựng bạt hội chợ. Xóm nhỏ bờ sông qua những ngày ủ ê mưa thối đất đã được đánh
thức bởi không khí mùa xuân và sự xuất
hiện của thằng nhỏ sau hai mươi năm trời lưu lạc. Người già trong làng vắt tay
sau lưng ngó nghiêng thảng thốt. Lũ trẻ chẳng hiểu chuyện gì cũng náo loạn góp vui. Ngồi vắt vẻo trên
tường thành quay lưng với hồ sen, thằng nhỏ ngó đăm đăm về phía cổng làng dõi tìm ký ức. Người ta xuýt xoa bảo trông nó chẳng thay đổi tẹo nào,
vẫn cái áo kẻ màu mận chín, mũ lưỡi trai đội lệch và khuôn mặt như thể vừa mới được phóng to.
Tài thật, không mất đi đâu một nét nào. Giống y chang thằng nhỏ đi lạc mẹ trong đám hội
đình đông nghịt năm ấy. Bà già Túc không
biết đã xuất hiện ở đám đông bằng cách nào. Đi hay chạy, hoặc là ai đó đã bứng bà khỏi chiếc
giường toàn mầm bệnh đến đặt trước mặt thằng nhỏ con bà. Cuộc hội ngộ ấy không
vui như người ta trông đợi. Lủi thủi, xa xót và ngấm ngầm oan ức chi đó trong
đôi mắt bà già khi thấy thằng nhỏ chuyển ánh mắt đăm đăm từ phía cổng làng về
búi tóc cao trên đầu người mẹ. Cái búi tóc mà nhiều năm về trước cứ
nhấp nhô giữa đám
đông rồi mất hút, bỏ mặc nó kêu gào khản giọng trong tiếng trống tuồng.
Từ hôm trở về người ta thấy thằng nhỏ thoắt
vui, thoắt buồn rất khó đoán định. Đi ra ngoài
nó tán gái khơi khơi vậy mà về nhà nín lặng ăn, lầm lũi sửa rặng rào, xây thành giếng.
Đến cái dáng ngủ cũng đơn độc lạ, mặt quay vào tường, co mình ủ tay giữa hai
đùi rồi nằm bất động như thế cho đến sáng. Bà già len lén nằm kế bên, cả đêm dán mắt vào cái bớt đỏ nổi
như một hòn đảo giữa lưng thằng nhỏ. Nó lớn lên cái bớt cũng lớn theo,
những hôm nó say cái bớt ngả màu xanh tái thỉnh thoảng lại giật giật ri
rỉ mồ hôi như biết khóc. Khi nó ốm cái bớt đen tịm, bà già lấy áo đắp lên người nhưng
thằng nhỏ lại hất ra. Nó lúc nào cũng thích cởi trần phanh
cái ngực có một vết sẹo dài phía trước và cái bớt phía sau. Ai có hỏi thì nó khơi khơi kể cái bớt sinh ra đã có, chắc tại trời đánh dấu để có bị quẳng đi cũng
không dễ gì chối bỏ được gốc gác của mình. Còn vết sẹo là do lưu lạc mưu
sinh, ăn cắp ăn trộm đủ cả, người ta bắt được dí cả thanh sắt nung cháy xèo
xèo da thịt. Người dưng như ngửi thấy cả mùi thịt cháy ấy vậy mà mặt nó hơn hớn như chưa từng biết đau đớn là gì. Thấy thiên hạ chép miệng xót
thương thằng nhỏ tỉnh bơ
bảo có gì đâu, số thằng
này không chết bờ chết bụi còn là may chán. Bà già đang ngồi khâu lại cái áo cho nó luống
cuống thế nào để kim đâm cả vào tay bật máu.
Sáng nào thằng
nhỏ cũng thức dậy đúng lúc bà già đang ngồi búi tóc.
Bà ngồi trên bậc hè, lưng thẳng, dướn cao cổ và hai tay cẩn thận vén gọn tóc quấn thành búi nhỏ giữa đỉnh đầu. Thằng
nhỏ thấy hai hốc mắt nhức
nhối như bị con gì đục khoét. Nó bo chặt mắt chạy nhanh đi chỗ khác, lúc xòe
hai bàn tay ra thấy ướt nhòe. Nó từng bỏ tình nhân chỉ vì nàng có ý định nuôi tóc dài để búi cao như con gái Hàn Quốc. Hồi đi học bổ túc dưới thành phố, nó từng ghét cay ghét đắng
con bé ngồi bàn trên cứ ngọ nguậy búi tóc ngay trước mặt. Ghét đến mức một hôm
đã cầm kéo cắt phựt ngay búi tóc trong tiếng kêu thất thanh của bạn. Những búi
tóc như chiếc gai trong mắt, đánh thức thứ ký ức ấu thơ lưu lạc. Nhen nhóm trong lòng thằng
nhỏ nỗi nhớ nhung lẫn giận hờn người mẹ. Lòng tựa bếp củi nguội lạnh đã
lâu, ai nhen chi lửa để mù mịt khói…
* * *
Hơn hai mươi năm trước bà già hiện tại từng
là người phụ nữ đẹp nhất làng. Lấy chồng nhà giàu, tay chỉ để chọn hoa nhài ướp trà, thêu hoa trên áo, thổi cơm ngon cho chồng
con ăn. Khi thằng nhỏ năm tuổi thì chồng bà lâm bệnh nặng rồi mất. Chị dâu, em
chồng ghẻ lạnh luôn tìm cách bắt nạt người đàn bà bé nhỏ thân cô thế cô không ai bênh vực. Người ta bảo bà gò má cao có tướng sát
chồng nên sinh ra tang tóc. Mọi vận hạn trong nhà từ buôn bán thua lỗ đến mất
con gà cũng lôi bà ra chửi. Không chịu được sự tủi nhục bà dẫn thằng nhỏ bỏ đi nơi khác làm thuê kiếm sống. Cuộc mưu sinh vất vả lại thêm thương
con phận mồ côi bố, nên bà sớm nhận lời theo về làm vợ người đàn ông làm nghề
đãi cát sông. Chỉ cốt có mái nhà che nắng mưa, có bờ vai vạm vỡ để mẹ con bà bấu víu. Biết đâu
sẽ nặng tình thắm nghĩa,
ở đời người đàn bà nào chả mong có một gia đình
để sớm tối quây quần. Khi ấy bà còn trẻ nên sợ nỗi cô độc như người yếu bóng
vía sợ đi đêm.
Thằng nhỏ từng nhớ thương
mái tóc dài buông ngang
lưng đen mượt mà
mẹ nó đem búi lại gọn lỏn trên đầu. Nhìn những
sợi tóc cong mình vặn ngược rồi yếu rụng dưới nền nhà thằng
nhỏ thấy ghét cuộc hôn nhân của mẹ. Mẹ búi gọn tóc để còng lưng dưới ruộng cấy
lúa, cúi đầu sát bếp thổi lửa, ngửa cổ phơi chăn chiếu ngoài hàng rào cây duối.
Rồi mẹ có thêm lý do để búi tóc thật cao, ấy là để cha dượng không túm tóc giật
mạnh mỗi khi say rượu. Người đàn ông ấy bình thường hiền khô, tuy ít nói nhưng rất
thương hai mẹ con thằng nhỏ. Chỉ lúc say bí tỉ là trở thành một con người khác
vừa đáng sợ vừa đáng thương. Có bao nhiêu đồ đạc trong nhà đều mang ra đập phá, bữa cơm vợ con đang ăn trong góc bếp cũng bị hất xuống
đống tro. Búi tóc của mẹ vài lần giằng co xổ tung trên khuôn mặt, cha dượng cầm
kéo cắt đi vài đoạn. Nhiều hôm thằng nhỏ đứng khóc nức nở khi thấy tóc mẹ co rúm ró rồi cháy xèo xèo trong
bếp. Tóc hóa thành ngọn lửa xanh khét lẹt soi mặt mẹ đỏ bầm
vì bị đánh. Chân tóc cũng ri rỉ máu, bàn tay bé nhỏ của thằng bé năm tuổi chạm đến đâu là nghe thấy tiếng rên rỉ của mẹ qua kẽ răng. Đã mấy lần mẹ
nó định cắt ngắn tóc nhưng thằng nhỏ khóc quá trời. Nó tiếc tóc mẹ hơn mọi thứ trên đời. Đêm giật mình tỉnh giấc cũng quờ tay sang bên sờ tóc mẹ. Có hôm thằng nhỏ cứ đòi ôm mớ tóc cho
dễ ngủ. Tóc gì mà thơm thật là thơm. Đã hết mùi hương hoa nhài chỉ còn
lại mùi hương bồ kết. Tóc mẹ là cổ tích, là thứ dịu dàng còn sót lại của
nhân gian dành cho đứa trẻ sớm chịu nhiều thiệt thòi từ tấm bé.
Nhưng rồi búi tóc ấy cũng bỏ rơi nó. Hai mươi năm qua đêm nào nó
cũng nghe thấy tiếng trống
tuồng vở “Tiếng trống
Mê Linh”. Thứ âm thanh thúc giục gióng lên từng hồi, trên sân khấu được dựng
bằng chiếc bạt lớn ba quân tướng sĩ cầm gươm giáo đứng nghiêm trang. Hội làng đông nghịt,
mấy chục năm mới có một lần mở lớn. Thằng nhỏ đứng lọt thỏm trong đám
đông nhìn những đứa trẻ khác được cha chúng đặt trên bờ vai vững chắc. Chúng
như cao lớn hẳn, có thể với tới cả bầu trời nên hò reo thích thú. Thằng nhỏ nghĩ về những lời cha dượng
nhiếc móc mình trong những
cơn say. Ông cho rằng nó chính
là cái cớ để người mẹ xót thương chồng hằng đêm thường dấm dúi khóc thầm. Lời cay nghiệt càng khiến bóng mẹ thêm đơn độc trải dài trên tường đất. Đôi
lúc mẹ như người mất hồn thẫn thờ nhìn thằng nhỏ. Nên đúng lúc trên sân khấu bà Trưng Trắc cất lời hiệu triệu
thề hy sinh giết giặc cứu non sông thì dưới đám đông thằng nhỏ bỗng thấy
tay mình buông thõng.
Ngoảnh lại không
còn thấy tay mẹ nó đâu, ngửa cổ
tìm kiếm xung quanh thấy búi tóc mẹ nhấp nhô như đang chạy trốn.
Mẹ bây giờ thành bà già, thằng nhỏ thực ra
cũng đâu còn nhỏ nữa. Tóc
trên đầu bà già ngày càng mỏng,
búi tóc lưa thưa những
sợi màu mây.
Còn thằng nhỏ đã hai sáu tuổi, tay đầy những vết chai, trên cằm râu ria rậm rịt. Dượng mất cũng đã lâu, trên bàn thờ có ánh mắt lúc nào cũng nhìn thằng nhỏ như sám hối. Cũng có
thể là do nó nghĩ thế khi trong lòng đã không còn trách giận, người chết là
hết. Bà già nhiều khi hờn tủi trách thằng nhỏ sao đủ vị tha với người khác mà
với bà thì lòng nó mãi không nguôi. Hai mươi năm trước chỉ là bà lỡ để tuột tay nó trong dòng người xô
đẩy. Tiếng hát tuồng như ma mị lòng người cứ kéo bà luồn lách giữa đám
đông để lại gần sân khấu. Đến lúc vở tuồng kết thúc bà mới giật mình nhận ra
đã để lạc mất con. Thằng nhỏ theo người lạ lên tàu bỏ lại bà tưởng cũng đã hóa đá trong vô vọng kiếm
tìm và mỏi mòn chờ đợi. Sau một phần
ba đời người mới gặp lại nhau, câu đầu tiên thằng nhỏ hỏi bà già “bỏ con rồi mẹ
sống có vui không? ”.
Hôm trở về làng thằng
nhỏ tức không
thể cắt sạch những búi tóc trên đầu
đàn bà ở xứ này. Không
hiểu sao nhìn tóc búi nó luôn nghĩ đến những
phận người cam chịu. Bà già cười bảo tụi trẻ bây giờ khác xưa rồi, đầu nhuộm
vàng nhuộm nâu búi tóc lên khoe cổ trắng gần lấp lánh đồ trang sức. Thằng nhỏ cũng cười, tay giơ búa bổ củi đều đều miệng nói mấy lời
chua chát “ngày xưa mẹ mà được như vậy đã chả phải ruồng rẫy bỏ mặc con”. Cái
từ “ruồng rẫy” tựa dằm củi văng ra đâm vào tim bà. Bao nhiêu năm qua thằng nhỏ vẫn nghĩ bà vì sợ nó là cái gai trong mắt cha dượng nên mới
cố tình buông
bỏ. Nó giờ như cành cây cong khó uốn nắn lại cho thẳng thớm từng ý nghĩ. Vết
thương lòng nó đã thành sẹo nên bà già cũng quen dần với những cơn hằn học thỉnh
thoảng lại nhen lên trên môi mắt nó. Bà đâu hiểu rằng thằng nhỏ của bà vốn là
đứa trẻ cô độc thèm khát được yêu thương. Lửa trong lòng đã nguôi ngoai nhưng
miệng còn cố chấp.
Hai mươi năm hội làng lại mở, lần này nghe nói sẽ lại diễn vở tuồng
“Tiếng trống Mê Linh”.
Nghệ sĩ năm xưa chắc đã già rồi, nghe tiếng trống tập tuồng từ vài ngày trước lòng đã nôn nao khó tả. Bà già bỗng nhiên đổ bệnh, nằm bệt trên giường cả tuần
trời. Những lúc ngồi dậy được bà thường tựa lưng vào tường ngó ra vườn nhìn thằng nhỏ trồng rau. Từ khi
nó về vườn tươi xanh, góc này trồng ít ngải cứu, chỗ kia thêm vài khóm đinh lăng, cam thảo, nhọ nồi, bách bệnh. Thiên hạ hỏi trồng chi nhiều thế?
Nó cười bảo nhà có người già nên trồng cây thuốc phòng khi đau yếu. Bà không nghĩ cuối đời còn có phúc phận gặp lại con mình, được nó bưng cho bát cháo, nấu cho ấm thuốc lúc đau ốm
thế này. Người già thì dễ tủi thân,
bà hơi tí là rơi nước mắt nên thằng nhỏ mấy lần càu nhàu “người đâu mà như con
nít”. Sáng sớm ngày mở hội, thằng nhỏ đỡ bà dậy,
nó ngồi sau lưng chải tóc cho bà. Sau cơn ốm tóc bà rụng đi gần hết nên đã
không thể quấn thành búi nữa. Cầm nắm tóc mỏng như mây trời bỗng nhiên thằng
nhỏ khóc. Nó bảo “hội chắc đông lắm, để con đưa mẹ đi không mệt”. Và thằng nhỏ nghĩ thầm nó sẽ không
bao giờ tuột khỏi bàn tay mẹ thêm một lần nào nữa…
V.T.H.T
