Giới thiệu
Tin tứcSự kiện & Đối thoại
Sáng Tác
Nghệ thuật
Lý luận & Phê bìnhNgười & Đất quê hương
MultiMedia
Zalo

Sắc Tứ Tịnh Quang tự - ngôi tổ đình Phật giáo trên đất Quảng Trị

NGUYÊN QUÝ    04/05/2026    106
Tọa lạc trên một vùng đất rộng thuộc xã Triệu Phong, Sắc Tứ Tịnh Quang tự (thường gọi chùa Sắc Tứ, chùa Tịnh Quang) là ngôi tổ đình Phật giáo trên đất Quảng Trị. Qua bao biến thiên thời gian và chiến tranh tàn phá, ngôi tổ đình hiện nay đã được tái thiết khang trang và trở thành một biểu tượng văn hóa, tâm linh, tôn giáo của vùng đất này. Chùa Sắc Tứ có những nét kiến trúc tiêu biểu của đền chùa Phật giáo hệ Bắc tông, và là nơi hành hương tham quan không chỉ riêng những người theo đạo Phật.

Lịch sử hình thành

Vấn đề lịch sử năm hình thành của ngôi chùa Tịnh Quang cho đến nay vẫn chưa một định bản nào chính xác nhất. Tuy nhiên, câu chuyện dưới đây (trích trong bút Cánh hạc non Nam của Hòa thượng Thích Trí Thủ, viết năm 1971) được lưu truyền rộng rãi và có thể coi là một “điển tích” về ngôi tổ đình.

Theo đó, chùa Tịnh Quang do thiền Chí Khả lập nên. Thiền sư Chí Khả người Trung Quốc, sinh trưởng trong một gia đình thâm tín Phật pháp. Lúc mang thai, mẹ mộng thấy một con chim hạc từ ngọn núi phía nam bay lại, sau đó, ngài được sinh ra, thân tướng khôi ngô, mày thanh mắt sáng. Thuở ấu thơ, ngài thường được mẹ dẫn đến ngôi chùa trong làng tụng kinh niệm Phật.

Năm lên 7 tuổi, ngài mộng thấy con thuyền đưa mình đến vùng non xanh nước biếc. đó bốn bề núi sông, cỏ cây cát trắng. Trước mặt là trái núi hình quả chuông, cái mõ. Sau lưng là ba dòng nước trong xanh chảy về một mối, hiệp thành dòng sông chảy giữa đôi bờ cỏ cây xanh tốt. Giữa cảnh thiên nhiên hùng ấy hiện ra một ngôi chùa một vị thiền sư. Lạ lùng thay, ngài thấy vị thiền sư ấy chính là mình.

Năm 12 tuổi, ngài từ giã gia đình theo đoàn thuyền buôn vượt biển đi về phía nam. Khi đoàn thuyền ghé vào cửa biển Thuận An thuộc đất Thuận Hóa (Huế), ngài lên bờ và cảm thấy hân hoan như được về quê cũ. Ngài học tiếng Việt rất mau, thâm nhập phong tục tập quán của người Việt rất dễ. Ngài quyết chí đi tu tìm đến kinh đô Huế học đạo với tổ Liễu Quán. Tổ sư Liễu Quán đã thế độ cho ngài với tánh tu hiệu Chí Khả.

Sau 10 năm học đạo, đến năm Quý Sửu (1733), ngài được tổ Liễu Quán cho vân du hóa đạo. Ngài lên đường đi ra phía Quảng Trị, bên bờ sông Vĩnh Định, dựng một thảo am nghỉ lại đây ít lâu. Tiếp đó ngài lại lên đường đi về phía thượng nguồn sông Vĩnh Định đến chỗ hiệp lưu của hai sông Vĩnh Định và Thạch Hãn. Ngài đã dựng một am tranh đặt tên là Tịnh Độ Am, tọa lạc trên đất thế voi nằm (gọi xứ Bàu Voi) thuộc xã Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.

Ngài dựng am Tịnh Độ từ năm nào thì nay chưa khảo chứng được, có khả năng vào năm Ất Mão (1735), Vĩnh Hựu nguyên niên đời Ý Tông, tương ứng với năm thứ 11 chúa Nguyễn Phúc Chú.

Đến năm Kỷ Sửu (1739), tức năm Vĩnh Hựu thứ 5 vua Ý Tông, chúa Nguyễn Phúc Khoát trong một dịp ngự giá ra Quảng Trị, ghé vào thăm chùa lễ Phật. Cảm khái với cảnh trí chốn phật đường tiếng tăm của chùa trong dân chúng, chúa thân hành ngự bút viết năm chữ “Sắc Tứ Tịnh Quang Tự”, cho làm bảng sơn son thếp vàng để tặng cho chùa. Từ đó am Tịnh Độ đổi tên thành chùa Sắc Tứ Tịnh Quang.

m 1991, chùa được Nhà nước xếp hạng di tích cấp Quốc gia hạng A1.

Tổng quan về kiến trúc

Trải qua chín lần đại trùng tu (lần gần đây nhất năm 1997), ngôi tổ đình hiện nay kết cấu kiên cố bền vững và theo lối kiến trúc tiêu biểu của đền chùa Phật giáo Bắc tông.

Từ Quốc lộ 1A, đoạn qua trung tâm Triệu Phong, một con đường chính rộng dẫn thẳng vào chùa. Hai bên đường là hai hàng cây lưu niên cổ thụ tỏa bóng mát, bên phải một hồ nước thoáng rộng, khách vào chùa cảm nhận được ngay sự tĩnh tại yên bình.

Cổng tam quan có ba cửa đi vào tượng trưng cho tam bảo (Phật - pháp - tăng), hay ba cách nhìn của đạo Phật (hữu quan, không quan, trung quan), hoặc là tam giải thoát môn (không, vô tướng, vô tác). Phần trên cổng tam quan tượng thần Hộ pháp trấn giữ. Cổng được xây dựng kiên cố, hoa văn họa tiết đắp mẻ sành kiểu xưa.

Đi qua cổng tam quan một hồ sen trắng cầu bắc qua. Tiếp đến là khoảng sân rộng, xung quanh nhiều cây cối. Bên trái đài Quan Âm thờ tượng Quán Thế Âm Bồ Tát. Bên phải có tượng phật Di Lặc.

Phía bắc và phía nam là hai dãy nhà tăng dành cho người tu hành sinh hoạt. Phía tây là dãy nhà ngang dùng cho các khóa tu, hội thảo.

Ngay chính giữa khuôn viên là tòa chánh điện theo kiến trúc cổ lầu. Phần trước của tòa chánh điện gọi thượng điện, thờ tam tòa chư Phật và chư vị Bồ tát. Phần phía sau nhà hậu tổ thờ tổ khai sơn, các vị trụ trì, giám tự và phật tử hữu công với nhà chùa.

Không gian thoáng đẹp, cổ kính ở Tổ đình Sắc tứ Tịnh Quang - Ảnh: N.Q
Không gian thoáng đẹp, cổ kính ở Tổ đình Sắc tứ Tịnh Quang - Ảnh: N.Q

Một số lễ hội chính

một ngôi tổ đình nên chùa Tịnh Quang những ngày lễ/kỳ lễ lớn diễn ra hằng năm.

Giỗ tổ khai sơn tổ đình Sắc Tứ Tịnh Quang được tổ chức hằng năm vào ngày 18 tháng 2 âm lịch. Đây là dịp để chư tăng ni và phật tử quay về ngôi chùa tổ, tưởng nhớ tổ sư Chí Khả và các bậc cao tăng thạc đức, cùng sách tấn nhau trên bước đường phụng đạo xây đời. Lễ giỗ Tổ được tổ chức rất quy mô, đạt tầm mức một lễ hội lớn tại khu vực, quy tụ đông đảo tăng ni tín đồ phật tử khắp mọi nơi trở về. Lễ giỗ tổ khai sơn tổ đình Sắc Tứ Tịnh Quang một trong những lễ hội tâm linh tầm ảnh hưởng lớn của Phật giáo Quảng Trị.

An cư kiết hạ là khóa tu ba tháng mùa hạ, từ rằm tháng tư đến rằm tháng bảy. Theo Tỳ-ni Luật tạng truyền thống an kiết hạ, tăng ni hằng năm phải an ba tháng để thúc liễm thân tâm, trau dồi giới-định-huệ, giữ gìn quy củ tòng lâm, trang nghiêm giáo hội, lợi lạc tự thân và lợi ích xã hội. Trong kỳ lễ, mỗi tháng hai ngày (14 30 âm lịch) toàn thể tăng, ni tập trung về chùa Sắc Tứ Tịnh Quang. Chư tăng tham gia phải thực hiện đầy đủ các thời khóa tụng niệm, tọa thiền, niệm Phật, kinh hành, giữ gìn oai nghi tế hạnh trong tu tập, sinh hoạt hàng ngày. Bên cạnh đó, ban giảng huấn có thể trích một số vấn đề trong kinh, luật hoặc giảng chuyên đề.

Đại lễ cầu an đầu năm từ ngày mùng 2 tết đến rằm tháng giêng. Theo truyền thống của người Việt, mùa xuân dịp chiêm bái đền chùa, nguyện cầu quốc thái dân an. Tại tổ đình Tịnh Quang, phật tử các giới đồng bào thường đến vãn cảnh chùa đầu xuân và cầu mong một năm mới bình an, hưởng được phước lành từ bi và trí tuệ của đức Phật.

Trong kỳ lễ cầu an, tùy từng năm có thể diễn ra Pháp hội Dược sư Thất Châu để nguyện cầu một năm mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an. Pháp hội Dược Thất Châu gồm 7 đàn tràng bố trí theo đồ hình mạn- đà-la như một đóa sen nở. Mỗi đàn tràng có một vị sám chủ và 6 kinh sư. Phật tử và người tham gia ngồi xếp bằng xen giữa các đàn tràng để tụng kinh hộ niệm. Pháp hội tụng kinh Dược sư. Có thể hiểu Dược sư là thầy thuốc, hoặc phương thuốc để trị liệu thân bệnh, tâm bệnh, nghiệp bệnh của chúng sanh bằng sự thanh tịnh.

Tụng niệm Phật ngày rằm. Đây lễ tổ chức đều đặn vào ngày 14 và 30 âm lịch hằng tháng. Đông đảo chư tăng, bà con phật tử các giới tề tựu về tổ đình vào buổi sáng và cùng niệm phật.

Vấn đề tích hợp hành hương và du lịch

Tổ đình Sắc Tứ Tịnh Quang hàm chứa giá trị về lịch sử, văn hóa, tâm linh, lễ hội; đồng thời đây ngôi chùa đã được xếp hạng di tích Quốc gia, nên việc vận dụng làm nơi hành hương du lịch hoàn toàn sở. Hơn nữa, trong nếp nghĩ của người Việt, du lịch ngoài tham quan còn là dịp để cầu xin, sở nguyện; nên khi thiết kế chương trình du lịch hiện nay thường có ít nhất một điểm hành hương về các ngôi chùa. Du lịch Quảng Trị nói chung, tuyến du lịch vùng phía nam nói riêng, thể lấy tổ đình Sắc Tứ Tịnh Quang làm điểm hành hương tâm linh, vì những giá trị như đã nêu.

Tuy nhiên, một khi đã xác định làm du lịch thì cần phải nghiên cứu, xây dựng hoàn chỉnh các hạng mục tổ chức các hoạt động phần hội. Từ những lần tham vấn quý chư tăng hiện sống tại ngôi tổ đình Tịnh Quang, có một số ý kiến đóng góp như sau:

Về cảnh quan, hạ tầng: Cảnh quan, kiến trúc của tổ đình hiện nay đã khá ổn định. Đường dẫn vào chùa, khuôn viên đang hệ thống cây xanh, cùng với hồ nước phía trước tạo cảnh quan sinh thái tự nhiên, trong lành, thanh tịnh. Cổng tam quan, chánh điện và các dãy tịnh thất kiên cố và tạo được vẻ đẹp cổ kính, tôn nghiêm.

thể làm thêm hệ thống đèn đường dẫn vào chùa vào ban đêm. Hồ nước bên trái đường vào chùa cần xây chắn xói lở, xung quanh bờ kè tổ chức các dịch vụ giải khát nhẹ. Để tạo sự tôn nghiêm, cần nghiêm cấm việc phóng rác xuống nước và câu cá tại hồ. Phần đất bên phải đường vào chùa có thể làm một công viên, hoặc nâng nền san phẳng để tổ chức các phần hội khi làm du lịch.

Trong khuôn viên chùa, cần tạo dựng thêm cảnh quan ngoài trời như các hoạt cảnh cuộc đời đức Phật, bố trí tôn tượng các vị La hán, làm một khối đá khắc bàn chân đức Phật cỡ lớn…

Về phần lễ hội: Lễ giỗ tổ khai sơn tổ đình vào ngày 18 tháng 2 âm lịch hằng năm đã dần vượt ra ngoài một lễ cúng tôn giáo. Chính quyền có thể nghiên cứu đưa lễ này vào danh mục lễ hội truyền thống của tỉnh. Nâng tầm lễ hội trở thành một dịp hành hương về đất tổ trong khoảng 3 ngày. Cùng với đó, là sự hỗ trợ, phối hợp tổ chức các hoạt động phần hội bên cạnh lễ cúng, chẳng hạn: Lễ hội khất thực để tưởng nhớ công ơn tổ sư và tạ ơn trời đất đã ban ngũ cốc cho con người; hội chợ ẩm thực để khách thưởng thức các món chay, các món bánh truyền thống Quảng Trị; pháp hội hoa đăng tổ chức ngay tại hồ nước trước mặt chùa hoặc sông Thạch Hãn gần chùa; xướng thơ thiền viết thư họa; thiền trà pháp thoại… Các hoạt động này thể tạo thành tuần văn hóa Phật giáo trong Lễ hội Vì Hòa bình tỉnh Quảng Trị.

Bảo tồn di tích, giữ gìn văn hóa lễ hội của ngôi tổ đình Sắc Tứ Tịnh Quang điều cần thiết. Tích hợp du lịch cũng một việc làm nhằm quảng bá hình ảnh tỉnh nhà, phát triển dịch vụ, tạo thêm công ăn việc làm cho người dân. Hơn thế, để tương xứng với vị thế của một ngôi tổ đình, các lễ hội truyền thống cần được nâng tầm và gắn với ý nghĩa nguyện cầu mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an; đồng thời thu hút đồng hương, đồng bào hướng về đất tổ và có những đóng góp xây dựng quê hương.

N.Q