Lịch sử hình thành
Vấn đề lịch sử và năm hình thành của ngôi chùa Tịnh Quang
cho đến nay vẫn chưa có một định bản nào chính xác nhất. Tuy nhiên, câu chuyện dưới đây (trích trong bút ký Cánh hạc non Nam của
Hòa thượng Thích Trí
Thủ, viết năm 1971) được lưu truyền rộng rãi và có thể coi là một “điển tích”
về ngôi tổ đình.
Theo đó, chùa Tịnh Quang do thiền sư Chí Khả lập nên. Thiền sư Chí Khả người Trung Quốc, sinh trưởng trong một gia đình thâm tín Phật pháp. Lúc mang thai, bà mẹ mộng thấy một con chim hạc từ ngọn núi phía nam bay lại, sau đó, ngài được sinh ra, thân tướng khôi ngô, mày thanh mắt sáng. Thuở ấu thơ, ngài thường được mẹ dẫn đến ngôi chùa trong làng tụng kinh niệm Phật.
Năm lên 7 tuổi, ngài mộng thấy con thuyền đưa mình đến vùng non
xanh nước biếc. Ở đó bốn bề núi sông, cỏ cây và cát trắng.
Trước mặt là trái núi hình quả
chuông, cái mõ. Sau lưng là ba dòng nước trong xanh chảy về một mối, hiệp thành
dòng sông chảy giữa đôi bờ cỏ cây xanh tốt. Giữa cảnh thiên nhiên
hùng vĩ ấy hiện ra một ngôi chùa và một vị thiền sư. Lạ lùng thay, ngài thấy vị thiền sư ấy chính là mình.
Năm 12 tuổi, ngài từ giã gia đình theo đoàn thuyền buôn vượt
biển đi về phía nam. Khi đoàn thuyền ghé vào cửa biển Thuận
An thuộc đất Thuận Hóa (Huế), ngài lên bờ và cảm thấy hân hoan như được về
quê cũ. Ngài học tiếng Việt rất mau, thâm nhập phong tục tập quán của người Việt rất
dễ. Ngài quyết
chí đi tu và tìm đến kinh đô Huế học đạo với tổ sư Liễu Quán. Tổ sư Liễu Quán đã thế độ cho ngài với tánh tu hiệu Chí Khả.
Sau 10 năm học đạo, đến năm Quý Sửu (1733), ngài được tổ Liễu
Quán cho vân du hóa đạo. Ngài lên đường đi ra phía Quảng Trị, bên bờ
sông Vĩnh Định, dựng một thảo am và nghỉ lại đây ít lâu. Tiếp đó ngài lại
lên đường đi về phía thượng nguồn sông
Vĩnh Định đến chỗ hiệp lưu của hai sông
Vĩnh Định và Thạch Hãn. Ngài đã dựng một am tranh đặt tên là Tịnh
Độ Am, tọa lạc trên gò đất có thế voi nằm (gọi là xứ Bàu Voi) thuộc
xã Triệu
Phong, tỉnh Quảng Trị.
Ngài dựng am Tịnh Độ từ năm nào thì nay chưa khảo chứng được, có khả năng là vào năm Ất Mão (1735), Vĩnh Hựu nguyên niên đời Lê Ý Tông, tương ứng với năm thứ 11 chúa Nguyễn Phúc Chú.
Đến năm Kỷ Sửu (1739), tức là năm Vĩnh Hựu thứ 5 vua Lê Ý Tông, chúa Nguyễn Phúc Khoát trong một dịp ngự giá ra Quảng Trị, có ghé vào thăm chùa và lễ Phật. Cảm khái với cảnh trí chốn phật đường và tiếng tăm của chùa trong dân chúng, chúa thân hành ngự bút viết năm chữ “Sắc Tứ Tịnh Quang Tự”, cho làm bảng sơn son thếp vàng để tặng cho chùa. Từ đó am Tịnh Độ đổi tên thành chùa Sắc Tứ Tịnh Quang.
Năm 1991, chùa được Nhà nước xếp hạng di tích cấp Quốc gia hạng A1.
Tổng quan về kiến trúc
Trải qua chín lần đại trùng tu (lần gần đây nhất là năm 1997), ngôi tổ
đình hiện nay kết cấu kiên cố bền vững và theo lối kiến trúc tiêu biểu của đền
chùa Phật giáo Bắc tông.
Từ Quốc lộ 1A, đoạn qua trung tâm xã Triệu Phong, có một con
đường chính rộng dẫn thẳng vào chùa. Hai bên đường là hai hàng cây lưu niên cổ thụ tỏa bóng mát, bên phải có một hồ nước thoáng rộng,
khách vào chùa cảm nhận được
ngay sự tĩnh tại yên bình.
Cổng tam quan có ba cửa đi vào tượng trưng cho tam bảo (Phật -
pháp - tăng), hay ba cách nhìn của đạo Phật (hữu
quan, không quan, trung quan), hoặc
là tam giải thoát môn (không, vô tướng, vô tác). Phần trên cổng tam quan có tượng thần Hộ pháp trấn giữ. Cổng được xây dựng kiên
cố, hoa văn họa tiết đắp mẻ sành kiểu xưa.
Đi qua cổng tam quan là một hồ sen trắng có cầu bắc qua.
Tiếp
đến là khoảng sân rộng, xung quanh có nhiều cây cối. Bên trái là đài Quan Âm
thờ tượng Quán Thế Âm Bồ Tát. Bên phải có tượng phật Di Lặc.
Phía bắc và phía nam là hai dãy nhà tăng dành cho người tu hành
sinh hoạt. Phía tây là dãy nhà ngang dùng cho các khóa tu, hội thảo.
Ngay chính giữa khuôn viên là tòa chánh điện theo kiến trúc cổ lầu. Phần trước của tòa chánh điện gọi là thượng điện, thờ tam tòa chư Phật và chư vị Bồ tát. Phần phía sau là nhà hậu tổ thờ tổ khai sơn, các vị sư trụ trì, giám tự và phật tử hữu công với nhà chùa.

Một số lễ hội chính
Là một ngôi tổ đình nên chùa Tịnh Quang có những ngày lễ/kỳ lễ lớn diễn ra hằng năm.
Giỗ tổ khai sơn tổ đình Sắc Tứ Tịnh Quang được tổ chức hằng năm vào ngày 18 tháng 2 âm lịch. Đây là dịp để chư tăng ni và phật tử quay về ngôi chùa tổ, tưởng nhớ tổ sư Chí Khả và các bậc cao tăng thạc đức, cùng sách tấn nhau trên bước đường phụng đạo và xây đời. Lễ giỗ Tổ được tổ chức rất quy mô, đạt tầm mức một lễ hội lớn tại khu vực, quy tụ đông đảo tăng ni và tín đồ phật tử khắp mọi nơi trở về. Lễ giỗ tổ sư khai sơn tổ đình Sắc Tứ Tịnh Quang là một trong những lễ hội tâm linh có tầm ảnh hưởng lớn của Phật giáo Quảng Trị.
An cư kiết hạ là khóa tu ba tháng mùa
hạ, từ rằm tháng tư đến rằm tháng bảy. Theo Tỳ-ni Luật tạng và truyền
thống an cư kiết hạ, tăng ni hằng
năm phải an cư ba tháng để thúc liễm thân tâm, trau dồi giới-định-huệ, giữ gìn quy củ tòng lâm, trang nghiêm
giáo hội, lợi lạc tự thân và lợi ích xã hội. Trong kỳ lễ, mỗi tháng có hai ngày (14 và 30 âm lịch) toàn thể tăng, ni
tập trung về chùa Sắc Tứ Tịnh Quang. Chư tăng tham gia phải thực hiện đầy đủ các thời khóa tụng niệm, tọa
thiền, niệm Phật, kinh hành, giữ gìn oai nghi tế hạnh trong tu tập, sinh hoạt hàng ngày. Bên cạnh đó, ban giảng huấn có thể trích một số vấn đề
trong kinh, luật hoặc giảng chuyên đề.
Đại lễ cầu an đầu năm từ ngày mùng 2 tết đến rằm tháng giêng. Theo truyền thống của người
Việt, mùa xuân là dịp chiêm
bái đền chùa,
nguyện cầu quốc thái dân an. Tại tổ đình Tịnh Quang, phật tử các giới và đồng bào thường đến vãn cảnh chùa đầu xuân và
cầu mong một năm mới bình an, hưởng được phước lành từ bi và trí tuệ của đức
Phật.
Trong kỳ lễ cầu an, tùy từng năm có thể diễn ra Pháp hội Dược sư Thất Châu để nguyện cầu một năm mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an. Pháp hội Dược Sư Thất Châu gồm có 7 đàn tràng bố trí theo đồ hình mạn- đà-la như một đóa sen nở. Mỗi đàn tràng có một vị sám chủ và 6 kinh sư. Phật tử và người tham gia ngồi xếp bằng xen giữa các đàn tràng để tụng kinh hộ niệm. Pháp hội tụng kinh Dược sư. Có thể hiểu Dược sư là thầy thuốc, hoặc phương thuốc để trị liệu thân bệnh, tâm bệnh, nghiệp bệnh của chúng sanh bằng sự thanh tịnh.
Tụng niệm Phật ngày rằm. Đây là lễ tổ chức đều đặn vào ngày 14 và 30 âm lịch hằng tháng. Đông đảo chư tăng, bà con phật tử các giới tề tựu về tổ đình vào buổi sáng và cùng niệm phật.
Vấn đề tích hợp hành hương và du lịch
Tổ đình Sắc Tứ Tịnh Quang hàm chứa giá trị về lịch sử, văn hóa, tâm linh, lễ hội; đồng thời đây là ngôi chùa đã được xếp hạng di tích Quốc gia, nên việc vận dụng làm nơi hành hương du lịch là hoàn toàn có cơ sở. Hơn nữa, trong nếp nghĩ của người Việt, du lịch ngoài tham quan còn là dịp để cầu xin, sở nguyện; nên khi thiết kế chương trình du lịch hiện nay thường có ít nhất một điểm hành hương về các ngôi chùa. Du lịch Quảng Trị nói chung, tuyến du lịch vùng phía nam nói riêng, có thể lấy tổ đình Sắc Tứ Tịnh Quang làm điểm hành hương tâm linh, vì những giá trị như đã nêu.
Tuy nhiên, một khi đã xác định làm du lịch thì
cần phải nghiên cứu, xây dựng hoàn chỉnh các hạng mục và tổ chức các hoạt động phần hội. Từ
những lần tham vấn quý chư tăng hiện sống tại ngôi tổ đình Tịnh
Quang, có một số ý kiến đóng góp như sau:
Về cảnh quan, hạ tầng: Cảnh quan, kiến trúc của tổ đình hiện nay đã khá ổn định. Đường dẫn vào chùa, khuôn viên đang có hệ thống cây xanh, cùng với hồ nước phía trước tạo cảnh quan sinh thái tự nhiên, trong lành, thanh tịnh. Cổng tam quan, chánh điện và các dãy tịnh thất kiên cố và tạo được vẻ đẹp cổ kính, tôn nghiêm.
Có thể làm thêm hệ thống đèn đường dẫn vào chùa vào ban đêm. Hồ nước bên trái đường vào chùa cần xây kè chắn xói lở, xung quanh bờ kè tổ chức các dịch vụ giải khát nhẹ. Để tạo sự tôn nghiêm, cần nghiêm cấm việc phóng rác xuống nước và câu cá tại hồ. Phần đất bên phải đường vào chùa có thể làm một công viên, hoặc nâng nền san phẳng để tổ chức các phần hội khi làm du lịch.
Trong khuôn viên chùa, cần tạo dựng thêm cảnh quan ngoài
trời như các hoạt cảnh cuộc
đời đức Phật, bố trí tôn tượng các vị La hán, làm một khối đá khắc bàn chân đức
Phật cỡ lớn…
Về phần lễ hội: Lễ giỗ tổ khai sơn tổ
đình vào ngày 18 tháng 2 âm lịch hằng năm đã dần vượt ra ngoài một lễ cúng tôn giáo. Chính quyền có thể nghiên cứu đưa lễ này vào
danh mục lễ hội truyền thống của tỉnh. Nâng tầm lễ hội trở thành một dịp hành
hương về đất tổ trong khoảng 3 ngày.
Cùng với đó, là sự hỗ trợ, phối hợp tổ chức các hoạt động phần hội bên cạnh lễ cúng, chẳng hạn: Lễ hội khất thực để tưởng nhớ công ơn tổ sư
và tạ ơn trời đất đã ban ngũ cốc cho con người; hội chợ ẩm thực để khách thưởng thức các món chay, các món bánh truyền thống Quảng Trị; pháp hội
hoa đăng tổ chức ngay tại hồ nước trước mặt chùa hoặc sông Thạch Hãn ở gần chùa;
xướng thơ thiền
và viết thư họa; thiền
trà và pháp thoại… Các hoạt động này có thể tạo thành
tuần văn hóa Phật giáo trong Lễ hội Vì Hòa bình tỉnh Quảng Trị.
Bảo tồn di tích, giữ gìn văn hóa lễ hội của ngôi tổ đình Sắc Tứ Tịnh Quang là điều cần thiết. Tích hợp du lịch cũng là một việc làm nhằm quảng bá hình ảnh tỉnh nhà, phát triển
dịch vụ, tạo thêm công ăn việc làm cho người dân. Hơn thế, để tương xứng với vị thế của một ngôi tổ đình, các lễ
hội truyền thống cần được nâng tầm và gắn với ý nghĩa nguyện cầu mưa
thuận gió hòa, quốc thái dân an; đồng thời thu hút đồng hương, đồng bào hướng
về đất tổ và có những đóng góp xây dựng quê hương.
N.Q
