Giới thiệu
Tin tứcSự kiện & Đối thoại
Sáng Tác
Nghệ thuật
Lý luận & Phê bìnhNgười & Đất quê hương
MultiMedia
Zalo

Người Pa Kô

HOÀNG ĐÌNH BƯỜNG    04/05/2026    39
“Người con gái Pa Kô con cháu Bác Hồ/ Dù gian khổ, vượt núi, băng rừng/ Dù mưa bom em vẫn không ngại chi/ Đi đánh Mỹ giữ lấy núi rừng…”. Lời bài hát ấy đã ghi danh dân tộc Pa Kô vào bản hùng ca của đất nước từ thời kháng chiến chống Mỹ, vang vọng mãi đến tận bây giờ. Người Pa Kô nổi tiếng với niềm tin sắt son vào Đảng và Bác Hồ, coi đó là lẽ sống cao đẹp. Một dân tộc thiểu số với khoảng 40.000 người, sinh sống giữa đại ngàn Trường Sơn từ Hướng Hóa (Quảng Trị) đến A Lưới (phía tây thành phố Huế), nhưng đã chiến đấu dũng cảm trong kháng chiến chống Mỹ, đóng góp to lớn vào sự nghiệp giải phóng quê hương.


Dân tộc này nhiều tên gọi như Pa Kô, Pa Hi, Ôi, Uốt, Kan Tua… Nhưng cái tên Pa vẫn được nhắc đến nhiều nhất, lẽ bởi sự gắn kết thiêng liêng với hình ảnh “con cháu Bác Hồ”. Đơn vị tôi - Trung đoàn Phú Xuân - đã gắn với người Pa suốt 10 năm ròng (1965 - 1975). Đó là những năm tháng chung chia gian khổ, nhường cơm sẻ áo, chia lửa, chia máu trên chiến trường Trị - Thiên khốc liệt. một người chiến trực tiếp lăn lộn trên chiến trường ấy, những kỷ niệm về người Pa Kô trong tôi luôn sống động như những thước phim tư liệu.

Dọc đường chiến trận thuy, đâu đâu cũng thấy bóng dáng người Pa . H là chiến sĩ quân giải phóng, n quân du kích, thanh niên xung phong, n công vận tảikhông quản ngại khó khăn nguy hiểm, đạn bom ác liệt đ tham gia kháng chiến. Có những thiếu niên mới 14, 15 tuổi đã có mấy m băng rừng cùng b đội tải thương, vận chuyển vũ khí.

người nói, cả dân tộc Pa đã biên chế chính thức trong đội ngũ cách mạng điệp trùng. Anh hùng lực lượng trang nhân dân Hồ Vai Hồ Kan Lịch minh chứng sống động nhất cho thành tích chiến đấu dũng cảm của người Pa Kô. Tin tưởng tuyệt đối vào Đảng, Bác Hồ cách mạng gần như là một thuộc tính bẩm sinh của người Pa Kô. Phẩm chất ấy ánh ngời như ngọc, quý hơn vàng, lan tỏa giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ.

Thời y, i đói nghèo cơ cực đeo m đồng o quanh năm. Bữa ăn hằng ngày chlà nồi cháo hlốn “Tà lục tà lạovới ngô, khoai, rau, sắn. Chiến tranh không dệt được vải, h thường mặc quần áo b đội hoặc trang phục của c btộc o n biên giới. Chống chọi với muỗi rừng, vắt và cái t đại ngàn ch có thuốc lá Tà Ôi, t ch thiên và bếp lửa. y bay OV10 luôn m ngó sẵn sàng gọi y bay cường kích dội bom, pháo. Vì thế, già tri trai sống chui c trong những lều n dựng dưới n rừng thâm u. Gầy guộc, đen đúa, khô quắt vì gian khnhưng ánh mắt người Pa Kô bao gi cũng rực sáng, n cười bao gi cũng hồn hậu, hiền lành d mến.

Niềm tin tuyệt đối vào Đảng, vào Bác Hồ và cách mạng của người Pa đôi khi chân chất đến quyết liệt. Tôi nhớ đầu tháng 9 năm 1972, đoàn vận tải từ mặt trận đến dốc Ông Già xuống Khe Rùa nghỉ chân, chuẩn bị vượt dốc Thanh Niên lên viện 94 thì gặp sự cố. Nhóm vận tải người Pa Kô khi phát hiện mình đang khiêng cáng cho thương binh phía bên kia chiến tuyến đã thẳng thừng từ chối: “Hắn là giặc, để cho hắn chết. Mình không cáng hắn lên viện mô…”. Trước phản ứng y, đoàn phải mất nhiều thời gian giải thích, thuyết phục bố trí đổi người khiêng, họ mới đồng ý để đoàn tiếp tục lên đường.

Một lần khác anh cán bộ vào bản tuyên truyền: “Cách mạng đang bước vào giai đoạn mới, sắp chiến thắng. Thế ta thế đi lên…”. Nghe vậy, một cụ già phản ứng ngay: “Không được. Mình không đồng ý. Thế cách mạng phải đi xuống mới mau thắng lợi. Đi lên mệt hung, lâu lắm! Không ưng cái bụng mô”. Cái lý lẽ tưởng chừng ngây ngô ấy lại cho thấy sự thật thà, hết lòng muốn thắng giặc thật nhanh để có hòa bình.

K niệm u đậm nhất là lần i cùng hai đồng đội hành quân gặp cơn mưa rừng đầu a xối xả. Khe suối ngập nước n tới i t khiến c lối vmặt trận đều bchặn. Gạo mang theo đã cạn, chn ít muối, con dao găm, bật lửa và chiếc ăng-gô. Chúng i quyết định ghé o chòi M Hường tá túc, ngớt a stiếp tục hành quân vđơn vị. Chòi MHường là một dãy n liền k nhau, ngăn cách bởi vách nứa và có bếp riêng. n chúng tôi nghchcó hai ông bà già, con cháu đều đi m cách mạng. Sau khi chúng i trình y lý do xin o n tá túc, Aam (bố) và Ay (mẹ) vui v nhận lời. Mươi phút sau, một nồi cháo “Tà lục tà lạovới măng rừng, sắn, ngô và ớt ch thiên được bắc n bếp. Nồi cháo chín, c nhà cùng ngồi ăn vô cùng đầm ấm, vui vẻ. Những đêm ở lại chòi, chúng i đã được sưởi m giữa mùa a đói rét. Những đêm y, tiếng đàn Ta Lư và nhịp nhảy a của đám trđi m cách mạng vvang vọng ở khu vực chòi, vui đáo để. Bài thơ “Nhật kí s20in trong tập “Điểm danhlà nỗi niềm m trạng của tôi gắn với k niệm này:

…Nhớ cảnh nhớ người nơi làng bản

Aam lên núi bẻ măng ngàn

Ay bì bõm bên suối vắng

Củ sắn, rau rừng… Tấm lòng son

Miền Tây, miền Tây! Tình sâu nặng

Kỉ niệm giăng vương những lối mòn…

(Nam Đông - Khe Tre, 1972)

Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, những người cùng thời chúng tôi phần lớn đã thành “người thiên cổ”. Trở lại các làng bản Pa ngày nay tại Lao Bảo, La Lay, tôi ngỡ ngàng trước sự thay đổi. Dân trí cao hơn, cuộc sống sung túc, no đủ hơn. Người Pa nay đã làm chủ mảnh đất của mình bằng cách vươn lên phát triển kinh tế, tự tin hướng tới tương lai.

Nhân kỷ niệm 60 năm thành lập Trung đoàn 6 - Phú Xuân (10/10/1965 - 10/10/2025), tôi cùng đồng đội đã đến viếng ngôi đền thờ hơn 13.000 liệt sĩ của đơn vị tại Ba Lòng, tỉnh Quảng Trị. Trong số cán bộ chiến Trung đoàn 6 hy sinh có nhiều người Pa Kô là đồng đội tôi. Giữa làn khói hương nghi ngút, tôi lặng người nhìn những bạn trẻ Pa Kô trong sắc áo xanh tình nguyện đang thành kính thắp nhang. Người Pa Kô xưa nay vẫn thế, vẫn trọn vẹn nghĩa tình với Đảng, với Bác Hồ. Đúng như lời ca năm nào người Pa Kô “con cháu Bác Hồ”.

H.Đ.B