1. Đôi nét về làng Cổ Trai và chùa Lam Sơn
Làng Cổ Trai nằm ở
bờ bắc sông Minh Lương/Hiền Lương/Bến Hải, sát nách với làng Tùng Luật - nơi có
cửa biển Tùng Luật/Cửa Tùng thông ra biển. Tên làng Cổ Trai Quảng Trị trùng với
tên làng Cổ Trai - quê gốc của họ nhà Mạc (1528 - 1592) thuộc huyện Nghi Dương,
phủ Kinh Môn, xứ Hải Dương.
Vùng đất châu Minh Linh được người Việt vào khai phá trên
cơ sở đất đai của người Chăm từ rất sớm dưới thời Lý, khi châu Ma Linh đổi
thành châu Minh Linh (1075), đặt quan cai trị, chiêu mộ nhân dân đến khai thác.
Làng Cổ Trai là một trong những làng cổ được hình thành trong khoảng thời gian
cuối thời Trần và thời Hồ. Sách Ô châu cận lục (1555)
liệt kê 65 xã/làng châu Minh Linh thời Lê - Mạc có tên làng Cổ Trai cùng các
xã/làng liền kề là: Tân Sài (Tân Trại thượng, hạ), Tùng Luật, Minh Ái (Minh
Lương/Hiền Lương)1 thuộc
châu/huyện Minh Linh, phủ Tân Bình. Thời chúa Nguyễn, Cổ Trai thuộc tổng Minh
Lương, huyện Minh Linh. Thời Nguyễn, Cổ Trai vẫn thuộc tổng Minh Lương/Hiền Lương,
huyện Minh Linh/Vĩnh Linh. Trước tháng 6/2025, Cổ Trai thuộc xã Vĩnh Giang,
huyện Vĩnh Linh; hiện nay, thuộc xã Cửa Tùng, tỉnh Quảng Trị.
Người
dân Cổ Trai bao đời chuyên sống bằng nghề đánh bắt thủy hải sản (chủ yếu là
trên sông Hiền Lương) và khai thác lợi thế trồng trọt trên vùng đồi đất đỏ
bazan. Trong quá trình phát triển, làng Cổ Trai phân thành 2 phe là Cổ Trai
Đông và Cổ Trai Tây.
Người
dân làng Cổ Trai xưa nay tôn vị thủy tổ họ Lê là Tiền khai khẩn. Sau họ Lê, các
dòng họ được coi là họ chính của làng là Ngô, Nguyễn, Hoàng, Trần.
Đầu thế kỷ XX, khi L.Cadière nghiên cứu về một số vấn
đề của ngôi làng này đã tiếp cận được một cuốn gia phả gọi là “Phổ hệ Cổ Trai”
do làng lưu giữ và liên tục được bổ sung mà theo ông thì được biên chép vào 2
lần: 28 tháng 5 năm Bảo Thái thứ 6 (8/7/1725) và ngày 2 tháng 11 năm Cảnh Hưng
thứ 26 (13/12/1765)2. Cuốn gia phả này
chủ yếu đề cập đến phổ hệ của dòng Hoàng phi Hiếu Văn (tức Mạc Thị Giai) và khi
đã được chuyển đổi quốc tính từ Mạc sang Nguyễn - vốn được coi là có gốc gác từ
làng Cổ Trai.
Tư
liệu và gia phả họ Ngô (họ chính của làng hiện nay) xác nhận làng Cổ Trai có
gốc từ làng Cổ Trai ngoài Bắc - làng Cổ Trai đại hương thuộc huyện Nghi Dương,
phủ Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Bộ phận cư dân lập nên làng Cổ Trai thuộc về họ
Mạc nhưng nay ở làng Cổ Trai không có họ Mạc do đã chuyển đổi danh tánh sang họ
Ngô.
Như vậy, trước khi Mạc Cảnh Huống đi theo Nguyễn Hoàng
vào cư ngụ tại làng Cổ Trai thì bộ phận cư dân Việt đến từ đất Bắc đã định cư
trước đó ở làng Cổ Trai, trong đó có nhóm cư dân mang họ Mạc đến từ làng Cổ
Trai gốc ở Nghi Dương, Kinh Môn. Tên làng Cổ Trai được đặt theo tên của quê gốc
ở Hải Dương - nơi phát tích họ Mạc đã nói lên điều đó. Họ Mạc không được coi là
Tiền hay hậu Khai khẩn có thể đến sau họ Lê và một vài họ khác trong thời gian
đầu khai phá đất đai, tạo lập ra làng Cổ Trai mà coi thời điểm khi chuyển thành
họ Ngô từ ông Thủy tổ Kiều chắc có nguyên nhân từ lịch sử buộc phải quên đi các
thế hệ trước đó. Việc coi ông Kiều, bà Kiều là người “có công lập ra làng Cổ
Trai” có lẽ là do bà Hiếu Văn đã cúng cho làng một trăm quan tiền, một món tiền
lớn trong thời đại của bà theo như hương sử Cổ Trai được L.Cadière dẫn ra thì
đó chính là công lao rất lớn “nhờ có Đức bà vợ của Sãi Vương mà có được tiếng tăm
rạng rỡ”3 để được trọng
vọng, vinh danh và đưa vào hương sử, kể cả việc thờ cúng.
Ngày 15/5 hàng năm, làng Cổ Trai làm lễ kỵ các vị
Thành hoàng và những vị nhân thần của làng đều có việc dâng cúng và sớ văn nói
đến 3 nhân vật họ Mạc là Mạc Cảnh Huống, bà Hiếu Văn cùng người con gái của bà
Hiếu Văn4.
Trên đất làng Cổ Trai từng có một ngôi chùa mang tên là
chùa Lam Sơn. Về sau đổi là Quang Cổ tự rồi chuyển thành chùa Cổ Trai. Ngôi
chùa này do Mạc Cảnh Huống khởi lập trước 1593, dùng làm nơi ẩn cư và tu đạo.
Gia
phả họ Ngô làng Cổ Trai xác nhận Mạc Cảnh Huống là người mộ đạo Phật đã lập
chùa Lam Sơn ở làng Cổ Trai, sau đổi Quang Cổ tự, tức chùa Cổ Trai.
Mạc
Cảnh Huống là một trong những cộng sự đắc lực, trung thành với chúa. Hương sử
của làng Cổ Trai, mặt khác cũng nói rằng ông là một đệ tử hăng hái của Phật tổ.
Sau
khi nhà Mạc bị đánh đổ, năm 1593, Quận chúa họ Mạc là Mạc Thị Giai đã đến nương
náu tại Cổ Trai với chú ruột là Mạc Cảnh Huống ở chùa Lam Sơn.
Khi
cả Mạc Cảnh Huống và bà Hiếu Văn qua đời, khu đất chùa Lam Sơn trở thành đất
hương hỏa và con cháu cùng dân làng Cổ Trai chuyển thành ngôi đền/miếu thờ cả
Mạc Cảnh Huống, bà Hiếu Văn cùng với một người con gái của bà (có lẽ là Quận
Thanh Nguyễn Ngọc Liên - vợ của Nguyễn Phúc Vinh/Ban là con của Mạc Cảnh
Huống).
Năm
Minh Mệnh thứ 5 (1824), ngôi đền/miếu thờ được triều đình Huế cho đổi thành
chùa mang tên là Quang Cổ tự.
Sách Đại Nam nhất thống chí triều Tự Đức
chép: “Chùa Cổ Trai ở xã Cổ Trai, huyện Minh Linh, xã này là
quê hương của Hiếu Khang hoàng hậu bản triều, sau khi hoàng hậu mất, người xã
lập miếu thờ, năm Minh Mệnh thứ 5 đổi làm chùa Phật”5.
Đầu thế kỷ XX, ngôi đền/miếu thờ bà Hiếu Văn (kể cả
Mạc Cảnh Huống và người con gái của bà Hiếu Văn) đã không còn. Theo L.Cadière
thì có một nhà thờ ở trong làng nay chỉ còn lại cái nền, xưa là một ngôi chùa
thờ Phật đã được cải tạo để thờ cúng vong linh bà. Cũng theo L.Cadière, dẫn lời
của ông Tiên chỉ làng Cổ Trai lúc tìm hiểu ngôi chùa thì: “Trong làng,
chúng tôi chỉ biết bà Hiếu Văn mà chúng tôi làm lễ vào ngày 9-11ÂL, tại một đền
thờ hiện nay đã bị hủy hoại”6.
Như vậy, Mạc Cảnh Huống lập chùa Lam Sơn, sau đó là
nơi ẩn náu của Quận chúa nhà Mạc là Mạc Thị Giai, tức bà Hoàng hậu Hiếu Văn và
cũng là nơi tu đạo của ông. Về sau, chùa Lam Sơn được dân làng Cổ Trai dành để
thờ cúng bà Hiếu Văn nên gọi là đền/miếu thờ. Thời Nguyễn (Minh Mệnh thứ 5 -
1824) thì chuyển lại thành chùa.
2.
Mạc Thị Giai - sợi dây liên kết gia tộc Nguyễn - Mạc
Mạc
Thị Giai là cháu gái của Mạc Cảnh Huống - một trong những công thần của chúa
Nguyễn trong buổi đầu khởi nghiệp tại xứ Thuận Hóa.
Sử
chép là buổi đầu Nguyễn Hoàng làm trấn thủ Thuận Hóa, đóng dinh/doanh trại ở Ái
Tử huyện Vũ Xương được nhiều người phò tá, trong đó nổi bật là Uy Quốc công
Nguyễn Ư Dĩ (cậu Nguyễn Hoàng), Luân Quận công Tống Phước Trị (Trấn thủ Thuận
Hóa cũ, cùng quê ở Gia Miêu, Tống Sơn) và Thống binh Mạc Cảnh Huống.
“Tống Phước Trị làm quan
nhà Lê, trấn thủ Thuận Hóa, tước Luân Quận công. Làm chính sự khoan hòa. Trị
được trăm họ yêu mến, gọi là “Bản xứ công”. Thái tổ Hoàng đế vào trấn thủ Thuận
Hóa. Trị dâng ngay sổ sách bản đồ trong cõi, rồi cùng Uy Quốc công Nguyễn Ư Dĩ và Thống binh Mạc Cảnh Huống
đồng lòng hết sức giúp nhà chúa”7.
Mạc
Cảnh Huống theo Nguyễn Hoàng có nguyên do từ mối thâm tình bên vợ và Nguyễn
Hoàng thu nhận Mạc Cảnh Huống cũng vì mối quan hệ đó.
Vợ
của Mạc Cảnh Huống họ Nguyễn - Nguyễn Thị Ngọc Dương, với vợ của Nguyễn Hoàng
là hai chị em ruột, quê Thanh Hóa. Chính quan hệ cùng rể một nhà (tức bạn cọc
chèo) giữa Mạc Cảnh Huống và Nguyễn Hoàng giữa thời buổi một Trấn thủ đang được
vua Lê, chúa Trịnh trọng dụng ở một vùng đất mới với nhiều khao khát về việc
tách khỏi Đàng Ngoài để xây dựng một cơ nghiệp mới với một hoàng thân của một
gia tộc đã hết thời được coi là phản tặc đã kết nối họ để hướng theo một xu thế
mới. Và cũng từ mối quan hệ này, trong đó vai trò của bà Nguyễn Thị Dương (vừa
là thím ruột của quận chúa Mạc Thị Giai vừa là dì của thế tử Nguyễn Phúc
Nguyên) đã tạo điều kiện để Mạc Cảnh Huống đưa cháu ruột của mình mang dòng máu
họ Mạc trở thành con dâu của Nguyễn Hoàng - vợ của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên
để rồi sau đó trở thành Hoàng hậu Hiếu Văn mang danh tính họ Nguyễn và những
người con của Mạc Cảnh Huống cũng được ban quốc tính họ Nguyễn, tham gia vào
chính quyền nhà chúa và giữ những chức vụ quan trọng. Điều này cũng lý giải vì
sao một vương thất nhà Mạc lại đi theo phò tá chúa Nguyễn, một công chúa nhà
Mạc lại trở thành con dâu/vợ và là mẹ của các chúa Nguyễn.
Mạc Thị Giai sinh năm Mậu Dần (1578), mất ngày 9/11
năm Canh Ngọ (12/12/1630), thọ 53 tuổi, vợ của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên - ở
ngôi chúa 22 năm (1618 - 1635). Tôn phổ nhà Nguyễn ghi bà tên Giai, thuộc dòng
họ Nguyễn, gốc làng Nghi Dương, tỉnh Hải Dương. Khi mất được Võ Vương cất lên
hàng phi. Gia Long phong cho tước hiệu Huy Cung Từ Thân An Thục Thuận Trang
Hiếu Văn Hoàng Hậu (Nguyễn Phúc Nguyên được tôn là Hiếu Văn Hoàng Đế) thờ vào
Thái Miếu8.
Đầu thế kỷ XX, L.Cadière đã tiếp cận được cuốn hương
phả Cổ Trai huyện Minh Linh mà ông gọi là Phổ hệ của Hoàng Phi Giai ghi chép từ
Mạc Khiêm Vương (đời thứ nhất) và người con gái là Đức Bá Giai Nguyễn Thị Ngọc
Giai9 (đời thứ 2), cho
thấy bà Nguyễn Thị Giai còn có tên là Nguyễn Thị Ngọc Giai, vốn có gốc từ họ
Mạc là Mạc Thị Giai được chúa ban quốc tính để chuyển thành họ Nguyễn cũng như
chi nhánh họ Mạc của Mạc Cảnh Huống chuyển từ đời con của ông là Nguyễn
Phúc/Hữu Vinh. L.Cadière cho rằng Đức Bá Giai với ý là “vợ thứ của ông Hoàng
tử”, may nhờ có người con trai thành Công Thượng Vương nên gọi là Hoàng phi, về
sau phong là Hoàng hậu10.
Mạc Thị Giai gốc họ Mạc, con gái Khiêm Vương Mạc Kính
Điển, cháu nội Mạc Đăng Doanh. Mạc Kính Điển mất năm 1580 thì 12 năm sau
(1592), nhà Mạc mất ngôi phải dạt lên Cao Bằng. Vì để tránh họ Trịnh ở Đàng
Ngoài, vị Quận chúa nhà Mạc đã theo chú ruột Mạc Cảnh Huống, lúc này đang phò
tá Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng, vào Thuận Hóa. Thời điểm Mạc Thị Giai có mặt
tại Thuận Hóa trong khoảng những năm 1592 hoặc 1593. Cùng đi theo vào Thuận Hóa
còn có người em của bà Giai mà theo Phổ hệ Hoàng Phi Giai ở làng Cổ Trai thì bà
này là bà Vải Đô Nguyễn Thị Ngọc Lâu, tức là bà Mạc Thị Ngọc Lâu. Bà này về sau
cũng được mang danh tánh họ Nguyễn. Hai chị em Mạc Thị Giai đến làng Cổ Trai
với chú là Mạc Cảnh Huống và người bà cô bác là “Quý bà Kiều” - vốn đã ở tại
làng Cổ Trai. Phổ hệ nhà Nguyễn cũng có chú là “theo chú là Mạc Cảnh Huống và
theo người bà con vào Đàng Trong”11.
Theo sử triều Nguyễn cũng như Hương sử làng Cổ
Trai huyện Minh Linh thì khi vào Thuận Hóa, bà nương náu tại chùa Lam Sơn ở
làng Cổ Trai, huyện Minh Linh (ngôi làng đã có từ trước đó rất lâu và có một bộ
phận dân họ Mạc) do Mạc Cảnh Huống lập ra trước đó. Lúc này, bà mới 15 tuổi.
Trong thời gian ở chùa Lam Sơn, làng Cổ Trai với Mạc Cảnh
Huống, không chỉ nhờ vào vị thế, vai trò của người chú ruột với chúa Tiên
Nguyễn Hoàng mà còn cậy vào quan hệ của vợ ông - vốn là chị cả của Nguyễn Hoàng - bà Nguyễn Ngọc Dương - tức dì ruột
của Sãi Vương và cũng là thím của bà Mạc Thị Giai mà tình cảm hai nhà càng gắn
bó. Chính điều đó đã tạo điều kiện để cuộc hôn nhân giữa Sãi Vương với Quận
chúa nhà Mạc nhen nhóm và kết nối. Mạc Cảnh Huống gả cháu gái cho Sãi Vương lúc
Sãi Vương còn là Thái tử. Phổ hệ nhà Nguyễn chép: “Bà vợ của Huống là Nguyễn
Ngọc Dương, dì của Hiếu Văn đưa đến trình diện với chúa. Nhờ cung cách đoan
trang, được mang họ hoàng tộc”12. Sãi Vương sau này đã gả gái đầu Tài Nhân cho con
trai đầu của Mạc Cảnh Huống là Vinh - người đã đổi họ Mạc sang họ Nguyễn.
Mối
quan hệ chằng chéo, đan xen về hôn nhân giữa các dòng Trịnh - Nguyễn, Mạc -
Nguyễn đã từng xảy ra và chính nó đã trở thành sợi dây liên kết chặt chẽ giữa
các gia tộc đối địch trong cuộc tranh giành quyền lực trong thế kỷ XVI, XVII.
Trịnh Kiểm lấy Ngọc Bảo, con gái Nguyễn Kim, chị Nguyễn Hoàng nhưng Nguyễn
Hoàng lại nơm nớp lo sợ anh rể và tìm cách thoát khỏi vòng cương tỏa để vào
Nam. Năm 1600, khi trốn về Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng đã để lại Thăng Long con
trai là Nguyễn Hải, cháu nội là Nguyễn Hắc để làm con tin; lại gả con gái Ngọc
Tú cho Trịnh Tráng, con lớn của Trịnh Tùng làm Tây cung. Con của Ngọc Tú là
Ngọc Trúc thành Hoàng hậu của vua Lê Thần Tông… Anh của Mạc Cảnh Huống là Mạc
Phúc Hải từng bị Nguyễn Hoàng đánh đại bại tại huyện Ngọc Sơn năm 1545 khi còn
là Hạ Khê hầu và chính Nguyễn Hoàng từ năm 1593, khi trở lại đất Bắc và ở lại 8
năm để giúp chúa Trịnh Tùng đánh dẹp quân nhà Mạc. Năm 1572, nhà Mạc do tướng
Mạc Lập Bạo tiến đánh Thuận Hóa bị quân Nguyễn Hoàng đánh cho đại bại. Hòa rồi
lại chiến, liên minh tạm thời để giành thế lực nhưng khi lợi ích bị xâm hại,
lại đánh nhau. Mạc Kính Cung, con Kính Điển, anh Hoàng hậu Hiếu Văn, rồi Mạc
Kính Khoan, cháu nội Kính Điển, cháu gọi Hiếu Văn bằng cô từng ngỏ ý cùng với
Nguyễn Phúc Nguyên đánh Trịnh. Rồi khi họ Trịnh đánh vào Đàng Trong thì cháu
nội Hiếu Văn là Nguyễn Phúc Tần sai người ra dụ Mạc Kính Hoàn ở Cao Bằng kéo
quân về đánh họ Trịnh… Ngay cả khi anh em họ Nguyễn bất hòa, lại cậy nhờ họ
Trịnh để đánh nhau như: sự kiện 1620, Hiệp và Trạch - 2 người em của chúa Sãi
Nguyễn Phúc Nguyên nổi loạn đã ngầm gửi thư cho Trịnh Tráng là em rể của chúa
Sãi đưa quân đến vùng sông Nhật Lệ để đánh chúa Sãi; khi Công Thượng Vương mất,
Hiền Vương lên ngôi chúa, người chú là Trung (gọi là Chưởng Trung), em của Công
Thượng Vương đã quan hệ với Tống thị, vợ thứ của Thế tử Kỳ và liên lạc, mặc cả
với họ Trịnh, bị Hiền Vương tống ngục cho đến chết…
Chính trong cuộc cờ giằng co của thời cuộc đó, Mạc
Cảnh Huống đã theo Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa. Và chính Mạc Cảnh Huống là quân
bài để hóa giải những nước cờ cho cả hai phía để tạo ra những tiền đề cho công
cuộc mở cõi của chúa Nguyễn. “Khi bất hòa bắt đầu giữa 2 nhà thì người của Nguyễn
nghiêng về phía Trịnh và coi Mạc là kẻ thù chung. Tuy nhiên, sự quay ngược
chính sách của Nguyễn dường như đã phát sinh từ những thập niên đầu thế kỷ
XVII. Trịnh sợ nhất là sự liên kết giữa Nguyễn Đàng Trong với Mạc ở Cao Bằng sẽ
đe dọa Trịnh Thăng Long. Chính sách Nguyễn như thế là đương nhiên. Nó đã xuất
phát theo tình thế phù hợp”13. Việc Mạc Cảnh
Huống gả cháu gái của mình cho con trai chúa Tiên có thể coi là một nước cờ
chính trị trong mối quan hệ hôn nhân đầy toan tính. Khi mà nhà Mạc vẫn đang còn
hùng cứ ở Cao Bằng (1592 - 1625) thì quan hệ hôn nhân giữa Mạc Thị Giai với
Nguyễn Phúc Nguyên là mối lo sợ của Trịnh Tùng về sự liên kết giữa Nguyễn -
Mạc.
Mạc Cảnh Huống là nhân vật đặc biệt có gốc xuất thân
hoàng tộc nhà Mạc, nhưng lại được vinh danh là khai quốc công thần của nhà
Nguyễn, một trong những triều đại chính thống sau này. “Sự chuyển
hướng ấy, nhìn từ một khía cạnh khác, là biểu hiện sinh động cho tinh thần
khoan hòa và dung hợp của lịch sử Việt Nam, nơi công lao và nhân cách được đặt
trên tông tích và dòng dõi. Cuộc đời của ông cũng cho thấy cách một con người
có thể hóa giải mọi định kiến lịch sử bằng tài năng, lòng trung thành và sự hi
sinh âm thầm. Từ một hoàng tử bị thất sủng, ông đã trở thành người vạch chiến
lược cho công cuộc Nam tiến, gây dựng nền móng cho Đàng Trong, góp phần làm nên
sự ổn định cho một vương triều kéo dài gần bốn thế kỷ”14. Mạc Thị Giai là
quận chúa của nhà Mạc nhưng lại là con dâu của chúa Tiên Nguyễn Hoàng, vợ của
chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên và được phong Hiếu Văn Hoàng Hậu.
Mạc
Thị Giai - Hiếu Văn Hoàng Hậu có 11 con trai, 4 con gái. Người con trai đầu là
Kỳ (còn gọi là Khánh Quận công), con gái đầu là Liên. Con trai thứ tên là Lan,
tức Công Thượng vương (ở ngôi chúa 1635 - 1648) và con trai tên An cùng hai con
gái là Ngọc Vạn và Ngọc Khoa. Hai con trai khác là Trung người đã nổi dậy chống
anh ruột Công Thượng vương khi Công Thượng vương lên ngôi và một người tên là
Nghĩa.
Sau
khi mất, bà Hiếu Văn được an táng tại làng Chiêm Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnh
Quảng Nam - nơi mà từ 1614 Nguyễn Phúc Nguyên làm trấn thủ Quảng Nam; sau năm
1630, Quảng Nam do Kỳ, con trai trưởng bà Hiếu Văn làm trấn thủ. Mộ có tên là
Vĩnh Điển. Bà được thờ chung với Sãi Vương trên bàn thờ thứ nhất bên trong điện
Thái Miếu.
Tại làng Cổ Trai, Quảng Trị, nơi bà từng nương náu những ngày đầu vào Thuận Hóa với chú Mạc Cảnh Huống ở chùa Lam Sơn, nhân dân lập miếu thờ bà Hiếu Văn cùng với một người con gái của bà (có lẽ là Quận Thanh Nguyễn Ngọc Liên - vợ của Nguyễn Phúc Vinh/Ban là con của Mạc Cảnh Huống).
Trong thời gian 68 năm, chúa Tiên Nguyễn Hoàng và chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên đóng dinh phủ tại Ái Tử - Trà Bát của huyện Vũ Xương (1558 - 1626), khi trở thành vợ của Nguyễn Phúc Nguyên, phu nhân họ Mạc là Mạc Thị Giai đã cùng chồng đi ủy lạo binh lính và nhân dân trong vùng, có những chính sách giúp đỡ người dân khai phá, canh tác đất đai và thiết lập nên một số làng xóm mới kề cận dinh chúa. Vì những công lao đó, cả một vùng quanh Ái Tử/Dinh Cát đều tôn thờ bà và tấn phong làm Thành Hoàng làng - một trường hợp hiếm có của nền quân chủ Nho giáo - trong đó có làng An Mô. Hiện nay, trong khuôn viên chùa làng An Mô, đối diện với Miếu Khai Khẩn thờ lục tộc thủy tổ có ngôi miếu thờ Thành hoàng Mạc Thị Giáo. Việc đọc trại tên bà từ Giai thành Giáo chắc có nguyên nhân từ thời kỳ về sau, khi việc thờ cúng được xem xét một cách cẩn trọng và cho phép từ triều đình Huế, cũng như việc chuyển từ miếu thờ bà ở Cổ Trai thành chùa Quang Cổ và miếu thờ chúa Tiên Nguyễn Hoàng ở Cồn Tiên chuyển thành chùa Long Phước vậy! Hàng năm, dân làng An Mô tổ chức tế lễ vào ngày 15/6 Âm lịch tại đình làng.
* * *
Làng Cổ Trai ở Quảng Trị là một làng có quá trình hình
thành từ khá sớm từ các cuộc di dân vào vùng đất mới dưới thời Trần - Hồ với
công lao của nhiều dòng họ ra đi từ đất Bắc, trong đó có dòng họ Mạc có gốc gác
từ huyện Nghi Dương, phủ Kinh Môn, tỉnh Hải Dương - nơi phát tích họ Mạc và
vương triều Mạc. Tên làng gốc Cổ Trai được các nhóm lưu dân mang theo và
đặt tên tại vùng Minh Linh và cũng là nơi chứa nhiều ẩn tích về dòng họ Mạc đã
nói lên tất cả.
Làng
Cổ Trai ở Quảng Trị gắn bó mật thiết với hành trạng của Thống binh Mạc Cảnh
Huống, Quận chúa Mạc Thị Giai và những mối quan hệ thân tộc qua con đường hôn
nhân giữa Mạc - Nguyễn trong bối cảnh chính trị phức tạp ở thế kỷ XVI - XVII có
thể được coi là nơi dung dưỡng những khát vọng hướng theo một xu thế mới; là biểu
hiện sinh động cho tinh thần dung hợp, khoan hòa của lịch sử Việt Nam; tạo ra
được những tiền đề gây dựng nền móng cho sự đồng thuận trên hành trình mở cõi;
góp phần làm nên sự ổn định và phát triển cho một thời kỳ chúa Nguyễn và vương
triều Nguyễn kéo dài gần bốn thế kỷ.
Và
không chỉ thế, những dấu tích lịch sử, văn hóa trải qua nhiều giai đoạn từ Chăm
đến Việt, từ quá khứ đến hiện tại ở làng Cổ Trai xứng đáng được nghiên cứu, bảo
tồn và phát huy; trong đó có chùa Lam Sơn/Quang Cổ tự/chùa Cổ Trai - nơi từng
có đền thờ công thần Mạc Cảnh Huống, Hoàng hậu Hiếu Văn đáng được coi là di
tích lịch sử, văn hóa và cần được đầu tư tôn tạo.
Y.T
__________________
1 Dương Văn An, Ô Châu cận lục, Văn Thanh - Phan
Đăng dịch và chú giải, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.46.
2, 9, 10 L.Cadière, Phổ hệ của Hoàng Phi Giai vợ của Sãi Vương, Những người bạn
cố đô Huế, B.A.V.H, tập XIII, 1943, Nxb Thuận Hóa, 2015, tr.608 - 610, tr.624,
tr.636 - 637.
3, 4, 6, 13 L.Cadière, Về bà vợ của Sãi Vương, Những người bạn
cố đô Huế, B.A.V.H 1922, tập IX, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2001, tr.262 - 269,
tr.258, tr.269.
5 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 1, Bản dịch của Viện
Sử học, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1992, tr.206 - 207.
7 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện tiền biên,
Viện Sử học dịch, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1993, tr.76.
8, 11, 12 Tôn Thất Hân, Phổ hệ nhà Nguyễn trước Gia Long, Những
người bạn cố đô
Huế, B.A.V.H, tập VII, 1920, Nxb Thuận Hóa, 2001, tr.405.
14 Mạc Cảnh Huống - Vị khai quốc công thần thầm lặng thời
nhà Nguyễn. ASEAN News - Tạp Chí Đông Nam Á, tháng 8/2025.
