Giới thiệu
Tin tứcSự kiện & Đối thoại
Sáng Tác
Nghệ thuật
Lý luận & Phê bìnhNgười & Đất quê hương
MultiMedia
Zalo

Làng Cổ Trai Quảng Trị và Mạc Thị Giai - Sợi dây liên kết gia tộc Nguyễn - Mạc trong cuộc tranh giành quyền lực thế kỷ XVI - XVII

YẾN THỌ    04/05/2026    23
Làng Cổ Trai nằm ở bờ bắc sông Minh Lương/Hiền Lương/Bến Hải, sát nách với làng Tùng Luật - nơi có cửa biển Tùng Luật/Cửa Tùng thông ra biển. Tên làng Cổ Trai Quảng Trị trùng với tên làng Cổ Trai - quê gốc của họ nhà Mạc (1528 - 1592) thuộc huyện Nghi Dương, phủ Kinh Môn, xứ Hải Dương.

1. Đôi nét về làng Cổ Trai và chùa Lam Sơn

Làng Cổ Trai nằm ở bờ bắc sông Minh Lương/Hiền Lương/Bến Hải, sát nách với làng Tùng Luật - nơi có cửa biển Tùng Luật/Cửa Tùng thông ra biển. Tên làng Cổ Trai Quảng Trị trùng với tên làng Cổ Trai - quê gốc của họ nhà Mạc (1528 - 1592) thuộc huyện Nghi Dương, phủ Kinh Môn, xứ Hải Dương.

Vùng đất châu Minh Linh được người Việt vào khai phá trên cơ sở đất đai của người Chăm từ rất sớm dưới thời Lý, khi châu Ma Linh đổi thành châu Minh Linh (1075), đặt quan cai trị, chiêu mộ nhân dân đến khai thác. Làng Cổ Trai là một trong những làng cổ được hình thành trong khoảng thời gian cuối thời Trần và thời Hồ. Sách Ô châu cận lục (1555) liệt kê 65 xã/làng châu Minh Linh thời Lê - Mạc có tên làng Cổ Trai cùng các xã/làng liền kề là: Tân Sài (Tân Trại thượng, hạ), Tùng Luật, Minh Ái (Minh Lương/Hiền Lương)1 thuộc châu/huyện Minh Linh, phủ Tân Bình. Thời chúa Nguyễn, Cổ Trai thuộc tổng Minh Lương, huyện Minh Linh. Thời Nguyễn, Cổ Trai vẫn thuộc tổng Minh Lương/Hiền Lương, huyện Minh Linh/Vĩnh Linh. Trước tháng 6/2025, Cổ Trai thuộc xã Vĩnh Giang, huyện Vĩnh Linh; hiện nay, thuộc xã Cửa Tùng, tỉnh Quảng Trị.

Người dân Cổ Trai bao đời chuyên sống bằng nghề đánh bắt thủy hải sản (chủ yếu là trên sông Hiền Lương) và khai thác lợi thế trồng trọt trên vùng đồi đất đỏ bazan. Trong quá trình phát triển, làng Cổ Trai phân thành 2 phe là Cổ Trai Đông và Cổ Trai Tây.

Người dân làng Cổ Trai xưa nay tôn vị thủy tổ họ Lê là Tiền khai khẩn. Sau họ Lê, các dòng họ được coi là họ chính của làng là Ngô, Nguyễn, Hoàng, Trần.

Đầu thế kỷ XX, khi L.Cadière nghiên cứu về một số vấn đề của ngôi làng này đã tiếp cận được một cuốn gia phả gọi là “Phổ hệ Cổ Trai” do làng lưu giữ và liên tục được bổ sung mà theo ông thì được biên chép vào 2 lần: 28 tháng 5 năm Bảo Thái thứ 6 (8/7/1725) và ngày 2 tháng 11 năm Cảnh Hưng thứ 26 (13/12/1765)2. Cuốn gia phả này chủ yếu đề cập đến phổ hệ của dòng Hoàng phi Hiếu Văn (tức Mạc Thị Giai) và khi đã được chuyển đổi quốc tính từ Mạc sang Nguyễn - vốn được coi là có gốc gác từ làng Cổ Trai.

Tư liệu và gia phả họ Ngô (họ chính của làng hiện nay) xác nhận làng Cổ Trai có gốc từ làng Cổ Trai ngoài Bắc - làng Cổ Trai đại hương thuộc huyện Nghi Dương, phủ Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Bộ phận cư dân lập nên làng Cổ Trai thuộc về họ Mạc nhưng nay ở làng Cổ Trai không có họ Mạc do đã chuyển đổi danh tánh sang họ Ngô.

Như vậy, trước khi Mạc Cảnh Huống đi theo Nguyễn Hoàng vào cư ngụ tại làng Cổ Trai thì bộ phận cư dân Việt đến từ đất Bắc đã định cư trước đó ở làng Cổ Trai, trong đó có nhóm cư dân mang họ Mạc đến từ làng Cổ Trai gốc ở Nghi Dương, Kinh Môn. Tên làng Cổ Trai được đặt theo tên của quê gốc ở Hải Dương - nơi phát tích họ Mạc đã nói lên điều đó. Họ Mạc không được coi là Tiền hay hậu Khai khẩn có thể đến sau họ Lê và một vài họ khác trong thời gian đầu khai phá đất đai, tạo lập ra làng Cổ Trai mà coi thời điểm khi chuyển thành họ Ngô từ ông Thủy tổ Kiều chắc có nguyên nhân từ lịch sử buộc phải quên đi các thế hệ trước đó. Việc coi ông Kiều, bà Kiều là người “có công lập ra làng Cổ Trai” có lẽ là do bà Hiếu Văn đã cúng cho làng một trăm quan tiền, một món tiền lớn trong thời đại của bà theo như hương sử Cổ Trai được L.Cadière dẫn ra thì đó chính là công lao rất lớn nhờ có Đức bà vợ của Sãi Vương mà có được tiếng tăm rạng rỡ3 để được trọng vọng, vinh danh và đưa vào hương sử, kể cả việc thờ cúng.

Ngày 15/5 hàng năm, làng Cổ Trai làm lễ kỵ các vị Thành hoàng và những vị nhân thần của làng đều có việc dâng cúng và sớ văn nói đến 3 nhân vật họ Mạc là Mạc Cảnh Huống, bà Hiếu Văn cùng người con gái của bà Hiếu Văn4.  

Trên đất làng Cổ Trai từng có một ngôi chùa mang tên là chùa Lam Sơn. Về sau đổi là Quang Cổ tự rồi chuyển thành chùa Cổ Trai. Ngôi chùa này do Mạc Cảnh Huống khởi lập trước 1593, dùng làm nơi ẩn cư và tu đạo.

Gia phả họ Ngô làng Cổ Trai xác nhận Mạc Cảnh Huống là người mộ đạo Phật đã lập chùa Lam Sơn ở làng Cổ Trai, sau đổi Quang Cổ tự, tức chùa Cổ Trai.

Mạc Cảnh Huống là một trong những cộng sự đắc lực, trung thành với chúa. Hương sử của làng Cổ Trai, mặt khác cũng nói rằng ông là một đệ tử hăng hái của Phật tổ.

Sau khi nhà Mạc bị đánh đổ, năm 1593, Quận chúa họ Mạc là Mạc Thị Giai đã đến nương náu tại Cổ Trai với chú ruột là Mạc Cảnh Huống ở chùa Lam Sơn.

Khi cả Mạc Cảnh Huống và bà Hiếu Văn qua đời, khu đất chùa Lam Sơn trở thành đất hương hỏa và con cháu cùng dân làng Cổ Trai chuyển thành ngôi đền/miếu thờ cả Mạc Cảnh Huống, bà Hiếu Văn cùng với một người con gái của bà (có lẽ là Quận Thanh Nguyễn Ngọc Liên - vợ của Nguyễn Phúc Vinh/Ban là con của Mạc Cảnh Huống).

Năm Minh Mệnh thứ 5 (1824), ngôi đền/miếu thờ được triều đình Huế cho đổi thành chùa mang tên là Quang Cổ tự.

Sách Đại Nam nhất thống chí triều Tự Đức chép: Chùa Cổ Trai ở xã Cổ Trai, huyện Minh Linh, xã này là quê hương của Hiếu Khang hoàng hậu bản triều, sau khi hoàng hậu mất, người xã lập miếu thờ, năm Minh Mệnh thứ 5 đổi làm chùa Phật5.

Đầu thế kỷ XX, ngôi đền/miếu thờ bà Hiếu Văn (kể cả Mạc Cảnh Huống và người con gái của bà Hiếu Văn) đã không còn. Theo L.Cadière thì có một nhà thờ ở trong làng nay chỉ còn lại cái nền, xưa là một ngôi chùa thờ Phật đã được cải tạo để thờ cúng vong linh bà. Cũng theo L.Cadière, dẫn lời của ông Tiên chỉ làng Cổ Trai lúc tìm hiểu ngôi chùa thì: Trong làng, chúng tôi chỉ biết bà Hiếu Văn mà chúng tôi làm lễ vào ngày 9-11ÂL, tại một đền thờ hiện nay đã bị hủy hoại6.

Như vậy, Mạc Cảnh Huống lập chùa Lam Sơn, sau đó là nơi ẩn náu của Quận chúa nhà Mạc là Mạc Thị Giai, tức bà Hoàng hậu Hiếu Văn và cũng là nơi tu đạo của ông. Về sau, chùa Lam Sơn được dân làng Cổ Trai dành để thờ cúng bà Hiếu Văn nên gọi là đền/miếu thờ. Thời Nguyễn (Minh Mệnh thứ 5 - 1824) thì chuyển lại thành chùa.

2. Mạc Thị Giai - sợi dây liên kết gia tộc Nguyễn - Mạc

Mạc Thị Giai là cháu gái của Mạc Cảnh Huống - một trong những công thần của chúa Nguyễn trong buổi đầu khởi nghiệp tại xứ Thuận Hóa.

Sử chép là buổi đầu Nguyễn Hoàng làm trấn thủ Thuận Hóa, đóng dinh/doanh trại ở Ái Tử huyện Vũ Xương được nhiều người phò tá, trong đó nổi bật là Uy Quốc công Nguyễn Ư Dĩ (cậu Nguyễn Hoàng), Luân Quận công Tống Phước Trị (Trấn thủ Thuận Hóa cũ, cùng quê ở Gia Miêu, Tống Sơn) và Thống binh Mạc Cảnh Huống.

Tống Phước Trị làm quan nhà Lê, trấn thủ Thuận Hóa, tước Luân Quận công. Làm chính sự khoan hòa. Trị được trăm họ yêu mến, gọi là “Bản xứ công”. Thái tổ Hoàng đế vào trấn thủ Thuận Hóa. Trị dâng ngay sổ sách bản đồ trong cõi, rồi cùng Uy Quốc công Nguyễn Ư Dĩ và Thống binh Mạc Cảnh Huống đồng lòng hết sức giúp nhà chúa7

Mạc Cảnh Huống theo Nguyễn Hoàng có nguyên do từ mối thâm tình bên vợ và Nguyễn Hoàng thu nhận Mạc Cảnh Huống cũng vì mối quan hệ đó.

Vợ của Mạc Cảnh Huống họ Nguyễn - Nguyễn Thị Ngọc Dương, với vợ của Nguyễn Hoàng là hai chị em ruột, quê Thanh Hóa. Chính quan hệ cùng rể một nhà (tức bạn cọc chèo) giữa Mạc Cảnh Huống và Nguyễn Hoàng giữa thời buổi một Trấn thủ đang được vua Lê, chúa Trịnh trọng dụng ở một vùng đất mới với nhiều khao khát về việc tách khỏi Đàng Ngoài để xây dựng một cơ nghiệp mới với một hoàng thân của một gia tộc đã hết thời được coi là phản tặc đã kết nối họ để hướng theo một xu thế mới. Và cũng từ mối quan hệ này, trong đó vai trò của bà Nguyễn Thị Dương (vừa là thím ruột của quận chúa Mạc Thị Giai vừa là dì của thế tử Nguyễn Phúc Nguyên) đã tạo điều kiện để Mạc Cảnh Huống đưa cháu ruột của mình mang dòng máu họ Mạc trở thành con dâu của Nguyễn Hoàng - vợ của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên để rồi sau đó trở thành Hoàng hậu Hiếu Văn mang danh tính họ Nguyễn và những người con của Mạc Cảnh Huống cũng được ban quốc tính họ Nguyễn, tham gia vào chính quyền nhà chúa và giữ những chức vụ quan trọng. Điều này cũng lý giải vì sao một vương thất nhà Mạc lại đi theo phò tá chúa Nguyễn, một công chúa nhà Mạc lại trở thành con dâu/vợ và là mẹ của các chúa Nguyễn.

Mạc Thị Giai sinh năm Mậu Dần (1578), mất ngày 9/11 năm Canh Ngọ (12/12/1630), thọ 53 tuổi, vợ của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên - ở ngôi chúa 22 năm (1618 - 1635). Tôn phổ nhà Nguyễn ghi bà tên Giai, thuộc dòng họ Nguyễn, gốc làng Nghi Dương, tỉnh Hải Dương. Khi mất được Võ Vương cất lên hàng phi. Gia Long phong cho tước hiệu Huy Cung Từ Thân An Thục Thuận Trang Hiếu Văn Hoàng Hậu (Nguyễn Phúc Nguyên được tôn là Hiếu Văn Hoàng Đế) thờ vào Thái Miếu8

Đầu thế kỷ XX, L.Cadière đã tiếp cận được cuốn hương phả Cổ Trai huyện Minh Linh mà ông gọi là Phổ hệ của Hoàng Phi Giai ghi chép từ Mạc Khiêm Vương (đời thứ nhất) và người con gái là Đức Bá Giai Nguyễn Thị Ngọc Giai9 (đời thứ 2), cho thấy bà Nguyễn Thị Giai còn có tên là Nguyễn Thị Ngọc Giai, vốn có gốc từ họ Mạc là Mạc Thị Giai được chúa ban quốc tính để chuyển thành họ Nguyễn cũng như chi nhánh họ Mạc của Mạc Cảnh Huống chuyển từ đời con của ông là Nguyễn Phúc/Hữu Vinh. L.Cadière cho rằng Đức Bá Giai với ý là “vợ thứ của ông Hoàng tử”, may nhờ có người con trai thành Công Thượng Vương nên gọi là Hoàng phi, về sau phong là Hoàng hậu10

Mạc Thị Giai gốc họ Mạc, con gái Khiêm Vương Mạc Kính Điển, cháu nội Mạc Đăng Doanh. Mạc Kính Điển mất năm 1580 thì 12 năm sau (1592), nhà Mạc mất ngôi phải dạt lên Cao Bằng. Vì để tránh họ Trịnh ở Đàng Ngoài, vị Quận chúa nhà Mạc đã theo chú ruột Mạc Cảnh Huống, lúc này đang phò tá Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng, vào Thuận Hóa. Thời điểm Mạc Thị Giai có mặt tại Thuận Hóa trong khoảng những năm 1592 hoặc 1593. Cùng đi theo vào Thuận Hóa còn có người em của bà Giai mà theo Phổ hệ Hoàng Phi Giai ở làng Cổ Trai thì bà này là bà Vải Đô Nguyễn Thị Ngọc Lâu, tức là bà Mạc Thị Ngọc Lâu. Bà này về sau cũng được mang danh tánh họ Nguyễn. Hai chị em Mạc Thị Giai đến làng Cổ Trai với chú là Mạc Cảnh Huống và người bà cô bác là “Quý bà Kiều” - vốn đã ở tại làng Cổ Trai. Phổ hệ nhà Nguyễn cũng có chú là “theo chú là Mạc Cảnh Huống và theo người bà con vào Đàng Trong”11.

 Theo sử triều Nguyễn cũng như Hương sử làng Cổ Trai huyện Minh Linh thì khi vào Thuận Hóa, bà nương náu tại chùa Lam Sơn ở làng Cổ Trai, huyện Minh Linh (ngôi làng đã có từ trước đó rất lâu và có một bộ phận dân họ Mạc) do Mạc Cảnh Huống lập ra trước đó. Lúc này, bà mới 15 tuổi.

Trong thời gian ở chùa Lam Sơn, làng Cổ Trai với Mạc Cảnh Huống, không chỉ nhờ vào vị thế, vai trò của người chú ruột với chúa Tiên Nguyễn Hoàng mà còn cậy vào quan hệ của vợ ông - vốn là chị cả của Nguyễn Hoàng - bà Nguyễn Ngọc Dương - tức dì ruột của Sãi Vương và cũng là thím của bà Mạc Thị Giai mà tình cảm hai nhà càng gắn bó. Chính điều đó đã tạo điều kiện để cuộc hôn nhân giữa Sãi Vương với Quận chúa nhà Mạc nhen nhóm và kết nối. Mạc Cảnh Huống gả cháu gái cho Sãi Vương lúc Sãi Vương còn là Thái tử. Phổ hệ nhà Nguyễn chép: “Bà vợ của Huống là Nguyễn Ngọc Dương, dì của Hiếu Văn đưa đến trình diện với chúa. Nhờ cung cách đoan trang, được mang họ hoàng tộc”12. Sãi Vương sau này đã gả gái đầu Tài Nhân cho con trai đầu của Mạc Cảnh Huống là Vinh - người đã đổi họ Mạc sang họ Nguyễn.

Mối quan hệ chằng chéo, đan xen về hôn nhân giữa các dòng Trịnh - Nguyễn, Mạc - Nguyễn đã từng xảy ra và chính nó đã trở thành sợi dây liên kết chặt chẽ giữa các gia tộc đối địch trong cuộc tranh giành quyền lực trong thế kỷ XVI, XVII. Trịnh Kiểm lấy Ngọc Bảo, con gái Nguyễn Kim, chị Nguyễn Hoàng nhưng Nguyễn Hoàng lại nơm nớp lo sợ anh rể và tìm cách thoát khỏi vòng cương tỏa để vào Nam. Năm 1600, khi trốn về Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng đã để lại Thăng Long con trai là Nguyễn Hải, cháu nội là Nguyễn Hắc để làm con tin; lại gả con gái Ngọc Tú cho Trịnh Tráng, con lớn của Trịnh Tùng làm Tây cung. Con của Ngọc Tú là Ngọc Trúc thành Hoàng hậu của vua Lê Thần Tông… Anh của Mạc Cảnh Huống là Mạc Phúc Hải từng bị Nguyễn Hoàng đánh đại bại tại huyện Ngọc Sơn năm 1545 khi còn là Hạ Khê hầu và chính Nguyễn Hoàng từ năm 1593, khi trở lại đất Bắc và ở lại 8 năm để giúp chúa Trịnh Tùng đánh dẹp quân nhà Mạc. Năm 1572, nhà Mạc do tướng Mạc Lập Bạo tiến đánh Thuận Hóa bị quân Nguyễn Hoàng đánh cho đại bại. Hòa rồi lại chiến, liên minh tạm thời để giành thế lực nhưng khi lợi ích bị xâm hại, lại đánh nhau. Mạc Kính Cung, con Kính Điển, anh Hoàng hậu Hiếu Văn, rồi Mạc Kính Khoan, cháu nội Kính Điển, cháu gọi Hiếu Văn bằng cô từng ngỏ ý cùng với Nguyễn Phúc Nguyên đánh Trịnh. Rồi khi họ Trịnh đánh vào Đàng Trong thì cháu nội Hiếu Văn là Nguyễn Phúc Tần sai người ra dụ Mạc Kính Hoàn ở Cao Bằng kéo quân về đánh họ Trịnh… Ngay cả khi anh em họ Nguyễn bất hòa, lại cậy nhờ họ Trịnh để đánh nhau như: sự kiện 1620, Hiệp và Trạch - 2 người em của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên nổi loạn đã ngầm gửi thư cho Trịnh Tráng là em rể của chúa Sãi đưa quân đến vùng sông Nhật Lệ để đánh chúa Sãi; khi Công Thượng Vương mất, Hiền Vương lên ngôi chúa, người chú là Trung (gọi là Chưởng Trung), em của Công Thượng Vương đã quan hệ với Tống thị, vợ thứ của Thế tử Kỳ và liên lạc, mặc cả với họ Trịnh, bị Hiền Vương tống ngục cho đến chết…

Chính trong cuộc cờ giằng co của thời cuộc đó, Mạc Cảnh Huống đã theo Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa. Và chính Mạc Cảnh Huống là quân bài để hóa giải những nước cờ cho cả hai phía để tạo ra những tiền đề cho công cuộc mở cõi của chúa Nguyễn. Khi bất hòa bắt đầu giữa 2 nhà thì người của Nguyễn nghiêng về phía Trịnh và coi Mạc là kẻ thù chung. Tuy nhiên, sự quay ngược chính sách của Nguyễn dường như đã phát sinh từ những thập niên đầu thế kỷ XVII. Trịnh sợ nhất là sự liên kết giữa Nguyễn Đàng Trong với Mạc ở Cao Bằng sẽ đe dọa Trịnh Thăng Long. Chính sách Nguyễn như thế là đương nhiên. Nó đã xuất phát theo tình thế phù hợp13. Việc Mạc Cảnh Huống gả cháu gái của mình cho con trai chúa Tiên có thể coi là một nước cờ chính trị trong mối quan hệ hôn nhân đầy toan tính. Khi mà nhà Mạc vẫn đang còn hùng cứ ở Cao Bằng (1592 - 1625) thì quan hệ hôn nhân giữa Mạc Thị Giai với Nguyễn Phúc Nguyên là mối lo sợ của Trịnh Tùng về sự liên kết giữa Nguyễn - Mạc.

Mạc Cảnh Huống là nhân vật đặc biệt có gốc xuất thân hoàng tộc nhà Mạc, nhưng lại được vinh danh là khai quốc công thần của nhà Nguyễn, một trong những triều đại chính thống sau này. Sự chuyển hướng ấy, nhìn từ một khía cạnh khác, là biểu hiện sinh động cho tinh thần khoan hòa và dung hợp của lịch sử Việt Nam, nơi công lao và nhân cách được đặt trên tông tích và dòng dõi. Cuộc đời của ông cũng cho thấy cách một con người có thể hóa giải mọi định kiến lịch sử bằng tài năng, lòng trung thành và sự hi sinh âm thầm. Từ một hoàng tử bị thất sủng, ông đã trở thành người vạch chiến lược cho công cuộc Nam tiến, gây dựng nền móng cho Đàng Trong, góp phần làm nên sự ổn định cho một vương triều kéo dài gần bốn thế kỷ14. Mạc Thị Giai là quận chúa của nhà Mạc nhưng lại là con dâu của chúa Tiên Nguyễn Hoàng, vợ của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên và được phong Hiếu Văn Hoàng Hậu.

Mạc Thị Giai - Hiếu Văn Hoàng Hậu có 11 con trai, 4 con gái. Người con trai đầu là Kỳ (còn gọi là Khánh Quận công), con gái đầu là Liên. Con trai thứ tên là Lan, tức Công Thượng vương (ở ngôi chúa 1635 - 1648) và con trai tên An cùng hai con gái là Ngọc Vạn và Ngọc Khoa. Hai con trai khác là Trung người đã nổi dậy chống anh ruột Công Thượng vương khi Công Thượng vương lên ngôi và một người tên là Nghĩa.

Sau khi mất, bà Hiếu Văn được an táng tại làng Chiêm Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam - nơi mà từ 1614 Nguyễn Phúc Nguyên làm trấn thủ Quảng Nam; sau năm 1630, Quảng Nam do Kỳ, con trai trưởng bà Hiếu Văn làm trấn thủ. Mộ có tên là Vĩnh Điển. Bà được thờ chung với Sãi Vương trên bàn thờ thứ nhất bên trong điện Thái Miếu.

Tại làng Cổ Trai, Quảng Trị, nơi bà từng nương náu những ngày đầu vào Thuận Hóa với chú Mạc Cảnh Huống ở chùa Lam Sơn, nhân dân lập miếu thờ bà Hiếu Văn cùng với một người con gái của bà (có lẽ là Quận Thanh Nguyễn Ngọc Liên - vợ của Nguyễn Phúc Vinh/Ban là con của Mạc Cảnh Huống).

Trong thời gian 68 năm, chúa Tiên Nguyễn Hoàng và chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên đóng dinh phủ tại Ái Tử - Trà Bát của huyện Vũ Xương (1558 - 1626), khi trở thành vợ của Nguyễn Phúc Nguyên, phu nhân họ Mạc là Mạc Thị Giai đã cùng chồng đi ủy lạo binh lính và nhân dân trong vùng, có những chính sách giúp đỡ người dân khai phá, canh tác đất đai và thiết lập nên một số làng xóm mới kề cận dinh chúa. Vì những công lao đó, cả một vùng quanh Ái Tử/Dinh Cát đều tôn thờ bà và tấn phong làm Thành Hoàng làng - một trường hợp hiếm có của nền quân chủ Nho giáo - trong đó có làng An Mô. Hiện nay, trong khuôn viên chùa làng An Mô, đối diện với Miếu Khai Khẩn thờ lục tộc thủy tổ có ngôi miếu thờ Thành hoàng Mạc Thị Giáo. Việc đọc trại tên bà từ Giai thành Giáo chắc có nguyên nhân từ thời kỳ về sau, khi việc thờ cúng được xem xét một cách cẩn trọng và cho phép từ triều đình Huế, cũng như việc chuyển từ miếu thờ bà ở Cổ Trai thành chùa Quang Cổ và miếu thờ chúa Tiên Nguyễn Hoàng ở Cồn Tiên chuyển thành chùa Long Phước vậy! Hàng năm, dân làng An Mô tổ chức tế lễ vào ngày 15/6 Âm lịch tại đình làng.

* * *

Làng Cổ Trai ở Quảng Trị là một làng có quá trình hình thành từ khá sớm từ các cuộc di dân vào vùng đất mới dưới thời Trần - Hồ với công lao của nhiều dòng họ ra đi từ đất Bắc, trong đó có dòng họ Mạc có gốc gác từ huyện Nghi Dương, phủ Kinh Môn, tỉnh Hải Dương - nơi phát tích họ Mạc và vương triều Mạc. Tên làng gốc Cổ Trai được các nhóm lưu dân mang theo và đặt tên tại vùng Minh Linh và cũng là nơi chứa nhiều ẩn tích về dòng họ Mạc đã nói lên tất cả.

Làng Cổ Trai ở Quảng Trị gắn bó mật thiết với hành trạng của Thống binh Mạc Cảnh Huống, Quận chúa Mạc Thị Giai và những mối quan hệ thân tộc qua con đường hôn nhân giữa Mạc - Nguyễn trong bối cảnh chính trị phức tạp ở thế kỷ XVI - XVII có thể được coi là nơi dung dưỡng những khát vọng hướng theo một xu thế mới; là biểu hiện sinh động cho tinh thần dung hợp, khoan hòa của lịch sử Việt Nam; tạo ra được những tiền đề gây dựng nền móng cho sự đồng thuận trên hành trình mở cõi; góp phần làm nên sự ổn định và phát triển cho một thời kỳ chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn kéo dài gần bốn thế kỷ.

Và không chỉ thế, những dấu tích lịch sử, văn hóa trải qua nhiều giai đoạn từ Chăm đến Việt, từ quá khứ đến hiện tại ở làng Cổ Trai xứng đáng được nghiên cứu, bảo tồn và phát huy; trong đó có chùa Lam Sơn/Quang Cổ tự/chùa Cổ Trai - nơi từng có đền thờ công thần Mạc Cảnh Huống, Hoàng hậu Hiếu Văn đáng được coi là di tích lịch sử, văn hóa và cần được đầu tư tôn tạo.

Y.T

__________________

1 Dương Văn An, Ô Châu cận lục, Văn Thanh - Phan Đăng dịch và chú giải, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.46.

2, 9, 10 L.Cadière, Phổ hệ của Hoàng Phi Giai vợ của Sãi Vương, Những người bạn cố đô Huế, B.A.V.H, tập XIII, 1943, Nxb Thuận Hóa, 2015, tr.608 - 610, tr.624, tr.636 - 637.

3, 4, 6, 13 L.Cadière, Về bà vợ của Sãi Vương, Những người bạn cố đô Huế, B.A.V.H 1922, tập IX, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2001, tr.262 - 269, tr.258, tr.269.

5 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 1, Bản dịch của Viện Sử học, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1992, tr.206 - 207.

7 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện tiền biên, Viện Sử học dịch, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1993, tr.76.

8, 11, 12 Tôn Thất Hân, Phổ hệ nhà Nguyễn trước Gia Long, Những người bạn cố đô Huế, B.A.V.H, tập VII, 1920, Nxb Thuận Hóa, 2001, tr.405.

14 Mạc Cảnh Huống - Vị khai quốc công thần thầm lặng thời nhà Nguyễn. ASEAN News - Tạp Chí Đông Nam Á, tháng 8/2025.