Thực ra, ở khu vực miền Trung Việt Nam, trong đó có vùng Quảng Bình, việc sử dụng dưa hấu để chưng cúng phổ biến vào dịp Tết và một số lễ tiết có điều kiện phát triển hơn trong vài thập niên gần đây. Có được kết quả ấy là nhờ vào thành tựu ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trồng trọt và sự lưu thông hàng hóa thuận lợi, khiến dưa hấu cho quả và được luân chuyển dễ dàng gần như quanh năm. Còn trước đó, trong nền nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, dưa hấu chủ yếu là sản vật đặc trưng của mùa hạ mà cha ông ta đã ghi nhớ, đúc kết lịch gieo trồng thành tục ngữ dân gian: “nắng tốt dưa, mưa tốt lúa”, và Lễ bộ Thượng thư Vũ Quỳnh cũng đã khẳng định trong bài Tựa Lĩnh Nam chích quái liệt truyện viết năm Hồng Đức thứ 23 (1492): “Sản vật nước Nam về mùa hạ không gì quý bằng quả dưa hấu”1. Điều đáng chú ý là ở vào thời xa xưa ấy, mặc dù thời vụ ngắn, điều kiện sản xuất, lưu thông hàng hóa, quảng bá sản phẩm còn nhiều hạn chế, nhưng bằng cách nào đó, người dân địa phương vùng Quảng Bình vẫn tạo nên sản phẩm quả dưa hấu có tiếng trong khu vực, được sử liệu triều Nguyễn ghi nhận là rất ngon và có lệ tiến vua: “Dưa hấu: trồng ở phường Hữu Cung, huyện Phong Lộc, rất ngon, có lệ tiến vua”2.

Phường
Hữu Cung, huyện Phong Lộc mà sử sách nhắc đến với tư cách là nơi có sản phẩm
dưa hấu tiến vua thời nhà Nguyễn, ngày nay là tổ dân phố Hữu Cung (còn có các tục
danh: Hữu Cai, Hộ Cai), thuộc phường Đồng Thuận, tỉnh Quảng Trị. Theo nhà Việt
Nam học Léopold-Michel Cadière viết trong sách Địa danh lịch sử Quảng Bình, làng Hữu Cung được
hình thành từ một đơn vị quân đội triều Nguyễn có phiên hiệu cùng tên, được
phép giải ngũ lập làng ngay trên phần đất mà đơn vị này đồn trú ở vùng Phú Xá,
từ khoảng thời vua Gia Long đến thời vua Minh Mạng trị vì3. Trong thời gian
này, triều đình nhà Nguyễn có chính sách được triển khai rất phổ biến là cho
quân binh giải ngũ lập làng mới ngay tại nơi các đơn vị quân đội từng đồn trú,
thưa vắng dân cư để ổn định phát triển xã hội, khi đất nước đã thống nhất và
hòa bình nhìn chung được vãn hồi trên toàn cõi. Theo đó, có rất nhiều làng dân
binh được hình thành bằng cách này ở tỉnh Quảng Bình cũ, chủ yếu từ phía nam
sông Gianh trở vào, và “tất cả các làng như thế đều giữ tên binh đội cũ như
thuyền, đội, cơ, hoặc thay đổi đôi chút”4, mà làng Hữu Cung
là một trong số đó. Hữu Cung, một làng quê mới hình thành, tọa lạc nơi địa hình
cao ráo nhất đồng bằng khu vực, có điều kiện tự nhiên đất màu pha cát, nhiều nắng,
cận kề cư dân nông nghiệp bản địa Phú Xá, lại có cơ cấu dân cư chủ yếu là những
cựu binh nông dân trẻ, khỏe, có thể trong số họ có những người đến từ các vùng
đã có truyền thống trồng dưa hấu ở Đàng Trong. Vả chăng đó là những điều kiện
thuận lợi góp phần hình thành nghề trồng dưa hấu ở Hữu Cung để sau này trở
thành phường trồng dưa hấu nức tiếng khắp vùng Quảng Bình cũ. Tuy nhiên, đây mới
là một giả thuyết dựa trên điều kiện tự nhiên, lịch sử và dân cư trong quá
trình hình thành làng, còn mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố ấy với danh tiếng
của dưa hấu Hữu Cung vẫn cần được tiếp tục kiểm chứng và khảo cứu thêm bằng những
tư liệu cụ thể hơn.
Dưa
hấu, loài cây ăn quả có nguồn gốc từ châu Phi, thích nghi tốt với
điều kiện khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới, rất phù hợp để gieo
trồng và phát triển ở các vùng sinh thái tương đồng, trong đó có Việt Nam. Thế
nên, dưới thời nhà Nguyễn, không chỉ các địa phương miền Trung cận kề địa lý với
tỉnh Quảng Bình cũ, cùng trực lệ kinh đô như khu Tả trực gồm tỉnh Quảng Nam, Quảng
Ngãi và khu Hữu trực gồm Quảng Trị, Quảng Bình, mà còn nhiều tỉnh Nam Trung bộ
khác do có điều kiện sinh thái phù hợp cho nghề trồng dưa, nên ở thời điểm đó đều
đã trồng loại cây ăn quả quý giá này. Tuy nhiên, không phải chỉ trong thời kỳ
này, mà những dấu vết về sự hiện diện lâu đời của dưa hấu ở miền Trung từng được
phản ánh trong truyền thuyết dân gian. Chẳng hạn, tích chuyện về Thánh nữ Thiên
Y A Na ngót ngàn năm trước giáng linh xuống núi Đại An tỉnh Khánh Hòa và về cuộc
đời lam lũ nhưng đầy nhân hậu của ông bà tiều phu trồng dưa bản địa là một manh
mối cho thấy hình ảnh cây dưa hấu và việc trồng dưa hấu đã hiện diện trong ký ức
dân gian ở khu vực này từ lâu. Sự kiện Thánh nữ Thiên Y A Na giáng linh xuống
đây khi còn nhỏ, ban đêm thường ra rẫy của hai vợ chồng ông bà trồng dưa, hái
trộm quả dưa để đùa nghịch dưới trăng được Hữu Hiệp biện Đại học sĩ lãnh Lễ bộ
Thượng thư Phan Thanh Giản soạn thành bài văn bia Thiên Y Tiên nữ truyện
ký
năm 1856, khắc vào bia đá dựng trong khuôn viên Tháp Bà Po Nagar và lưu trong tập
Bi
ký tạp biên; cùng với việc ngôi miếu thờ ông bà trồng dưa có công
nuôi dưỡng Thánh nữ được dân gian gọi miếu “ông bà trồng dưa”5 là một trong những
tư liệu thành văn đáng chú ý về sự hiện diện của hình ảnh cây dưa hấu trong
truyền thuyết dân gian ở khu vực này.
Tuy
nhiên, nhiều địa phương có truyền thống trồng dưa hấu lâu đời không đồng nghĩa
với việc sản phẩm của địa phương nào cũng được tuyển chọn làm tiến phẩm cho triều
đình nhà Nguyễn sau này. Tham khảo, đối chiếu các ghi chép
trong Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, bộ sách do Nội các
triều Nguyễn biên soạn, ghi chép khá đầy đủ các điển chế, quy định, các dữ kiện,
sử liệu và hoạt động của triều đình, chúng ta sẽ thấy vị trí của dưa hấu phường
Hữu Cung, tỉnh Quảng Bình (cũ) so với các sản vật cùng loại ở khu vực
trong hệ thống tiến phẩm của triều Nguyễn giai đoạn này. Trong mục quy định các
lệ chung về tiến phẩm vật ở các địa phương, sách Khâm định Đại Nam hội
điển sự lệ chép: “Phàm hàng năm gặp các lễ tết: Lễ tế Nam Giao, lễ
hưởng ở nhà Thái miếu, ngày Thánh đản, ngày giỗ và ngày Thánh thọ, các tết
chính đáng, Đoan dương, Trung thu, Trùng dương và tiến tân, các quan địa phương
chính tay phải lựa chọn những thứ ngon, tốt (…) giao trạm, phái đệ
đi,
(…)
đến kinh, do bộ chuyển giao cho thị vệ chiểu nhận, hội đồng dâng lên”6. Điều đáng chú ý là,
sau phần quy định chung ấy, khi liệt kê cụ thể các sản vật tiến cống của từng địa
phương trong phần ghi chi tiết, hạng mục quả dưa hấu chỉ thấy sách
này ghi nhận thuộc phần tiến phẩm của tỉnh Quảng Bình (cũ) mà thôi. Và, sự cung
tiến dưa hấu Quảng Bình vào cung vua, cũng theo sách Khâm định Đại Nam hội
điển sự lệ ghi chép lại, có sự ổn định, dài lâu, trải từ thời vua
Gia Long, qua các triều kế vị về sau: Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Những tư liệu
này cho thấy dưa hấu vùng Quảng Bình không phải là sản vật được tuyển chọn nhất
thời, mà đã trở thành một loại tiến phẩm có tính định lệ trong điển chế triều
Nguyễn, một thời gian dài.
Dưa
hấu từ Quảng Bình (cũ) cung tiến được sử dụng trước hết cho các nghi lễ cung
đình và hoạt động tế tự như: Tiết Thánh thọ, Tiết Vạn thọ, Tiết Đoan dương, Lễ
tế hưởng mùa hạ, Lễ tiến tân, Lễ cơm mới, Lễ cúng Phật, sau đó mới phục vụ yến
tiệc trong triều. Số lượng dưa hấu Quảng Bình thời kỳ đó cung tiến hàng năm,
theo ghi chép của sách Hội điển rất cụ thể, chi tiết,
tuy có tăng giảm qua các triều đại từ vua Gia Long đến vua Tự Đức, nhưng sự
khác biệt là không đáng kể trong những dịp sử dụng chủ yếu, chẳng hạn7:
- Tiết Thánh thọ (Sinh nhật Hoàng Thái hậu): 150 quả
- Tiết Vạn thọ (Sinh nhật nhà vua): 100 quả
- Tiết Đoan dương (Tết Đoan Ngọ): 50 quả
- Lễ tế hưởng mùa hạ (Thờ Thế Tổ Cao Hoàng Đế Gia Long):
các miếu 30 quả
- Lễ tiến tân: 100 quả
- Lễ cơm mới: 100 quả
-
Lễ cúng Phật: “cỗ cúng mỗi mâm đều dùng dưa hấu”8
Một
chi tiết khác cũng rất đáng chú ý là ngoài số lượng dưa hấu được cung tiến theo
lệ, hàng năm triều đình còn có kế hoạch chủ động mua thêm một lượng dưa hấu
khác của tỉnh Quảng Bình (cũ) với hình thức “chiểu giá trả tiền” thanh toán cho
nông dân theo giá quy định, có năm “dưa hấu cứ mười quả giá 6 tiền”9, nhằm phục vụ nhu cầu
trong cung, và tình tiết trên cũng được sách Hội điển chép lại. Điều này
cho thấy dưa hấu Quảng Bình không chỉ là tiến phẩm mang tính nghi lễ mà còn là
một loại nông sản được triều đình đánh giá cao về giá trị sử dụng.
Cũng
cần biết thêm rằng, triều Nguyễn có một hệ thống lễ tiết và lễ tế tự được tổ chức
theo lịch nghi lễ khá phong phú trong năm. Dựa vào tính chất, quy mô, lễ hội
cung đình triều Nguyễn được chia thành hai loại: các lễ tiết và các lễ tế tự.
Các lễ tiết gồm có: triều hội hàng tháng để vua nhận chầu (Đại triều, Thường
triều), các đại tiết hàng năm như Nguyên đán (Tết âm lịch), Đoan dương (Tết
Đoan ngọ), Vạn thọ (sinh nhật nhà vua) và lễ mừng nhân dịp các ngày vui khác…
Còn các lễ tế tự: là các lễ tế tại các đàn, miếu do triều đình lập ra, thờ tự
và tổ chức tế lễ hàng năm. Triều Nguyễn quy định các lễ tế tự theo ba bậc từ lớn
đến nhỏ, dựa trên tính chất và quy mô lễ: Đại tự, Trung tự, Quần tự10. Các tiết, tự có
dùng quả dưa hấu làm phẩm vật dâng cúng được nhắc đến trên, hầu hết được xếp
vào hàng những đại tiết, đại tự theo điển chế của triều đình, nên đến kỳ, ngoài
các yêu cầu tỉ mỉ, nghiêm ngặt về công tác chuẩn bị và nghi thức trang trọng
dành cho đại lễ, nhà vua trực tiếp tham dự một số nghi lễ theo quy định. Điều
đáng chú ý là những tiết, lễ này phần nhiều diễn ra vào mùa hè, phù hợp với thời
vụ thu hoạch dưa hấu, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tuyển chọn những quả
ngon nhất tiến cống lên triều đình làm một trong những phẩm vật phục vụ các
nghi lễ tế tự của triều đình.
Trong
bối cảnh lễ nghi tế tự cung đình triều Nguyễn, ta phần nào thấy rõ hơn vị trí của
sản phẩm quả dưa hấu phường Hữu Cung xưa. Việc triều đình nhà Nguyễn từng sử dụng
dưa hấu Hữu Cung với số lượng đáng kể để làm phẩm vật dâng cúng trong các nghi
lễ trọng đại hằng năm trước hết phản ánh giá trị thực phẩm và khả năng đáp ứng ổn
định của sản vật này. Nhưng không chỉ có vậy, dưới góc độ văn hóa, có thể còn một
nguyên nhân khác: dưa hấu từ lâu đã gắn bó với đời sống tinh thần của người Việt
thông qua truyền thuyết Mai An Tiêm dẫn đến sự nối truyền tâm thức người Việt từ
ý nghĩa nhân văn, ý nghĩa tâm linh qua hình tượng quả dưa hấu, câu chuyện được
đặt vào thời các vua Hùng, lưu truyền khắp nơi trong nhân thế và cả ở cung
đình. Trong sách Lĩnh Nam chích quái, câu chuyện Mai An
Tiêm kể về một con người bị lưu đày nhưng vẫn tin vào sức lao động của chính
mình, kiên trì khai phá, gieo trồng, gây dựng cuộc sống trên đảo hoang. Tinh thần
tự lực “cậy của mình làm, không nhờ ơn người” ấy của Mai An Tiêm đã giúp chàng
phát hiện, nhân giống và phổ biến giống dưa hấu, một loại quả “ăn thấy vị thơm
ngon, tinh thần sảng khoái (…), người ở thôn xóm xa gần đều mua để lấy giống
gieo ở khắp tứ phương”11. Truyền thuyết về quả dưa hấu rõ ràng không chỉ giải
thích nguồn gốc một sản vật, mà còn gửi gắm quan niệm của người Việt về đức
tính cần cù, ý chí vượt nghịch cảnh và khát vọng vươn lên bằng lao động. Có lẽ
vì thế mà trong quá trình biên tu và nhuận chính cuốn Lĩnh Nam chích quái,
các
nho thần đời sau từ Trần Thế Pháp, đến Vũ Quỳnh, Kiều Phú thấy những truyện kể
dân gian có sự đan xen giữa yếu tố lịch sử và huyền thoại, đã thốt lên rằng:
“những truyện chép ở đây là sử ở trong truyện chăng”12. Dĩ nhiên, truyền thuyết không
phải là sử liệu theo nghĩa chặt chẽ, nhưng bên dưới lớp vỏ huyền thoại vẫn có
thể bảo lưu những ký ức văn hóa và lịch sử của cộng đồng qua nhiều thế hệ. Theo
đó, các ghi chép trong bộ sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ dưới triều Nguyễn
đã cung cấp những thông tin có thể kiểm chứng về việc tuyển chọn, cung tiến,
thu mua và sử dụng dưa hấu trong đời sống cung đình ở vào một thời điểm lịch sử
cụ thể. Nói cách khác, nếu truyền thuyết phản ánh danh tiếng của dưa hấu nói
chung trong tâm thức dân gian, thì sử liệu triều Nguyễn đã xác nhận vị trí của
dưa hấu phường Hữu Cung xưa trong đời sống lễ nghi của quốc gia bằng những quy
định cụ thể của triều đình về tuyển chọn, cung tiến, thu mua và sử dụng.
Những
sử liệu đáng tin cậy này cho phép ta có cơ sở để nhận định rằng, sản phẩm dưa hấu
trồng ở Quảng Bình thời kỳ đó hẳn phải có giá trị sử dụng cao và đáp ứng được
yêu cầu cung ứng của triều đình trong một thời gian dài. Sự cung tiến dưa hấu
Quảng Bình (cũ) vào triều được sử sách ghi thành lệ sớm nhất mà ta biết được là
vào thời vua Gia Long (1802 - 1820), nhưng trước đó hàng trăm năm, dưa hấu Quảng
Bình (cũ) đã được biết đến qua sách Ô Châu cận lục của Dương Văn An,
nhuận sắc và tập thành vào giữa thế kỷ XVI, từng khẳng định là có truyền thống
danh bất hư truyền: “Dưa thì mát ngọt, dùng để đãi khách phong lưu”13. Gần ba thế kỷ sau,
đến thời Nguyễn, sự kiện dưa hấu Quảng Bình vẫn được tuyển chọn làm tiến phẩm
cho thấy giá trị này không phải là một hiện tượng nhất thời mà là một truyền thống
được duy trì qua nhiều thế hệ.
Một
giả thuyết khác có thể được đặt ra là, triều đình nhà Nguyễn lựa chọn dưa hấu
Quảng Bình (cũ) chủ yếu vì địa phương này có vị trí địa lý gần kinh đô Huế, thuận
tiện cho việc vận chuyển một loại quả khó bảo quản, tuy nhiên, các tư liệu hiện
còn lại chưa hoàn toàn ủng hộ giả thuyết ấy. Thứ nhất, trong số các địa phương
trực lệ kinh đô, các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam đều gần Huế hơn hoặc
tương đương tỉnh Quảng Bình cũ, đồng thời cùng có điều kiện trồng dưa hấu,
nhưng ở quyển 120, Phẩm vật ở các địa phương của sách Khâm định Đại Nam hội
điển sự lệ không ghi nhận dưa hấu của các tỉnh này là tiến phẩm14. Thứ hai, bộ sách
trên còn cho biết nhiều loại hoa quả dễ hư hỏng khác từ những địa phương rất xa
kinh đô vẫn được tuyển chọn làm tiến phẩm, như quả sa lê ở Cao Bằng, quả tuyết
lê ở Tuyên Quang, quả vải ở Hà Nội, quả cam đường ở Hải Dương, Thanh Hóa, quả
xoài ở Phú Yên, quả chanh ở Bình Định15…, điều đó cho thấy
khoảng cách địa lý có thể không phải là yếu tố duy nhất quyết định việc lựa chọn
tiến phẩm. Đáng chú ý hơn, ngay trong phạm vi tỉnh Quảng Bình cũ, sử sách chỉ
ghi nhận dưa hấu phường Hữu Cung được tiến cống, và chi tiết này cho thấy nhiều
khả năng chất lượng và uy tín của sản phẩm là những yếu tố đáng
được xem xét bên cạnh yếu tố địa lý hay điều kiện vận chuyển trong tiêu chí tuyển
chọn các loại quả làm tiến phẩm của triều đình.
Ngày
nay, dưa hấu đã trở thành loại trái cây quen thuộc trong đời sống hằng ngày, được
trồng rộng rãi ở nhiều địa phương và có mặt trên thị trường gần như quanh năm.
Riêng phường Hữu Cung xưa, vùng đất từng nổi tiếng với truyền thống trồng dưa
tiến vua, nay đã có nhiều thay đổi. Quá trình đô thị hóa và việc xây dựng Cảng
hàng không Đồng Hới trên hầu hết diện tích đất canh tác truyền thống đã làm cho
những ruộng dưa nổi tiếng một thời dần đi vào ký ức. Sự chuyển đổi ấy là tất yếu
trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời mở ra những cơ hội mới
cho địa phương.
Tuy
nhiên, truyền thống trồng dưa hấu của vùng Quảng Bình (cũ) không vì thế mà mất
đi. Với điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu thuận lợi, nhiều địa phương khác trong
khu vực hiện vẫn phát triển nghề trồng dưa theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô
lớn. Nếu trước đây việc lựa chọn dưa hấu làm tiến phẩm của triều đình gắn với
yêu cầu về chất lượng và khả năng cung ứng dựa trên điều kiện sản xuất phụ thuộc
vào tự nhiên, thì ngày nay, các giá trị ấy đã được kiểm soát chủ động nhờ việc ứng
dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, xây dựng thương hiệu, tổ chức thị trường và
liên kết giữa người nông dân, nhà khoa học, doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhằm
tạo ra sản phẩm có chất lượng ổn định, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Điều
còn lại sau những biến đổi của thời gian không chỉ là ký ức về một vùng trồng
dưa nổi tiếng, mà còn là giá trị lịch sử của một sản vật từng được triều Nguyễn
tuyển chọn làm tiến phẩm. Những ghi chép trong các tài liệu Ô Châu cận lục, Đại
Nam nhất thống chí, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, cùng các thư tịch
liên quan cho phép nhìn nhận rằng dưa hấu phường Hữu Cung xưa không chỉ là một
nông sản địa phương mà còn từng hiện diện trong hệ thống nghi lễ và sinh hoạt
cung đình triều Nguyễn. Qua trường hợp dưa hấu phường Hữu Cung, có thể thấy nhiều
sản vật địa phương tưởng chừng bình dị lại hàm chứa những giá trị lịch sử và
văn hóa đáng được tiếp tục khảo cứu, bảo tồn và phát huy.
Trong
các dịp sóc, vọng, giỗ chạp, tế lễ hoặc Tết Nguyên đán, khi dưa hấu lại hiện diện
trên bàn thờ tổ tiên cùng mâm ngũ quả truyền thống, người ta không chỉ cảm nhận
hương vị ngọt mát của một loại trái cây quen thuộc mà còn có thể nhớ đến một lớp
trầm tích văn hóa đã được bồi đắp qua nhiều thế kỷ. Trong dòng chảy ấy, dưa hấu
phường Hữu Cung từng là một sản vật được tuyển chọn để phục vụ các nghi lễ tế tự
và sinh hoạt cung đình triều Nguyễn, đó là một phần ký ức lịch sử đáng tự hào của
vùng đất Quảng Bình cũ. Và dưa hấu cũng chỉ là một trong nhiều sản vật từng làm
nên danh tiếng của vùng đất này bên cạnh các sản vật khác được sử liệu ghi nhận
là sản vật nổi tiếng như mắm hàm hương16, sâm Bố Chính, cửu
khổng, rượu dâu, bột hoàng tinh, tương đậu17, được các triều Lê,
Nguyễn tuyển chọn làm tiến phẩm. Mỗi sản vật này đều mang trong mình một câu
chuyện văn hóa, lịch sử riêng, góp phần làm nên diện mạo văn hóa của vùng đất
Quảng Bình xưa và xứng đáng được tiếp tục nghiên cứu trong những công trình tiếp
theo.
T.H
1. Vũ Quỳnh, Tựa sách Lĩnh Nam
chích quái của Trần Thế Pháp; Vũ Quỳnh và Kiều Phú nhuận chính,
Đinh Gia Khánh và Nguyễn Ngọc San phiên dịch, Nxb Trẻ - Nxb Hồng Bàng, 2016,
tr.30.
2. Quốc sử quán triều
Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 1, Hoàng Văn
Lâu dịch, Nxb Lao động - Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2012, tr.549.
3. Léopold-Michel
Cadière, Địa danh lịch sử Quảng Bình, bản đánh máy trang
179 của BEFEO, tome 111, năm 1903, tài liệu lưu trữ cá nhân.
4. Léopold-Michel
Cadière, Địa danh lịch sử Quảng Bình, bản đánh máy, tài
liệu đã dẫn.
5. Phan Thanh Giản, Thiên Y Tiên nữ truyện
ký
(1856), văn bia Hán Nôm tại Tháp Bà Pô Nagar, Nha Trang; xem thêm Ngô Văn
Doanh, Văn hóa cổ Chămpa, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2002.
6. Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội
điển sự lệ, tập 4B, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2005, tr.316, 317.
7. Nội các triều Nguyễn,
Khâm
định Đại Nam hội điển sự lệ, tập 4B, sách đã dẫn, tr.322.
8. Nội các triều Nguyễn,
Khâm
định Đại Nam hội điển sự lệ, tập 8, sách đã dẫn, tr.191.
9. Nội các triều Nguyễn,
Khâm
định Đại Nam hội điển sự lệ, tập 4B, sách đã dẫn, tr.318.
10. Phan Thuận An, Lễ hội cung đình triều
Nguyễn nhìn từ góc độ văn hóa và du lịch ngày nay, Tạp chí Sông
Hương, số 167, tháng 1/2003.
11. Trần Thế Pháp, Lĩnh Nam chích quái, sách đã dẫn.
tr.63, 64.
12. Vũ Quỳnh, Tựa Lĩnh Nam chích
quái liệt truyện, trong Trần Thế Pháp, Lĩnh Nam chích quái, sách đã dẫn,
tr.30.
13. Dương Văn An, Ô Châu cận lục, Trần Đại Vinh hiệu
đính, dịch chú, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2001, tr.39.
14. Nội các triều Nguyễn,
Khâm
định Đại Nam hội điển sự lệ, tập 4B, sách đã dẫn tr.316.
15. Nội các triều Nguyễn,
Khâm
định Đại Nam hội điển sự lệ, tập 4B, sách đã dẫn tr.319 - 324.
16. Trần Đình Vĩnh, Cảnh Dương chí lược,
Sở
Văn hóa và Thông tin Quảng Bình xuất bản, 1993, tr.129, 130.
17. Nội các triều Nguyễn,
Khâm
định Đại Nam hội điển sự lệ, tập 4B, sách đã dẫn, tr.322.
