☰
Giới thiệu▼
Tin tứcSự kiện & Đối thoại
Sáng Tác▼
Nghệ thuật▼
Lý luận & Phê bìnhNgười & Đất quê hương
MultiMedia▼
Tùy chọn thống kê

Mặc định website đo tổng lượt xem và có thể ước tính nhóm độc giả bằng bộ đếm lưu trên trình duyệt; máy chủ chỉ nhận số tổng hợp. Với tài khoản đăng nhập, hệ thống thống kê số ngày và lượt truy cập theo tài khoản nhằm đánh giá mức độ gắn bó, không lưu IP hay lịch sử bài đọc trong bảng thống kê thành viên. Google Analytics không tự bật. Nếu chọn Đồng ý đo nâng cao, hệ thống có thể dùng mã trình duyệt để thống kê độc giả mới/quay lại/trung thành, và bật Google Analytics.

Bạn có thể thay đổi lựa chọn bất cứ lúc nào. Phiên đăng nhập và nhật ký kỹ thuật máy chủ được quản lý riêng với thống kê này.

Zalo

Thơ Việt với môn Ngữ văn trong Nhà trường trung học phổ thông

NGUYỄN VĂN DÙNG    19/10/2026    73
Thơ Việt giữ một vai trò quan trọng trong đề thi Ngữ văn trung học phổ thông. Thơ được dùng làm phương tiện truyền tải những giá trị văn hóa, lịch sử và đạo đức tới học sinh. Tuy nhiên, khi đặt hiện tượng này bên cạnh đời sống thơ Việt đương đại, chúng ta nhận ra một số điểm đáng suy ngẫm về độ mở thẩm mỹ và tư tưởng của thơ trong đề thi so với thực tế bên ngoài. Trước hết, về độ phổ biến và vị thế hiện nay, thơ không còn là “món ăn tinh thần” chủ đạo như vài thập niên trước. Công chúng có nhiều lựa chọn giải trí khác làm cho vị thế thơ ca suy giảm phần nào. Hiện nay số người sáng tác thơ lại rất đông đảo, nhờ sự bùng nổ của mạng xã hội và internet. Ngoài báo in, số lượng thơ được công bố trên không gian mạng thì nhiều vô kể. Hiện tượng này chứng tỏ người Việt vẫn rất yêu thơ, làm thơ nhiều, tạo nên bề rộng phong trào sáng tác.


Thơ luôn giữ một vị trí đặc biệt trong giảng dạy Ngữ văn ở trường trung học phổ thông nước ta. Những năm gần đây, với việc thực hiện chương trình giáo dục phổ thông yêu cầu phải dùng ngữ liệu ngoài sách giáo khoa thì đề thi bỗng nghiêng về thơ trong phần đọc hiểu. Việc lựa chọn tác phẩm thơ đưa vào đề thi phần nào phản ánh quan niệm giáo dục văn chương cũng như giá trị thẩm mỹ, tư tưởng mà ngành giáo dục muốn truyền tải, nhưng cũng cho thấy khoảng cách giữa thơ trong trường học và thực tế đời sống thơ.

Hầu hết các tỉnh, thành phố tổ chức thi tuyển sinh vào lớp 10, trong đó môn Ngữ văn là bắt buộc. Nhiều tỉnh, thành phố sử dụng thơ làm ngữ liệu đọc hiểu. Khảo sát các đề thi tuyển sinh cho thấy thơ của một số tác giả có tên tuổi được chọn làm ngữ liệu như nhà thơ Tố Hữu, Lưu Quang Vũ, Chế Lan Viên, Huy Cận, Nguyễn Bính, Giang Nam, Đoàn Văn Cừ, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Phan Quế Mai,... Mỗi người có một số câu thơ được chọn. Điều này cho thấy đề thi trải rộng trên một số tác giả khá đa dạng (có tác giả thời Thơ mới, tác giả thời chống Pháp, chống Mỹ và các gương mặt trẻ đương đại), nhưng hiếm khi lặp lại cùng một tác giả, ngoại trừ một vài tên tuổi nhất định. Việc Lưu Quang Vũ được trích dẫn nhiều nhất cho thấy thơ anh có sức hấp dẫn đối với người ra đề vì giàu cảm xúc nhân văn và tương đối gần gũi học trò.

Các bài thơ được đưa vào đề thi Ngữ văn thường xoay quanh một số chủ đề truyền thống, nổi bật là tình yêu quê hương, đất nước và chủ nghĩa yêu nước. Ví như Tổ quốc gọi tên (Nguyễn Phan Quế Mai) thể hiện tình yêu Tổ quốc và ý thức chủ quyền biển đảo; trích đoạn bài thơ Quê hương (Nguyễn Bính) ngợi ca truyền thống văn hóa Việt qua hình ảnh truyện cổ, qua các anh hùng dân tộc; bài Bác ơi (Tố Hữu) bộc lộ niềm tiếc thương lãnh tụ Hồ Chí Minh và nhắc nhở lý tưởng cách mạng; bài Đồng đội tôi trên đảo Thuyền Chài (Trần Đăng Khoa) tái hiện tinh thần lạc quan, yêu đời vượt qua mọi gian khổ, quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của người lính đảo xa. Có thể thấy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống dân tộc là dòng chảy đậm nét trong các ngữ liệu thơ của đề thi.

Mảng thơ về tình cảm gia đình, đặc biệt là tình mẹ - con, cha - con. Nhiều bài thơ khai thác tình mẫu tử, phụ tử thiêng liêng và sự hy sinh của cha mẹ. Bài thơ Nghĩ về mẹ (Lâm Thị Mỹ Dạ) viết về tấm lòng người mẹ đối với con trong những gian lao thường ngày. Bài Mẹ (Trường Phi Bảo) là lời người con trưởng thành thấu hiểu nỗi vất vả và tình yêu bao la của mẹ. Bài Áo (Lưu Quang Vũ), mượn hình ảnh chiếc áo qua năm tháng để nói về sự trưởng thành của con và sự già đi của mẹ, qua đó ca ngợi đức hy sinh thầm lặng vì con của mẹ.

Mảng thơ về tuổi trẻ, trường học và hành trình trưởng thành: nhiều ngữ liệu thơ gắn liền với môi trường học đường, khát vọng và kỷ niệm tuổi học trò. Bài Cho mùa thi (Bình Nguyên Trang) viết về mùa thi và khoảnh khắc chia tay thời học sinh gợi nỗi xúc động khi sắp rời trường. Bài Hạnh phúc (Giang Nam) trích cảnh người cha lần đầu đưa con đến trường sau ngày đất nước thống nhất, diễn tả niềm hạnh phúc giản dị mà lớn lao của bậc làm cha mẹ trong hòa bình. Bài Con nằm (Tế Hanh) lại khắc họa tuổi thơ êm ấm của em bé nằm giữa cha và mẹ, qua đó tôn vinh mái ấm gia đình như điểm khởi đầu đẹp đẽ trên hành trình khôn lớn. Nhóm chủ đề này nhấn mạnh ý nghĩa của tuổi trẻ, giáo dục và những ước mơ trưởng thành.

Thơ trong các đề thi còn là những hoài niệm quê hương, tuổi thơ và vẻ đẹp đời sống thường nhật. Một số bài thơ gợi nỗi nhớ da diết về quê nhà, cảnh cũ, hoặc tôn vinh vẻ đẹp mộc mạc, bình dị của cuộc sống thôn quê như Nhớ dừa (Lê Anh Xuân), Ngẩn ngơ tìm (Nguyễn Ngọc Hưng), Bữa cơm quê (Đoàn Văn Cừ)... Những bài thơ này khơi dậy tình yêu và sự trân trọng đối với quê hương, gia đình, với những giá trị truyền thống tốt đẹp đã nuôi dưỡng tâm hồn mỗi người. Các bài thơ có thông điệp về lẽ sống, nhân sinh quan cũng gây cảm hứng cho học sinh như Dặn con của Đoàn Mạnh Phương…

Phần lớn ngữ liệu thơ vẫn tập trung vào các đề tài truyền thống hơn là các vấn đề xã hội gai góc. Chủ đề thơ trong đề thi tuyển sinh giàu tính nhân văn và truyền thống, các đề tài gây tranh cãi không được nhắc đến.

Thơ Việt giữ một vai trò quan trọng trong đề thi Ngữ văn trung học phổ thông. Thơ được dùng làm phương tiện truyền tải những giá trị văn hóa, lịch sử và đạo đức tới học sinh. Tuy nhiên, khi đặt hiện tượng này bên cạnh đời sống thơ Việt đương đại, chúng ta nhận ra một số điểm đáng suy ngẫm về độ mở thẩm mỹ và tư tưởng của thơ trong đề thi so với thực tế bên ngoài. Trước hết, về độ phổ biến và vị thế hiện nay, thơ không còn là “món ăn tinh thần” chủ đạo như vài thập niên trước. Công chúng có nhiều lựa chọn giải trí khác làm cho vị thế thơ ca suy giảm phần nào. Hiện nay số người sáng tác thơ lại rất đông đảo, nhờ sự bùng nổ của mạng xã hội và internet. Ngoài báo in, số lượng thơ được công bố trên không gian mạng thì nhiều vô kể. Hiện tượng này chứng tỏ người Việt vẫn rất yêu thơ, làm thơ nhiều, tạo nên bề rộng phong trào sáng tác. Tuy nhiên, mặt trái là quá nhiều thơ, quá nhiều người sáng tác, khiến độc giả khó phân biệt đâu là tác phẩm thực sự có giá trị.

Thơ trong các đề thi tốt nghiệp cấp trung học phổ thông dường như vẫn giữ thiên hướng tuyển chọn kỹ càng qua góc nhìn của các nhà giáo dục. Chỉ những tác phẩm đã được khẳng định hoặc phù hợp chuẩn mực mới được đưa vào giảng dạy và kiểm tra, đánh giá. Các thầy cô giáo ra đề cũng thực hiện một quá trình sàng lọc để những tác phẩm tốt đến tay học sinh. Hiện tượng này hoàn toàn dễ hiểu về mặt giáo dục: Chương trình không thể chạy theo tâm lý đám đông trên mạng, mà phải bảo đảm chất lượng và tính định hướng. Do vậy, độ mở của thơ trong các đề thi tốt nghiệp có phần hạn chế so với sự đa dạng ngoài xã hội.

Về nội dung tư tưởng, có thể nhận thấy thơ được chọn trong đề thi hầu hết đều truyền tải thông điệp tích cực, chính thống và mang tính giáo dục cao. Những đề tài nhạy cảm không phù hợp với định hướng giáo dục hầu như không xuất hiện. Trong đề thi, những bài thơ đương đại nói về mặt trái xã hội, bi kịch cá nhân, hay phản biện hiện thực một cách gai góc vắng bóng. Không gian Internet nhiều khi trở thành nơi người viết phá vỡ những điều cấm kỵ, hoặc bày tỏ cái tôi một cách bản năng. Những dòng thơ “phá cách” ấy không được đưa vào đề thì, có lẽ vì chưa phù hợp với đối tượng học sinh phổ thông hoặc không đáp ứng tiêu chí giáo dục.

Về hình thức nghệ thuật, thơ đương đại Việt Nam rất phong phú, với nhiều xu hướng cách tân mạnh mẽ từ thời Đổi mới (1986). Những nhà thơ tiêu biểu như Mai Văn Phấn, Đỗ Doãn Phương... đã mở rộng biên độ thẩm mỹ của thơ Việt bằng những hình ảnh siêu thực, cấu trúc tự do, ngôn ngữ đa thanh... Nhìn vào danh sách tác phẩm thơ trong đề thi, sẽ thấy ít dấu hiệu của trường phái cách tân cực đoan. Đa số bài thơ vẫn viết theo lối tự do hoặc truyền thống tương đối dễ cảm, ngôn ngữ gần gũi, giàu nhạc điệu và hình ảnh quen thuộc. Có thể nói, các thầy cô ra đề chấp nhận hình thức thơ hiện đại, nhưng đó là sự hiện đại không quá xa rời cảm thụ thông thường. Mặt khác, nó cũng phản ánh định hướng thẩm mỹ mang tính trung dung của chương trình Ngữ văn, trân trọng phong cách truyền thống, đồng thời khuyến khích những tìm tòi đổi mới ở mức độ nhất định.

Sự xuất hiện của thơ trên mạng xã hội trong đời sống đương đại cũng tác động gián tiếp đến việc giảng dạy Ngữ văn trong nhà trường. Nhiều giáo viên và học sinh ngày nay tiếp cận thơ không chỉ qua sách giáo khoa mà còn qua Facebook, blog, các câu lạc bộ thơ online. Xu hướng thơ mạng những năm gần đây đã khiến diện mạo thi ca sôi động hơn, đồng thời đặt ra thách thức: Làm sao phân biệt thơ hay với vô số thơ trung bình trên mạng? Nhà trường một mặt không sử dụng trực tiếp thơ “mạng” vô danh làm ngữ liệu, nhưng mặt khác thầy cô giáo không thể ngăn cản học sinh đọc thơ mạng ngoài giờ học. Vì thế, có thể thấy các đề thi vẫn bám trụ những tác giả có tên tuổi và những tác phẩm đã được xuất bản chính thống. Một vài tác giả trẻ được đưa vào cũng đều là hội viên Hội Nhà văn, từng đoạt giải và có tác phẩm in sách báo uy tín, chứ không chọn những “hiện tượng mạng” thuần túy.

Hiện nay, thơ không còn chỉ viết về những điều giản dị bắt gặp quanh ta, mà còn nói lên tiếng lòng cá nhân đa dạng, thậm chí nổi loạn, thử nghiệm nhiều lối biểu đạt mới mẻ, thì thơ trong trường học vẫn chủ yếu quay về những giá trị quen thuộc. Một bộ phận học sinh có thể cảm thấy thơ trong sách vở xa với thị hiếu đọc hiện nay, trong khi trên mạng họ lại hào hứng với những câu thơ mới và lạ. Khoảng cách giữa thơ trong nhà trường và thơ đời sống vẫn còn độ vênh nhất định.

Nhìn từ góc độ văn hóa và giáo dục, có thể hiểu các nhà trường đang làm nhiệm vụ “định hướng thẩm mỹ” cho học sinh. Việc lựa chọn các tác phẩm thơ trong đề thi cho thấy ngành giáo dục muốn gìn giữ các giá trị nền tảng và hình thành năng lực cảm thụ văn học cơ bản trước. Khi nền tảng đã vững, sau này học sinh bước ra ngoài sẽ có đủ bản lĩnh để tự khám phá những chân trời thơ ca rộng lớn hơn.

Thực tiễn đã chứng minh thơ Việt vẫn giữ một vị trí xứng đáng trong chương trình giáo dục. Hằng năm, nguồn thơ Việt sẽ được tiếp tục chắt lọc để đưa vào đề thi. Những tác giả được trích dẫn và chủ đề tác phẩm cho thấy sự tiếp nối truyền thống: Thơ ca tiếp tục là kênh chuyển tải hữu hiệu những giá trị tư tưởng, tình cảm cao đẹp tới thế hệ trẻ. Nhà trường nói riêng và ngành giáo dục nói chung sử dụng thơ như một công cụ để giáo dục tâm hồn, từ lòng yêu nước, yêu quê hương đến tình mẫu tử, tình thầy trò và bài học làm người. Hệ thống câu hỏi đọc hiểu được thiết kế bài bản, giúp học sinh rèn luyện kỹ năng phân tích và liên hệ, qua đó từng bước thẩm thấu vẻ đẹp ngôn từ và thông điệp nhân sinh của thơ ca.

Thơ trong các đề thi tốt nghiệp có thể chưa phản ánh hết bức tranh đa dạng và sinh động ngoài xã hội, nhưng điều đó là dễ hiểu và có chủ ý. Giáo dục phổ thông cần chọn lọc những gì tinh túy, phù hợp nhất với lứa tuổi và mục tiêu đào tạo. Thơ Việt trong giáo dục phổ thông hiện nay vẫn rất được coi trọng, nhưng độ mở thẩm mỹ, tư tưởng còn cần nhiều bước tiến để không lạc hậu với hơi thở đương đại. Sự cân bằng giữa gìn giữ và đổi mới là chìa khóa. Khi học sinh được nuôi dưỡng bằng những vần thơ hay và sống động, các em sẽ vừa biết trân quý cội nguồn tinh thần, vừa sẵn sàng tiếp nhận những làn gió mới của thi ca. Đó chính là mục tiêu cao nhất: Làm cho thơ ca tiếp tục “đồng hành cùng dân tộc” trong tâm hồn thế hệ trẻ, để mỗi bài thơ học ở trường không chỉ là bài học thuộc lòng, mà còn là hành trang cảm xúc và tư tưởng theo các em vào đời.

 N.V.D