Trong bản lý lịch của mỗi sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam có mục yêu cầu phải tự ghi vào đó tên chiến trường, địa phương quen thuộc của mình. Mục đích là để cấp trên biết mà điều động, sử dụng cán bộ vào đúng cái nơi mình thông thạo địa hình, quen biết đồng bào, đồng chí giúp thuận lợi hơn trong chỉ đạo tác chiến. Trong quân sự, nhiều khi thiên thời không bằng địa lợi, địa lợi không bằng nhân hoà. Biết kết hợp địa lợi với nhân hòa thì chuyển xoay được tình thế trong những tình huống khó khăn. Mặt khác, khi người chiến sĩ đã xác định được cho mình chiến trường, địa phương quen thuộc thì cũng có nghĩa là xác tín với cấp trên rằng: mình đã có sự lặn lội, từng trải, có độ gắn kết máu xương với một vùng đất cụ thể của Tổ quốc. Trong bản lý lịch của mình, bao nhiêu lần khai là bấy nhiêu lần tôi trân trọng nắn nót viết vào mục “chiến trường, địa phương quen thuộc” ba chữ Nam Quảng Trị in hoa với một niềm hãnh diện và tự hào.
Ngày tôi vào, chiến trường Nam Quảng Trị được xếp vào Mặt trận B4, theo cách chia từng địa bàn chiến lược theo thứ tự từ ngoài vào: Từ sông Bến Hải vào đường số 9 là chiến trường Bắc Quảng Trị, có hậu cứ an toàn đóng trên đất miền Tây Vĩnh Linh thuộc hậu phương miền Bắc, được gọi là Mặt trận B5. Từ đường số 9 trở vào Nam Quảng Trị và Thừa Thiên Huế là Mặt trận B4... Xếp thứ tự gần miền Bắc thứ hai sau B5 nhưng B4 lại bị kẹt giữa hai tuyến phòng ngự “cứng” nhất của Mỹ - nguỵ ở chiến trường miền Nam lúc bấy giờ. Phía Bắc là tuyến phòng thủ đường số 9. Phía Tây là tuyến giáp ranh thuộc hệ thống hàng rào điện tử Mác-na-ma-ra. Vì vậy, việc tiếp tế từ miền Bắc vào cho B4 qua ngả đường số 9 và phía Tây xuống đều rất khó khăn. Cán bộ và chiến sĩ B4 phải sống và chiến đấu gần như độc lập hoàn toàn. Phải đánh địch để tiếp xúc với dân mua lương thực mà ăn, đánh địch để lấy vũ khí trang bị cho mình mà tiếp tục chiến đấu. Các loại rau củ hoang dại ở rừng miền Nam Quảng Trị như: môn thục, tai voi, củ mài, củ chụp, là thức ăn hằng ngày của chiến sĩ ta. Những chuyến về đồng bằng lấy lương thực, thực phẩm do các gia đình cơ sở cách mạng thu mua gom từng ít một tích trữ lại, bao giờ cũng gian nan, thương vong từ những chuyến đi ấy không kém những trận đánh lớn. Khó khăn gian khổ đến độ lính ta đã tự biếm hoạ chân dung của mình một cách hài hước: “Quần đùi, gùi bạt, bát ống bơ/ Mặt mũi bơ phờ là quân B4!”.
* * *
Vừa đung đưa cánh võng giữa cánh rừng già mát rượi ở đầu nguồn sông Mỹ Chánh, tôi vừa lục vấn hạ sĩ tiểu đội trưởng Nguyễn Thanh Huần, chàng trai quê đất tổ Hùng Vương, anh vào chiến trường trước tôi một năm:
- Vì sao gọi là “dốc đầu bò”?
- Ngày trước tụi Mỹ đổ quân chốt trên dốc đó, chúng dùng trực thăng chở tới một con bò, bọn lính chốt làm thịt bò ăn rồi lên trực thăng rút đi. Quân ta bám sát, thấy chúng vứt lại cái đầu bò liền vác về liên hoan nên từ đó về sau gọi là dốc đầu bò để phân biệt với các dốc khác.
- Tại sao có tên là “ngã ba cưa”?
- Đó là ngã ba của tuyến giao liên dọc với một nhánh rẽ ngang xuống đồng bằng. Thường thì khi đến ngã ba này, quân dân chính đảng gì cũng không hẹn mà ngồi nghỉ rất lâu. Gặp nhau thì nói đủ thứ chuyện trên đời, kể cả chuyện tán dóc của lính nên lính ta đặt tên là: “Ngã ba cưa”.
- Tại sao gọi là “Khe xi rô”?
- Mùa hè về đồng bằng lấy hàng, cơ sở cách mạng cẩn thận gói cho cả một cân bột xi rô để lên rừng pha nước giải khát. Một cân bột xi rô của Mỹ pha được một mét khối nước xi rô, tương đương một ngàn lít. Đi đường mệt và khát, lính ta dốc cả gói bột xuống hố nước trong khe cạn rồi lấy mũ cối múc uống. Ai đi qua cũng thấy nước đỏ lòm vì thế mà có tên gọi “khe xi rô”.
Tôi cứ hỏi hết chuyện này sang chuyện khác, anh Huần cứ nhẫn nại giải thích. Không biết anh trả lời đúng hay là anh phịa ra để gạt tôi, nhưng nghe cứ vui vui nên tôi cứ hỏi mãi. Đó cũng là cách để giết thời gian chờ đợi giữa hai trận đánh.
Nếu ký ức là dĩ vãng vô giá của một đời người, thì Nam Quảng Trị trong tôi là cả một miền ký ức... Tôi đến Nam Quảng Trị để bắt đầu cuộc đời chiến sĩ và từ miền đất này tôi bước ra khỏi cuộc chiến tranh trong niềm hân hoan cùng cả dân tộc mừng ngày vui toàn thắng.
* * *
Cuộc đời người lính có nhiều kỷ niệm sâu sắc, nhưng kỷ niệm đầu tiên bao giờ cũng để lại dấu ấn sâu đậm, khó quên. Kỷ niệm mở đầu đời lính của tôi không phải là một trận đánh ác liệt, mà là một chuyến công tác vào vùng địch kiểm soát. Đó là lần tôi được phân công theo các đồng chí du kích về đồng bằng lấy hàng. Nói là đồng bằng chứ thực chất là về các gia đình cơ sở cách mạng dọc tuyến giáp ranh với rừng của các xã Hải Phú, Hải Lâm, Hải Sơn, Hải Chánh (xã Hải Lăng và Nam Hải Lăng bây giờ) để mua gạo và nhu yếu phẩm mang lên cho đơn vị ở trên rừng.
Về lòng yêu nước và trách nhiệm công dân, tôi đã được học mười năm lý thuyết trong nhà trường phổ thông ở miền Bắc nhưng vẫn chưa định hình được một cách cụ thể. Lên đường ra trận, tôi vẫn nghe ba tiếng “lòng yêu nước” là một cái gì siêu thực, được những người siêu việt làm nên. Nhưng đến Quảng Trị, chạm vào thực tế chiến trường, chỉ sau một đêm, tôi hiểu ra rằng lòng yêu nước của người Việt Nam mình giản dị chân thành như yêu củ khoai, hạt thóc, yêu cuộc sống vô tư, bình yên sau mỗi lũy tre làng.
* * *
Đêm tối như mực, chỉ có những chiến sĩ du kích người địa phương mới biết là đến thôn nào, xã nào và vào nhà ai để nhận hàng. Dẫn đường cho chúng tôi là một cô du kích trẻ. Tôi nhận biết nét trẻ trung, lanh lợi, vẻ đẹp thanh tú của cô qua giọng nói chứ không nhìn rõ mặt vì cô đón chúng tôi ở cửa rừng để xuống đồng bằng vào lúc chập tối.
Sau gần ba giờ luồn lách qua các chốt chặn theo chiến thuật “rải mỏng, chốt dày” của địch, chúng tôi lặng lẽ tiến vào một ngôi làng sát chân đồi và dừng lại trước một mái nhà tranh. Cô du kích cử chúng tôi làm nhiệm vụ cảnh giới rồi nhẹ nhàng bước lên phát ám hiệu. Im lặng một lúc rồi nghe tiếng cô du kích gọi nhẹ nhẹ lao xao:
- Mạ ơi, tụi con lại về đây này!
- Mấy đứa?
- Dạ có bốn đứa cả thảy mạ nờ.
- Có đứa mô bộ đội chủ lực ngoài Bắc mới vô không?
- Dạ có ba eng đặc công, trẻ lắm.
Tiếng cô du kích cười khúc khích, rồi tiếng mẹ mắng yêu:
- Cha mi, khi mô cũng rứa! Có gói kẹo nu ga đây, cho riêng mấy đứa ngoài Bắc mới vô nghe, bọn nó ở xa, vô đây chắc nhớ nhà lắm!
Tiếng cô du kích tị nạnh:
- Mạ thiên vị quá, cưng chủ lực hơn du kích xã đó nghe?
Tiếng mẹ càm ràm:
- Đứa mô mạ cũng cưng hết, nhất là những đứa con gái như mi. Đánh giặc mau mà về lấy chồng, con gái có thì, không “trường kỳ kháng chiến” trong việc đó được mô!
- Mạ thì khi mô cũng diễn bài “tâm lý chiến” ni với con, ôốc dôộc với mấy eng chủ lực ngoài nớ quá!
- Thôi, đừng có nhõng nhẽo, thu xếp nhanh mà lên rừng kẻo gần sáng rồi dễ gặp tụi địa phương quân đi tuần. Này là gạo, đồ hộp quân tiếp vụ, pin nguồn để chạy máy thông tin, thuốc tây, mạ đóng đủ bốn gùi.
- Mạ giỏi hung hè!
- Giỏi giang chi, mấy thằng cảnh sát dã chiến hạch hỏi ỏm lên. Đi chợ mỗi lần tau mua năm lon gạo, tụi nó bảo tau: “Mụ ni già rồi mà còn ăn dữ hí? Hay mua gom để tiếp tế cho Việt cộng?”. Chúng chỉ cho mỗi lần đi chợ được mua ba lon thôi. Tau nói: Già rồi, thưa đi chợ, mua một lần về ăn dần, tụi nó mới cho. Có bữa gặp mấy thằng tai ác nó đong lại cho đúng ba lon, còn hai lon nó vãi ra quanh trạm gác không mót lại được một hột. Rứa là về nhà tau kiếm khoai sắn chi đó ăn tạm để góp đủ gạo cho tụi bay về lấy đúng hẹn.
Tôi nghe cay cay nơi khóe mắt, lòng thầm biết ơn bà mẹ cơ sở sống trong vùng địch kiểm soát đã tần tảo, chắt chiu, gom góp cho chúng tôi từng lon gạo, hạt muối, âm thầm lặng lẽ, hy sinh cho cách mạng.
- Mạ mần răng mà mua được cả một gùi pin nguồn cho máy thông tin 2W rứa?
- Mỗi lần đi chợ, tau mang cái máy thu thanh cũ xài một lúc bốn viên pin đại ni theo. Khi đi thì mang máy không lắp pin, ra chợ mua pin mới bỏ vào, về đến gần điểm kiểm soát của chúng mới mở máy cho nói. Qua điểm gác thì tháo pin ra khỏi máy ngay kẻo sụt nguồn, không đảm bảo phiên liên lạc...
Tiếng cô du kích thầm thì:
- Con gửi tiếp cho mạ chỗ tiền ni để mạ lại mua hàng đóng gói cho tụi con tuần tối trăng sau về lấy nghe.
- Ừ, nhưng mà mi cho mạ coi mấy đứa chủ lực ngoài Bắc mới vô có được mạnh khỏe không đã rồi lên.
Cô du kích chạy ra phân công, giọng thì nghiêm túc nhưng nghe như đùa:
- Hai eng tiếp tục cảnh giới, còn eng ni đi với út vô đây cho mạ coi mặt, nếu mạ ưng thì út cũng ưng, mai mốt lên rừng ta tổ chức đám cưới luôn!
Cô du kích hồn nhiên kéo tay tôi dẫn đến trước mẹ. Trời tối, tôi không nhìn rõ mặt mẹ, chắc chắn mẹ cũng không nhìn thấy mặt tôi. Mẹ cầm tay tôi mân mê má rồi nắm rất chặt. Mãi một hồi mẹ mới hỏi một câu mà chứa đựng cả hàm ý trả lời:
- Nhớ nhà lắm phải không con?
- Vào trong này có mạ, có út đây là con yên tâm rồi!
Về sau, mỗi lần nhớ lại giây phút xúc động đó, tôi vẫn không hiểu nổi vì sao ở tuổi hai mươi, tôi lại có thể trả lời với mẹ được một câu già dặn và hay ho đến thế!
Trước khi chia tay, mẹ còn dặn với theo:
- Tụi bay đều đi giày ngụy cả phải không?
- Dạ?
- Đi ngang qua vạt nén (hành tăm) ngoài đồi, bay cứ nhổ một ít mang lên rừng nấu canh mà ăn cho đỡ ngã nước.
Mờ sáng, chúng tôi lên tới cửa rừng giáp ranh và dừng lại. Cô du kích phân công:
- Bây giờ ta chia ra hai toán, chui vào bụi cây ngủ, chiều tối đi tiếp. Sắp đến giờ trực thăng soi rồi. Hai anh đến lùm kia.
Cô chỉ vào tôi:
- Còn eng ni với út ở lùm này…
Chúng tôi chấp hành sự phân công của cô du kích như chấp hành mệnh lệnh của chỉ huy, nhanh chóng biến vào các bụi cây rậm rạp.
Trong khi tôi đang loay hoay chưa biết xử lý thế nào thì cô du kích đã dùng khẩu súng AK đè bẹp các cây nhỏ xuống, tạo một chỗ nằm phẳng phiu. Vẫn giọng chỉ huy, cô nói:
- Eng mang vỏ chăn thì bỏ ra trải xuống dưới đất, út có cái mảnh vải dù hoa nhỏ này để đắp. Nằm trở ngược đầu nhau. Eng cảnh giới qua đầu út, út cảnh giới qua đầu eng, súng ai người đó cầm nhưng phải kiếm hai cái nạng đóng xuống đất để kê nòng súng lên cách mặt đất một gang. Khi có sự cố gì chỉ cần nhấc báng súng lên tỳ vai là bắn được ngay. Đề phòng tụi thám báo thôi chớ lên được đây coi như an toàn. Mình tranh thủ ngủ để bù mấy đêm bám đường thức trắng.
Nói thế nhưng cô du kích không ngủ ngay. Nằm một chút, cô nhỏm dậy:
- Eng ngủ trước đi, út đi đây một chút.
Mười lăm phút sau, cô trở về. Tôi mở mắt. Cô xuất hiện trong bộ đồ bà ba vải lụa đen láng, tôn làn da trắng mịn màng. Thì ra là cô xuống suối tắm. Cô nhìn tôi bẽn lẽn:
- Tụi út thức mấy đêm bám đường, mới bảo đảm hành lang đưa được mấy eng về lấy hàng trở lên an toàn. Lên tới đây phải tắm mới ngủ được, con gái khổ thế.
Cô nằm lên trên chiếc chăn thám báo ấm mềm của tôi, khẽ khàng kéo mảnh vải dù hoa đắp lên người và hình như ngay lập tức cô ngủ ngon lành, ngủ vùi sâu.
Tôi bồn chồn không ngủ được, nằm im một lúc, khi nghe cô du kích đã thở êm nhẹ đều đều, tôi nhẹ nhàng ngồi dậy mở gùi lấy quyển sổ tay ra ghi nhật ký.
Bóng nắng lọt qua lùm lá thưa đậu từng giọt nhỏ li ti lên mặt, lên môi cô du kích. Khuôn mặt cô bầu bĩnh ngây thơ như trẻ con không hề gợn một chút ưu tư giữa cuộc chiến tranh cực kỳ khốc liệt. Gương mặt cô du kích toát lên sự thanh thản bình yên dù trên bầu trời chốc chốc tiếng máy bay phản lực gầm gào vạch các đường bay ngang dọc, mặt đất cứ luôn rung lên bởi tiếng nổ của bom và đạn trọng pháo. Ngắm cô ngủ say sưa, tôi liên tưởng đến một con nhộng tằm được bọc trong chiếc kén tơ vàng óng, mịn màng...
Trời xế chiều, cái kén tằm mới động đậy và liền sau đó là một nụ cười viên mãn:
- Ngủ đã đời eng hi!
Tôi cười trừ, một ngày giáp ranh căng thẳng với một lính mới vào chiến trường như tôi không tài nào ngủ được dù đêm qua gần như thức trắng. Tôi vội gấp sổ, cất bút nhưng cô du kích đã kịp nhìn thấy hai trang giấy được viết kín chữ của tôi, cô hốt hoảng hỏi dồn dập:
- Sáng đến chừ eng thức à? Eng viết văn à? Lính tráng ở chiến trường phải biết thích ứng, phải tập làm quen với cách thức sinh hoạt mới “thức là ngày ngủ là đêm”. Đi trận mà ngó bộ eng như “lính cậu” kiểu ni không đủ sức khỏe để trụ vững được một mùa chiến dịch đâu.
Nghe cô nói một thôi một hồi tôi thấy buồn cười. Cô du kích giáp ranh chỉ bằng tuổi em gái tôi, nhưng có thâm niên chiến trận hơn tôi hẳn hai năm. Ở chiến trường thì “lính buổi mai cai lính buổi hôm” là chuyện thường, huống chi cô hơn tôi cả bảy trăm “buổi mai, buổi hôm” trận mạc dài dằng dặc. Tôi phân bua với cô rằng: ghi nhật ký là thói quen của tôi. Ngày mai chiến thắng trở về thì nhật ký là kỷ niệm của riêng tôi, nếu chẳng may hy sinh thì nhật ký là di vật của liệt sĩ gửi lại cho gia đình và bè bạn mai sau.
Cô du kích không nói nữa. Mặt cô nhìn ra xa, vẻ buồn buồn:
- Là út nghĩ răng thì nói rứa nà. Út ít được học lắm, mà có ưng cũng không viết được nhanh và nhiều như eng. Khi hòa bình rồi, ai mà viết lại chuyện chiến đấu của chúng mình như những ngày hôm nay e nhiều người không tin nổi eng hi!
Cô du kích giục tôi chuẩn bị trang bị để tiếp tục hành quân. Nhưng cô thì ngập ngừng một lúc rồi mới rụt rè hỏi:
- Eng có còn bộ quân phục nào trong gùi không?
- Có, một bộ mới để phòng khi đánh nhau mà hy sinh kẻ thù lục ba lô còn thấy bộ đội mình cũng tươm tất cả lúc chết.
- Eng lấy ra cho út mượn để thay bộ ni. Mặc bộ bà ba lụa ni mà luồn rừng thì tan mất, uổng lắm…
Tôi mở gùi lấy trao cho cô bộ quân phục mới duy nhất mà tôi mang theo. Cô đi nhanh ra khỏi lùm cây. Lát sau trở lại trong bộ quân phục mới rộng thùng thình của tôi, trông cô trẻ ra và nhí nhảnh hơn.
* * *
Lên đến hậu cứ, ba hôm sau, cô du kích cắt đường rừng đi bộ năm cây số đến đơn vị tìm tôi trả bộ quân phục đã mượn. Bộ quân phục được gấp nếp phẳng phiu thoang thoảng thơm mùi xà phòng. Có lẽ đó là bộ quân phục được giặt sạch sẽ, gấp vuông vắn và thơm tho nhất trong suốt cuộc đời quân ngũ kéo dài gần mười lăm năm qua khắp các chiến trường của tôi...
Sau chuyến công tác đầu tiên, được tiếp xúc với những con người giáp ranh bình dị, hồn hậu, trong đầu tôi cứ trăn trở một câu hỏi: “Tại sao một bà mẹ nghèo, sống trong vòng kìm kẹp của địch, chưa từng qua một lớp bồi dưỡng lý luận chính trị dù là cấp tốc hay ngắn hạn, lại có được sự giác ngộ cách mạng đến hoàn hảo, một niềm tin son sắt vào sự thắng lợi tất yếu của cách mạng như vậy? Tại sao một cô du kích trẻ, có trình độ học vấn thấp lại hồn nhiên vô tư chấp nhận cuộc chiến đấu đầy hy sinh gian khổ và vô cùng ác liệt, khi hình ảnh về mô hình xã hội tốt đẹp trong tương lai, với cô mới chỉ là khái niệm chưa rõ hình hài?”.
Suốt một thời gian dài tôi đã không lý giải được câu hỏi này. Nhưng hình ảnh bà mẹ cơ sở cách mạng hoạt động trong vùng địch tạm chiếm, bất chấp sự o ép, rình rập bắt bớ của kẻ thù, vẫn hướng về cách mạng. Phong thái tự tin, bình tĩnh, chấp nhận cuộc chiến đấu ác liệt rất tự nhiên của cô du kích ở giáp ranh Hải Lăng trở thành chỗ dựa tinh thần của tôi trong suốt cuộc đời chiến sĩ. Những hình ảnh ấy vun đắp thêm niềm tin cho tôi trong những tình thế cực kỳ khó khăn ác liệt. Có lúc tưởng như tuyệt vọng, tôi đã định tìm cho mình con đường sống của một kẻ hèn nhát bằng cách viện dẫn đâu đó một câu triết lý: “Không biết hy sinh pháp luật không bắt tội...” Nhưng rồi nhớ đến cái cầm tay da diết của mẹ, phong thái đĩnh đạc của cô du kích trẻ, lòng tự trọng về nhân cách trong con người tôi bỗng trỗi dậy và tôi đã bước ra khỏi cuộc chiến tranh trong tư thế chiến thắng, xứng đáng với mẹ và cô.
Rồi cuối cùng tôi cũng đã tự tìm được câu trả lời đầy đủ sau nhiều năm hành quân, chiến đấu qua các chiến trường. Một Bà mẹ Việt Nam Anh hùng và con dâu của mẹ cũng là một Bà mẹ Việt Nam Anh hùng đã nói với tôi: “Tôi theo cách mạng, hoạt động cách mạng vì tôi tận mắt chứng kiến nhiều cán bộ cách mạng bị địch bắt giam, tra tấn hết sức dã man. Chúng chặt đầu, moi gan phơi xác giữa chợ nhiều chiến sĩ cách mạng kiên trung nhưng không một ai tỏ ra run sợ đầu hàng, hoặc phản bội xung khai. Lý tưởng, mục tiêu phải cao cả, chủ thuyết phải quang minh chính đại thì người chiến sĩ cách mạng mới dám xả thân không ngần ngại như thế! Tôi theo cách mạng là theo chính nghĩa. Còn tụi tự xưng là “quốc gia, cần lao, nhân vị”, thì nói một đàng, làm một nẻo, không biết lòng dân đang âm thầm ly tán.
Năm mươi năm hòa bình đã trôi qua, dẫu ít có điều kiện về thăm lại chiến trường xưa, nhưng giữa cuộc đời bươn chải mưu sinh, lòng tôi vẫn luôn hướng về miền đất giáp ranh Hải Lăng với những ký ức không bao giờ nguôi quên trong những năm tháng ấy.
