Giới thiệu
Tin tức
Sự kiện & Đối thoại
Sáng Tác
Nghệ thuật
Lý luận & Phê bìnhNgười & Đất quê hương
MultiMedia
Zalo

Đồng đội

HOÀNG ĐÌNH BƯỜNG    10/01/2026    6
Kỷ niệm 55 năm (1965 - 2020) thành lập Trung đoàn và khánh thành Đền Tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ Trung đoàn 6 - Phú Xuân anh hùng tại chiến khu Ba Lòng, huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị có hàng ngàn người về dự. Xe cộ rộn ràng, cờ hoa đỏ rực một vùng. Cựu chiến binh (CCB) là lực lượng đông nhất, nhiều người đã ngoài 80 tuổi. Bao nhiêu năm xa cách, người nằm lại chiến trường, kẻ về quê làm ăn sinh sống, nghe tin xây dựng Đền Tưởng niệm đồng đội hy sinh, ai cũng háo hức muốn đến thắp nén hương tri ân, tưởng nhớ người đã khuất và gặp nhau tâm sự sau mấy chục năm đằng đẵng. Hơn 13 ngàn anh linh cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 6 - Phú Xuân anh hùng nằm lại trên mảnh đất Trị - Thiên đang được thỉnh về Đền, ai cũng tin là vậy và cảm thấy yên tâm hơn sau mấy chục năm mong mỏi đợi chờ.

Hội trường dã chiến bên cạnh Đền nóng bốc lửa bởi nắng hè và lượng người đông quá tải. Giữa sân Đền, các đoàn CCB ở nơi xa về muộn đang tề tựu chờ đến lượt dâng hương, mặt trầm tư, mắt đỏ hoe trong hương khói nghi ngút …

Tôi gặp Đại tá, thương binh Phan Sỹ Khứ, nguyên Tham mưu trưởng Trung đoàn 6 - Phú Xuân đang ngồi uống nước và trò chuyện với các CCB dưới tán cây rừng bên Đền, phía sau hội trường. Tôi chào và bắt tay ông thật chặt. Tuổi 80 với 15 năm liên tục trận mạc ở chiến trường Lào và Việt Nam, ông không được khoẻ, làn da mai mái như da sốt rét rừng, chân tay vận động khó khăn, ngồi không vững, phải tìm chỗ dựa.

Là đồng đội lại là đồng hương Quảng Bình nhưng hồi ở chiến trường Trị - Thiên tôi chưa gặp ông bao giờ, chỉ nghe tin ông ở Trung đoàn bộ. Trung đoàn hoạt động trên địa bàn hai tỉnh dài dằng dặc từ sông Bến Hải đến đèo Hải Vân. Tôi ở đơn vị chiến đấu thuộc Tiểu đoàn 1 chủ công, luôn đánh và chốt ở vùng giáp ranh, không có điều kiện ra phía sau mặt trận nên khó gặp ông. Dù Đại tá Phan Sỹ Khứ không được khỏe nhưng đây là dịp may mắn hiếm có, tôi tranh thủ bắt chuyện. Bỏ qua cơ hội này thì quá uổng, quá tiếc! Người thì mới gặp lần đầu nhưng chuyện về ông tôi biết khá nhiều, giờ chỉ “thẩm định” thêm cho rõ. Tôi tự giới thiệu về mình, đặc biệt là thời gian bốn năm ở chiến trường, ông chăm chú lắng nghe, nheo nheo đôi mắt trìu mến, thân tình, xóa tan sự mệt mỏi do sức khỏe, tuổi tác:

- Lính sinh viên các cậu tôi biết, Quảng Bình có mấy đứa ở Đại đội Trinh sát - Vệ binh, sau này về dạy học, Lệ Thủy, Quảng Trạch đều có cả.

Tôi nhắc mấy cái tên cụ thể như Thiết, Quy, Lính, Hiếu, ông đều nhận ra. Nói đến Lê Công Lính, mắt ông đỏ hoe, trầm ngâm nhìn xa xăm:

- Tội nghiệp! Lính cùng quê Lệ Thuỷ, nó ở Hồng Thuỷ, mình ở Tân Thuỷ, cách nhau có bao xa, giờ thì âm dương đôi ngả. Lính hy sinh nhưng cũng như hàng ngàn đồng đội khác của Trung đoàn ta - không tìm được hài cốt, mộ chí. Xót xa quá nhưng gần như bất lực. Thời gian, mưa nắng, đạn bom chặn đứng mọi cuộc tìm kiếm qua mấy chục năm. Giờ thì chỉ có ngôi đền…

Nói tới đây, tôi thấy người lính già khóc thật sự, mặt nhăn nheo, nước mắt giàn giụa, rười rượi buồn. Hai tay bó gối ngồi không vững, ông ghé nghiêng bên gốc cây, một tay chống đất trụ người. Phải đến mươi phút sau tôi mới bắt lại chuyện sau chiến tranh. Khi biết tôi là lính sinh viên ra quân cuối năm 1975, về quê dạy học và nhiều lần coi thi, chấm thi ở huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình, mắt ông rạng ngời, thân thiết:

- Rứa mà lâu ni không biết. Mấy đứa lính Trinh sát - Vệ binh ở Quảng Bình có gặp vài lần tại Huế, vui lắm. Hội ngộ vui vẻ lại nhớ thương, xa xót cho thằng Lính quê mình. Không biết nó có về cùng 13 ngàn đồng đội tại Đền hay phiêu bạt ở xứ sở nào trong ngày hôm nay!

Thời gian ngắn, sức khoẻ Đại tá Phan Sỹ Khứ không tốt, tôi tranh thủ hỏi luôn chuyện quan hệ giữa ông và anh hùng LLVTND Trịnh Tố Tâm. Mối tình đồng chí, đồng đội, anh em giữa hai người như bài ca cuộc đời xuyên qua năm tháng trong sáng, đẹp đẽ vô ngần, nhiều CCB Trung đoàn 6 - Phú Xuân biết, tôi cũng biết nhưng chỉ nghe kể lại. Hôm nay thì rõ ràng ông Khứ đang kể trực tiếp tại Đền thờ Tưởng niệm, tri ân đồng đội:

Tôi với chú Tâm đến với nhau từ tình đồng chí, đồng đội ở chiến trường rồi dần dà kết nghĩa anh em. Anh em như máu mủ thực sự, không có khoảng cách. Trịnh Tố Tâm sinh năm 1945, kém tôi năm tuổi, quê ở Ứng Hoà, Hà Nội. Sau ba năm chiến đấu ở chiến trường Lào, năm 1963 tôi về nước huấn luyện thêm và được điều vào chiến trường Trị - Thiên cho đến ngày kết thúc chiến tranh. Chuyện giữa tôi và chú Tâm khá dài, xuyên suốt từ chiến trường đến sau ngày hòa bình mấy chục năm, tình cũ nghĩa xưa không đổi. Nhưng sâu đậm, gắn bó nhất là thời gian ở chiến trường vùng đèo Phước Tượng - Phú Gia - Hải Vân, tỉnh Thừa Thiên - Huế.

Mưa ở vùng Phú Lộc, chú lạ gì. Mưa bốn tháng ròng rã không ngớt. Bao nhiêu điều bất lợi vì mưa nhưng mưa cũng là cơ hội đánh giặc lập công. Hồi đó tôi là Đại đội trưởng Đại đội 14 công binh (C14) chú Tâm làm liên lạc. Chúng tôi bám đèo suốt mùa mưa để đánh chặn tàu hỏa và ô tô quân sự của Chính quyền Sài Gòn đi qua cửa ải - cửa tử. Tôi nhớ như in, nhiều đêm mưa tầm tã, lạnh cóng, tôi cùng chú Tâm và nhóm trinh sát mò xuống đường tàu, sờ từng chiếc tà-vẹt tìm chỗ cài mìn. Phải gần hai giờ đồng hồ dầm trong mưa gió mới xong việc. Leo lên núi Hải Vân đã gần sáng, mở cơm nắm ra ăn, lạnh ơi là lạnh. Anh em ôm nhau ngồi trụ với cái lạnh thấu xương sau đó tìm đường đến hậu cứ, trời vừa sáng. Bao nhiêu lần trinh sát và đánh địch trên đèo Hải Vân ghi trong chiến công của đơn vị, tôi không nhớ hết. Nhưng lần nào cũng gian khổ, khó khăn, anh em sống chết bên nhau.

Ông kể tới đây, tôi nghe như chuyện của mình. Mùa mưa năm 1972, tôi cũng nếm trải cảnh này tại khu vực hang đá ông Hán (ông Hoàng Hữu Hán, nguyên Chính uỷ Trung đoàn 6 - Phú Xuân). Đói lạnh tê tái, phải ăn rong ở đầm Cầu Hai, tất cả các loại lá rừng ăn được đều trơ trụi, phải liều mạng vượt đèo Hải Vân về Hoà Vang, Đà Nẵng mua gạo chống đói. Bảy ngày trèo đèo lội suối, mỗi chiến sĩ mang về đơn vị chưa đến 20kg gạo. Có lần bị địch phục kích mất gạo, mất người. Chạy gạo từng bữa để đánh giặc giữa rừng núi âm u, đói…

Đại tá Phan Sỹ Khứ tiếp tục:

- Sau một thời gian ở C14, tôi được điều lên nhận nhiệm vụ ở Ban Công binh Trung đoàn. Chú Tâm vẫn ở đơn vị cũ và được đề bạt làm Đại đội trưởng C14. Quan hệ đồng chí, đồng đội, cấp trên, cấp dưới gắn bó thân tình, keo sơn, thế là kết nghĩa anh em. Anh em thật sự cho đến bây giờ và mãi mãi.

Thành tích đáng kính nể làm nên danh hiệu Anh hùng LLVTND của Trịnh Tố Tâm vẫn là thời kỳ sống, chiến đấu ở vùng đèo Hải Vân. Đánh sập, tiêu diệt hàng chục toa tàu và xe ô tô quân sự, địch khiếp hồn bạt vía khi qua biên ải là những gì chú Tâm đã làm. Chú là một trong những Anh hùng LLVTND có nhiều Huân chương nhất. Hòa bình, chú trưởng thành, làm đến chức Bí thư Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, rồi Thứ trưởng Bộ LĐ-TB-XH nhưng không bao giờ quên tình đồng đội, anh em. Có điều kiện là vù vô Huế thăm gia đình tôi, quý lắm. Cái nghĩa cái tình bắt nguồn từ chiến trường là vậy.

Nói đến đây, ông chững lại hồi lâu:

- Ai ngờ chú ra đi... sớm thế! Không rõ Trịnh Tố Tâm đoản mệnh (1945 - 1997) do số phận trời định hay bởi những tháng năm dầm mình trong bom đạn đánh giặc? Dù là gì thì cũng quá đau xót! Năm mươi hai tuổi, tương lai đang phơi phới đã vội vã từ giã cõi trần. Nhận được tin dữ, tôi choáng váng, ngất lịm. Mọi việc tang lễ xong xuôi, tôi quyết định lập bàn thờ trong nhà để thờ chú. Việc này cũng có lời qua tiếng lại, tôi biết nhưng chẳng sao cả. Vậy mới là tình nghĩa anh em… Đường sá xa xôi, tuổi cao sức yếu đi lại khó khăn, có bàn thờ trong nhà tiện cho việc sớm hôm hương khói, cảm thấy vẫn như có chú bên cạnh. Không những thế, tôi còn căn dặn con cháu giữ mãi mối tình này, đừng để phai nhạt qua năm tháng.

Gia đình chú Trịnh Tố Tâm ngoài đó cũng luôn trao đổi thăm hỏi gia đình tôi. Cháu Trịnh Hải Vân, con gái đầu lòng của chú mấy lần đến đèo Hải Vân, đi bộ từng đoạn đường, luồn lách khe núi tìm lại dấu xưa thời chiến tranh oanh liệt của cha và không quên ghé thăm gia đình bác. Cảm động lắm. Ngay việc đặt tên cho con gái đầu là Trịnh Hải Vân để kỷ niệm, chú cũng trao đổi với tôi. Anh em là thế, còn có gì hơn để nói. Thời trận mạc nghĩa tình sao mà cao đẹp đến vậy!

Ngồi lâu mệt mỏi, Đại tá Phan Sỹ Khứ đổi chiều quay nghiêng sang phía bên kia, mặt buồn xa vắng nhìn qua bên Đền thờ các anh hùng liệt sĩ:

- Trung đoàn 6 - Phú Xuân tổn thất hy sinh quá lớn, tương đương với tổng số liệt sĩ của cả Sư đoàn 324. Và xót xa hơn nữa là hàng trăm CCB Trung đoàn tham chiến ở chiến trường Trị - Thiên trở về sau chiến tranh lại bị thương tật và chất độc màu da cam quật ngã như trường hợp chú Trịnh Tố Tâm. Cáo phó “hưởng dương” như một vết dao cắt cứa trong lòng các CCB Trung đoàn ta.

Tiếng chuông thỉnh cầu âm âm vọng núi rừng Đakrông. Các đoàn CCB vẫn tiếp tục dâng hương tưởng niệm, tri ân đồng đội. Áo lính đủ loại, đủ màu, tóc sương gió lay đảo như hoa lau núi ngàn phất phơ. Huân, Huy chương trên ngực phát âm thanh leng keng, đứt quãng… Tôi nhìn cảnh tượng thấm buồn, da diết nhớ một thời chinh chiến. Chính trên mảnh đất Ba Lòng hiện diện ngôi Đền, 53 liệt sĩ Trung đoàn 6 nằm đâu không rõ! Cầu mong cho anh linh hơn 13 ngàn đồng đội hy sinh đều về được trong Đền. Cầu mong cho hơn một nửa đồng đội chưa xác định được danh tính, chưa tìm được hài cốt, mộ chí sẽ có được ngày về đủ tên tuổi trong các nghĩa trang liệt sĩ, nơi đó có hoa hồng nở và muôn đời các thế hệ thăm viếng, khói hương…

Đồng đội! Mai ngày dù xa cách mãi mãi tình vẫn nguyên khối trong tim. Khói hương nghi ngút phát sóng nối quá khứ với hiện tại và tương lai.

Đại tá Phan Sỹ Khứ nguyên mẫu CCB Trung đoàn 6 - Phú Xuân lớp khai sinh đơn vị tại chiến khu Ba Lòng, là nhân chứng lịch sử, sự kiện, con người và tình cảm đồng đội chung thủy keo sơn đi qua năm tháng, vượt thời gian. Dù có làm phiền ông chút ít nhưng tôi tin, ông cũng như tôi và tất cả CCB Trung đoàn 6 - Phú Xuân đã toại nguyện. Bao nhiêu điều ước đã có. Bao nhiêu điều muốn nói cũng được giãi bày dưới ngôi Đền.

Hôm nay, tôi quá may, vừa được thắp hương tưởng niệm, tri ân đồng đội vừa được biết thêm cụ thể đoạn đời binh nghiệp của Đại tá Phan Sỹ Khứ và Anh hùng LLVTND Trịnh Tố Tâm và mối quan hệ đồng chí, đồng đội, anh em giữa hai người. Tình đồng chí đồng đội như khúc tráng ca, tình ca muôn thuở lấp lánh phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ.

}