Đâu phải ngẫu nhiên mà tiết giao thừa, mâm cúng đầu tiên khởi đầu cho năm mới là cúng “giữa trời”, bởi trong lòng dân muôn đời trĩu nặng niềm tri ân tiền nhân. Của hương hỏa dành cho con cháu nối đời ấy, không chỉ là núi cao bể rộng, không chỉ là những xóm mạc đìu hiu ngày xưa trở thành những phố phường cao rộng bây giờ, hương hỏa đó còn là con cá trên sông, cọng rau ngoài bãi, đôi khi vì quá thân quen nên chúng ta quên mất rằng lịch sử văn hóa của một vùng đất lại ẩn tàng bất diệt trong những món ăn quê kiểng, những trò chơi dân dã quê mùa, rồi với sự tiến lên như vũ bão của công nghệ tin học, của thức ăn nhanh, của smartphone nên nhiều giá trị đã không kịp lưu giữ, rồi chợt tàn phai trong quên lãng!
Đọc cuốn sách xưa, nhớ nhà văn Vũ Bằng đau đáu tâm tình: “Tôi yêu đất nước tôi vì mỗi vùng có những con cá lá rau, những hoa thơm trái ngọt nổi tiếng, và tôi yêu người nước tôi đã biết khéo đem các thức ngon lành nổi tiếng đó làm thành tục ngữ ca dao, muôn đời nghìn kiếp không sao quên được…” (Thương nhớ mười hai).
Có một ngày nào đó, về lại quê xưa, ngồi bên bãi cỏ bờ sông, nhớ bao nhiêu tháng ngày tuổi dại vẫy vùng trên dòng nước biếc xanh này, và đôi khi đã mê mải phù hoa mà quên rằng trong giọt nước dòng sông này đã nuôi bao phận đời khôn lớn. Con cá bống thệ giữa dòng nước trong, con cá lấu đen quẫy trong đám rong mịn… tự bao giờ có ai còn nhắc nhớ?
Thuở ấu thơ, học bài địa lý, biết châu thổ sông Hồng sông Cửu Long phù sa màu mỡ nên đồng bãi phì nhiêu, làm vựa lúa cho cả giang san thấy thương con sông quê mình đẹp mà nghèo. Lớn lên chút nữa, đi tới những ngọn nguồn sông Hồng, sông Mekong, tận mắt thấy phù sa ngầu đục giữa dòng, rồi bàn chân may mắn tìm về tận những bãi sú bãi đước, dưới vệt bùn nhu nhú mầm đước nơi cửa những dòng sông gặp bể, ngửi thấy mùi bùn non ào ạt lấn ra bể càng thương hơn dòng sông quê mẹ của miền Trung vốn hẹp mà dốc nên không kịp giữ lại chút phù sa. Cửa bể dòng sông quê hương không có phù sa lấn ra mở cõi, người dân quê nghèo cứ thế ly hương ra Bắc vào Nam trong cuộc mưu sinh sấp mặt áo cơm.
Nhưng rồi đến một lúc nào đó, khi trên đầu tóc đã nhuốm sương, chân đi hun hút những dặm trường đầu non cuối bể, chút thương buồn về quê nghèo xứ sở chợt vợi đi, bởi biết rằng tạo hóa vốn công bằng.
Như sáng sớm nay, ngồi bên dòng sông quê nhà, con nước vẫn trong xanh, nhưng có lẽ đã vợi chút buồn khi vọng nghĩ chuyện phù sa. Không có những châu thổ mỡ màu, nhưng chính những con sông chảy xiết (vì thế nên xanh trong) đã cho quê nhà những đặc ân không vùng đất nào có được. Dòng sông nước xiết, không nhiều phù sa để con cá sông quê kiếm nhiều phù du, vì thế mà phải quẫy đạp lội bơi nhiều hơn con cá của những dòng sông khác. Bởi thế mà cũng một loài cá ấy, nhưng con cá trên dòng sông miền Trung săn chắc hơn, thơm ngon hơn, như một bù đắp cho cái tội không ăm ắp phù sa bồi tưới ruộng đồng.
Nói chuyện cá lại nhớ ra chuyện… mắm.
Hôm trò chuyện với Đào Thị Hằng, cô gái Quảng Trị, cũng được nuôi lớn từ chiếc thuyền nan trên sông Thạch Hãn, nhờ nỗ lực phi thường mà cô đã có được học bổng du học ở Úc để làm thạc sĩ một chuyên ngành về biến đổi khí hậu. Thế rồi khi cầm cái bằng tiến sĩ hạng ưu ấy về Việt Nam, thay vì chọn cho mình một chỗ làm trong cao ốc máy lạnh của một tổ chức quốc tế nào đó, Hằng trở về Quảng Trị để làm mắm và thành cô bán mắm với cái “nickname” khá trứ danh trên mạng xã hội là “Hằng Mắm Ruốc”.
Hằng bảo chọn cho mình con đường làm mắm bởi mắm là một “giá trị văn hóa”, rất đặc trưng của văn hóa Việt. Nhưng câu chuyện về mối quan hệ giữa mắm và văn hóa Việt là một đề tài rất mênh mông và giàu tính triết học, đủ để làm một luận án tiến sĩ về văn hóa học.
Câu chuyện làm mắm với Hằng lại liên quan đến con cá của vùng Quảng Trị, hóa ra cá sông hay cá biển đều liên quan hữu cơ và mật thiết với nhau, cũng từ chuyện những con sông Quảng Trị vốn ít phù sa, vì thế khi dòng sông đổ ra biển cũng không nhiều thức ăn cho cá như những con sông của vùng châu thổ hai đầu đất nước. Chính những vùng biển mà cửa sông đổ ra hiếm hoi phiêu sinh vật nên điều kiện sống của con cá vùng biển quê nhà cũng khắc nghiệt hơn, con cá bơi lội kiếm ăn vất vả hơn (ôi chao, chuyện con cá biển quê nhà mà sao giống phận đời người quê hương đến vậy?).
Nhờ kiếm ăn vất vả và bơi lội nhiều nên thịt cá chắc hơn, thơm hơn, ruột cá không có nhiều bùn như cá ở vùng biển có cửa sông lắm phù sa. Chính nhờ ruột cá ít bùn, thịt cá săn chắc nên con cá biển quê mình khi được đánh bắt về ủ làm mắm thì chất lượng nước mắm ngon hơn, độ đạm cao hơn. Hóa ra, từ sông ra bể, từ chuyện cá nghĩ qua chuyện người, thử thách chông gai nào cũng cho một kết quả khả dĩ hơn là nuông chiều săn đón.
Ngay cả chuyện ủ mắm đi nữa, cũng đừng vội nghĩ ngọn gió Lào bỏng rát khô khát quê nhà là “thiên tai”. Trong câu chuyện về hũ mắm quê hương với Hằng, tôi nghe cô nói rằng, để ủ mắm chín tự nhiên thì rất cần cái khô khét của “gió Lào cát trắng”. Gió Lào khiến cho mắm ủ trong những cái lu sành chín đều, nắng và gió và cát… ba thứ ấy khiến không gian khô hạn bao nhiêu thì lu mắm chín ngon bấy nhiêu, con người kêu trời vì nắng nóng nhưng mà ông trời bù lại cho những lu mắm được chín tự nhiên mà không cần tác động thêm điều gì khác. Thời buổi công nghệ, khi nhiều nơi muốn “đẩy nhanh tiến độ” thì gia giảm thêm cả hóa chất, nhưng với con cá biển quê nghèo, với “nắng nỏ trời xeng” xứ sở, hũ mắm quê nhà nhờ vậy mà thơm ngon hơn vùng khác.
Lan man chuyện thiên nhiên “ngược đãi” với gió Lào khô khát, với cằn cỗi ruộng nương không phong nẫm phù sa, tôi lại nhớ tới câu chuyện năm nào với nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường về “phong vị” người Quảng Trị. Anh Tường hỏi tôi đã lên Tây Nguyên chưa? Đất đỏ bazan màu mỡ quá nên cây bông giấy trên đó um xanh màu lá, hoa ra bị lá che lấp, trong khi đó, ở quê mình, những bụi bông giấy càng cằn cỗi hoa càng đẹp, càng khô khát hoa càng rực. Giống như một lò luyện đan, càng tôi luyện càng cho chất lượng. Cũng như cây bông giấy rực hoa trên đất cằn, như con cá trên con sông không giàu có phù sa, như hũ mắm trên vùng đất bỏng rát gió Lào cát trắng, sau những câu chuyện đó luôn có một ngụ ngôn đầy nhắc nhở về sự cân bằng của đền bồi, một triết lý của nhân sinh về được và mất.
Trở lại câu chuyện con cá sông quê, lại nhớ tuổi thơ êm đềm nghèo khó, lại lẩn thẩn nhớ về những con “đam” (con cua đồng). Bây giờ đồng đất hầu như được làm bằng máy, những đứa trẻ, dù nhà quê cũng ít nhiều biết đến vị sữa với quảng cáo trên ti vi có chất A chất Z, giúp trẻ tăng chiều cao, tăng thêm trí thông minh… Nhưng nào ai hay, bao nhiêu thế hệ tuổi thơ ruộng đồng đã cao lớn nên hình hài vóc dạng bởi “canxi” từ những con cua đồng trên ruộng nghèo. Đồng bãi vụ đông xuân này, trên những thửa ruộng đã cày ải xăm xắp nước, những chú “đam” sinh sôi, rồi khi ruộng được cày tơi, những sá bừa được trâu kéo băng băng qua ruộng, sau mỗi sá bừa kia những chú cua đồng ngoi ngóp, đám trẻ theo sau cứ thế mà nhặt vào cái hom giỏ bên hông. Những đêm mùa đông, không đủ áo dày chăn ấm, bên bếp lửa nhóm lên giữa mái lá quê nghèo, cua đồng vừa bắt ban chiều được đem ra nướng, mùi thơm của vị đồng, mùi cháy của lớp vỏ canxi, mùi khói của củi, trong năm tháng tuổi thơ cơ cực ấy cứ tự nhiên ngấm vào trí nhớ. Để rồi một ngày kia nó thành ký ức thẳm sâu, những con đam đồng với chất canxi tự nhiên ấy nuôi lớn xác thân và tuổi thơ nghèo khó, nuôi lớn ước mơ vượt ra khỏi lũy tre làng quen thuộc. Hóa ra còn một hương hỏa tinh thần riêng mang khác, làm nên văn hóa xứ sở, làm nên “văn chất bân bân” trong nết đất tính người, làm hành trang ẩn tàng sau bao nhiêu khắc khổ đời sống…
Ôi miền Trung, có phải thế chăng mà con sông nghèo phù sa sinh ra con cá thơm ngon? Cửa biển sông quê nghèo phiêu sinh vật mà con cá biển lại mang vác thêm sứ mệnh của để dành, hóa thành hũ mắm nuôi bữa cơm nghèo đi qua mùa đông giá rét? Ngọn gió Lào bỏng rát đã ủ chín tự nhiên chum mắm mà không một phụ gia nào có thể thay thế được? Con rạm đồng bé mọn nuôi trẻ nhỏ thiếu thốn canxi biết lớn cao đi hết những dặm trường? Miền Trung, có phải gieo neo để quê nhà của tôi đúc thành bài ca dao bất khuất tháng năm kể câu chuyện về bà mẹ quê ra chợ Kẻ Diên mua con gà mái: “Về nuôi ba tháng, hắn đẻ ra mười quả trứng/ Một trứng: ung/ Hai trứng: ung/ Ba trứng: ung/ Bốn trứng: ung/ Năm trứng: ung/ Sáu trứng: ung/ Bảy trứng: cũng ung/ Còn ba trứng nở ra ba con/ Con diều tha/ Con quạ bắt/ Con mặt cắt xơi/ Chớ than phận khó ai ơi! Con da lông mọc, còn chồi nảy cây”. Thuở sinh thời, giáo sư Trần Quốc Vượng có lần nhận xét rằng bài ca dao ấy là một trong những bài ca dao hay nhất miền Trung.
Nhớ ca dao rồi chợt bần thần nghĩ ngợi, ông bà ta xưa vốn là những người “khốn nhi tri”, lớn khôn từ cơ cực, rồi đúc kết cơ cực thành kinh nghiệm cho cháu con, cháu con nối đời truyền lại. Vậy mà bao nhiêu năm tháng đi qua, có ai đã nối tiếp ông bà, gìn giữ lưu truyền lại cho mai hậu những con cá lá rau, những ca dao tục ngữ, những “nem chợ Sãi, vải La Vang, khoai Quán Ngang, dầu tràm Đại Nại…”, có ai lưu lại cho mai sau những câu chuyện về con cá đối sông, chuyện bánh đúc cơm mới, chuyện mùa đơm cá tháng bảy nước chảy qua bờ? Thế giới bây giờ trong lòng tay theo đúng nghĩa đen của thành ngữ này khi trong lòng bàn tay mình đang cầm một chiếc điện thoại smartphone kết nối internet. Nhưng thế giới cũng vô cùng nhỏ bé trong những món ăn thức uống, những tục ngữ ca dao, những di sản ông bà dành dụm cho ta. Nhà văn Gamzatov có đưa ra một chân lý rằng “Hãy đi hết mảnh làng của mình bạn sẽ gặp nhân loại!”, và chúng ta có khi nào mê mải những đâu để rồi quên rằng ta đã không đi cho hết ngôi làng tuổi dại của chính ta?
L.Đ.D
