Sau năm 1975, những cựu binh lần lượt giải ngũ, nhường chỗ cho một thế hệ mới tiếp quản và xây dựng trung đoàn. Trong bấy nhiêu số phận đã “ra đi” hay còn sống sót suốt gần 50 năm qua, có một người lính không giống nhiều người khác, đó là Hoàng Đình Bường. Ông nguyên là sinh viên đã hoàn thành chương trình ba năm tại khoa Văn, Đại học Sư phạm Vinh, nhập ngũ vào “tiểu đội Văn Sử” gồm 15 tay súng bổ sung cho Trung đoàn 6 - Phú Xuân cuối năm 1970 và lập tức tham chiến. Như lời Tố Hữu trong thơ, những người lính tiểu đội ông đã “chiến đấu 1.800 ngày không nghỉ”.
Sau tháng Tư năm 1975, kiểm lại, trong số 15 giáo viên Văn Sử tương lai ấy, 8 chiến sĩ hy sinh, 4 bị thương, ba người không trúng đạn nhưng khi trở về trường, sức khỏe cũng dặt dẹo và không hưởng thọ như người đời. Ông là một trong bốn thương binh nặng, nhưng vẫn trở về trường, gắng học xong chương trình năm cuối, ra trường, dạy học, lấy vợ sinh con, gánh vác cơm áo qua hàng chục năm đói kém, và cũng ít nhiều tiến bộ trong nghề nghiệp như trước. Chỉ trong 5 năm, từ người lính binh nhì, ông đã trở thành cán bộ chỉ huy đại đội trước khi xuất ngũ.
Một ngày, ký ức réo gọi, nhớ về đồng đội, nhớ về những năm tháng trận mạc; dường như suốt gần 50 năm qua, đêm đêm ông thường chìm trong nỗi nhớ trung đoàn. Ông tập hợp những bài thơ năm xưa viết trong chiến hào thấm máu, in thành tập và xuất bản, gây được tiếng vang. Nhưng thơ ngày xưa và cả bây giờ cũng dường như không tải nổi những tâm sự, những dòng hồi ức bom đạn chết chóc vẫn gầm thét trong đầu…
Bạch đầu quân sĩ tại
Vãng vãng thuyết Nguyên Phong
Ông tìm đến với văn xuôi, nơi hiện thực luôn bỏng rát trong dòng ký ức, không còn chỗ cho hư cấu. Tập bút ký Yên ngựa sau cuộc chiến như là tổng phổ của gần 30 trận đánh trong tổng số chừng trăm trận lớn nhỏ mà ông đã tham gia trong 5 năm nửa sau của cuộc chiến. Những trang nhật ký viết dưới hỏa lực bom pháo, trong giờ nghỉ giữa hai đợt chống phản kích, đã làm nên sức nóng của tập sách dù đã hơn 40 năm trôi qua kể từ ngày im tiếng súng, và gây được tiếng vang lớn. Giải B giải thưởng Văn học Lưu Trọng Lư có vẻ là quá đủ cho một cây bút ở tuổi bảy mươi, sức khỏe ọp ẹp, luôn bị vết thương hành hạ. Ông từng nghĩ như vậy, và nhiều người cũng từng tin như vậy.
Nhưng một ngày, tình cờ mở lại tập Yên ngựa sau cuộc chiến, lật tới lật lui, bắt gặp câu văn cuối cùng trước dấu chấm hết, tôi bỗng băn khoăn và mơ hồ nghĩ rằng tác giả chưa thể dừng lại khi chưa… thở hắt ra lần cuối cùng. Đó là, sau hơn bốn mươi năm, tác giả tìm tới nhà trong ngày giỗ đồng đội, gặp hai người con gái liệt sĩ đang làm cơm, và nhận được một câu hỏi hồn nhiên mà… nặng như núi: “Răng chú về mà không rủ Ba cháu về với? Đến bữa ni rồi mà hai chị em cháu chưa hề biết mặt Ba!”…
Không sai. Một buổi chiều như bao buổi chiều mùa hè miền Trung. Khi cơn nóng dịu đi, ánh tà dương hắt hiu đang dần chìm xuống dãy Trường Sơn xa xa, người đàn ông 75 tuổi thập thững bước vào nhà tôi, không vui cũng không buồn, chìa ra tập bản thảo mà các bạn sắp đọc, nhờ tôi viết lời giới thiệu. Liệu tôi có thể từ chối chăng, khi tiếng lòng đau như chim Đỗ Quyên kêu ra máu, thương nhớ về Trung đoàn, của một cựu chiến binh (CCB), một cựu giáo chức đã dắt dìu hàng năm sáu trăm học sinh trung học phổ thông qua bến bờ văn chương? Đây, dường như còn là tiếng kêu cuối cùng của một con chim đại bàng, khi không còn đủ sức sải cánh trên bầu trời cao rộng.
Tập bút ký Nỗi niềm Trung đoàn (Nxb Quân đội nhân dân, 2025) không còn đặc tả những trận đánh dữ dội, nơi nhiều người ở cả hai bên ngã xuống, mà dường như chỉ là hoài vọng và mục kích những số phận sau chiến tranh. Nhưng trước hết, đó là tâm sự của người lính trí thức trên đường ra trận, tình cờ ghé thăm nhà, hồn quê man mác vương vấn khi qua chuyến đò chiều hối hả đuổi theo đơn vị.
Bến Phù Trịch lữ thứ
Chiều đi trong hồn tôi
Ngày về ai thầm nhắc
Hẹn chi thời chiến tranh
Không bi hùng như Kinh Kha qua sông Dịch Thủy nhưng vẫn phảng phất một chút tráng ca “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” trong chân dung tráng sĩ của văn thơ một thuở. Đó là hình ảnh ngày Tết cổ truyền của dân tộc cách nay tròn nửa thế kỷ, không phải bánh chưng bánh tét, mà là “đánh chiếm thật nhiều đất để cắm cờ giải phóng, xác định mốc giới chiến tuyến” trước khi Hiệp định Pa-ri có hiệu lực ngày 28/1/1973. Đó là ký ức về những ngày hành quân trên Trường Sơn, gặp vô số võng lính mắc ven đường: “Có những cánh võng rung giật đảo điên, biết chắc người trên võng đang lên cơn sốt. Đa phần là võng không chuyển động, im lìm. Người nằm võng trùm kín đầu, không thể biết được còn sống hay đã chết”.
Có một điều hơi bất thường đối với Trung đoàn 6 - Phú Xuân là mặc dù hoạt động suốt mười năm trên địa bàn B5, nhưng chủ yếu ở miền Tây Thừa Thiên nên không được hưởng cái “chế độ” khá ưu đãi là “Cơm Bắc, giặc Nam”, nghĩa là đánh vài trận rồi vượt Hiền Lương ra Quảng Bình an dưỡng. Sự chịu đựng của người lính thật khó tưởng tượng: “Hơn một năm qua, tôi chưa hề biết đến ở hầm và sử dụng màn chống muỗi, vì luôn phải đánh nhau, luôn phải cắm trên các cao điểm trực diện với bộ binh địch, bom pháo nắng mưa dãi dầu. Người hốc hác quắt queo, râu tóc bờm xờm, già trước tuổi…”.
Chỉ có thể đọc sách của lính trận mới gặp được những trang văn cận cảnh, miêu tả những hoạt động “không giống ai,” đầy chất bi tráng: “Đào hầm huyệt trước giờ ra trận! Lần đầu tiên tôi nghe mệnh lệnh sét đánh này dưới chân dãy núi Sơn Na… Lẽ ra việc này lính hậu cần vận tải đảm nhiệm mới đúng, không nên cho lính tham chiến biết. Nhưng lính Trung đoàn 6 gần như không có lực lượng phục vụ chiến đấu. Lính trận kiêm luôn. Ai sẽ nằm xuống đáy huyệt, chỉ sau trận đánh mới rõ…”; “Khi hầm huyệt rộng khoảng năm tấc, dài hai mét, sâu quá đầu gối hình thành xong, ai cũng thở phào nhưng không hề nhẹ nhõm. Nhìn đi nhìn lại mấy cái hầm, người ớn lạnh, nổi da gà…” (Đào hầm huyệt)
Đương nhiên, để có một tác giả như Hoàng Đình Bường hôm nay - “Cánh tả kỷ cả bút đầu can” (viết đến hết giấy, khô mực) về cuộc chiến - thì ông đã không nằm vào đáy huyệt do chính mình đào trước mỗi trận đánh. Nhưng cảnh nằm trên thi thể đồng đội qua đêm thì không phải người lính trận nào cũng từng trải qua: “…Căn hầm bị thu hẹp, không chứa nổi bốn người. Chúng tôi cho tử sĩ nằm dọc theo hầm, chân thò ra phía cửa, phủ lên tấm vải bạt. Ba người đành nhắm mắt ngồi bên đó trong nỗi xót xa tột cùng. Pháo cấp tập, đất đá rào rào tạt vào hầm. Chúng tôi nín thở chờ… chết cùng đồng đội…” (Nằm bên cái chết).
Đọc văn của người lính trận, nguyên là sinh viên Văn sắp ra trường trên bục giảng, độc giả sẽ “lượm” được vô vàn chi tiết đắt giá về chiến tranh. Nhưng để có được một vài trang viết khả dĩ trong trẻo, ít nhiều phản ánh trung đoàn 6 - Phú Xuân, quả thật không dễ dàng. Trong nỗi nhớ Trung đoàn của Hoàng Đình Bường, có một trường đoạn như thế ngay giữa chiến trận.
Hiệp định Pa-ri được ký kết, quân đội hai bên giữ nguyên vị trí, phòng tuyến cách nhau năm bảy chục mét. Ở giữa, dựng lên một cái bàn Hòa hợp. Lính hai bên không mang vũ khí có thể đến… giao lưu. Ký sự “Thơ Hoàng Cầm trên chốt” ghi lại một khoảnh khắc tưởng như bình yên trên “bàn Hòa hợp,” nhưng thực ra chỉ là khoảng lặng trong mắt bão. Giữa hai trận tuyến, đạn đã lên nòng, chỉ một động tác mở chốt an toàn hay một hành vi quá khích của mỗi bên, đạn sẽ bay ra; vậy mà vẫn có một buổi “bình văn vô tiền khoáng hậu” của “thực tập sinh” Hoàng Đình Bường về bài thơ Lá diêu bông của thi sĩ Hoàng Cầm, thuyết phục và đánh bại thái độ khiêu khích của sĩ quan tâm lý chiến đối phương.
Đây có thể coi là giờ thực tập đầu đời của nhà giáo Hoàng Đình Bường. Khốn thay, “học trò” nghe bài giảng lại là hai anh lính VC trong tổ binh vận quân Giải phóng, cùng ba lính và sĩ quan tâm lý chiến phía quân lực VNCH. Lớp học tình cờ nằm giữa hai họng súng. Câu chuyện được kể lại khi CCB Hoàng Đình Bường, trong một lần đến Huế, gặp lại một trong ba người lính đối phương ấy trên bàn cà phê, trong một chiều mưa đầy thi vị.
Cây bút CCB, nhà giáo Hoàng Đình Bường, còn mạnh dạn khắc họa chân dung các tướng lĩnh hai bên: Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp - người mà tác giả tự nhận là vinh dự được chiến đấu dưới cờ, đồng nghiệp trong khối Văn - Sử (Đại tướng nguyên là thầy dạy môn Lịch sử); Thiếu tướng Lê Huy Mai, nguyên trinh sát đặc công, đã sát cánh cùng ông trong đội hình Trung đoàn 6 - Phú Xuân; Trung tướng, Tư lệnh Quân khu Trương Đình Thanh, vị trung đoàn trưởng “huynh đệ chi binh” với lính trung đoàn suốt mười năm chinh chiến; và “Bại binh chi tướng” Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh Sư đoàn Một, Vùng Chiến thuật Một, một đối thủ duyên nợ với Trung đoàn 6 - Phú Xuân ba năm cuối của cuộc chiến…
Cũng giống như Tiểu đoàn Ba Lẻ Bảy, Trung đoàn 6 - Phú Xuân được ngân lên trong giai điệu tự hào:
Vì Tổ quốc thân yêu ta vượt lên
Đoàn ta giương cao ngọn cờ oai hùng
Mùa xuân quân ta reo trên thành phố Huế kiên cường
Vì độc lập, vì tự do
Giục đoàn ta vượt qua phong ba
Trung đoàn sáu ta xông lên
Tác giả Hoàng Đình Bường kết thúc tập sách bằng hai câu thơ của nữ sĩ Nga trong chiến hào Leningrad: “Không có ai bị quên lãng/ Không có gì có thể lãng quên”. “Mười trung đoàn” đã nằm xuống để Trung đoàn hai lần cắm cờ trên kỳ đài Huế, hai lần anh hùng. Hơn một nửa số sinh viên trong Tiểu đội Văn Sử của ông không trở về giảng đường đại học. Như tên sách đã gợi, trang cuối sách kết thúc man mác buồn: “Ba mươi mốt tỉnh thành trên miền Bắc, hầu như tỉnh nào cũng có con em chiến đấu và hy sinh trong đội hình Trung đoàn 6 - Phú Xuân… nên mượn lời đồng đội gửi vào trang viết này mấy dòng hoài niệm, mong được thấu hiểu, chia sẻ nỗi niềm chung…”.
Đồng Hới - Quảng Trị 11/2025
