Giới thiệu
Tin tức
Sự kiện & Đối thoại
Sáng Tác
Nghệ thuật
Lý luận & Phê bìnhNgười & Đất quê hương
MultiMedia
Zalo

Hình tượng ngựa trong mỹ thuật xưa và nay

NGUYÊN SA    13/02/2026    5
Khoảng 4000 - 5500 năm trước Công nguyên, trên các vùng thảo nguyên Á - Âu thuộc khu vực Kazakhstan - Mông Cổ ngày nay, ngựa được con người thuần hóa từ một loài động vật hoang dã. Ban đầu, ngựa được nuôi chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của các cộng đồng du mục sinh sống trên đồng cỏ. Về sau, cùng với quá trình thích nghi và khai thác, ngựa trở thành loài vật gắn bó mật thiết với đời sống con người, giữ vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển của nhiều nền văn hóa cũng như các nền văn minh nhân loại.

Hiếm có loài vật nào gắn bó với đời sống con người đa dạng như ngựa. Từ nguồn thực phẩm cung cấp thịt và sữa, ngựa dần trở thành phương tiện di chuyển, tham gia sản xuất nông nghiệp, giải trí và giữ vai trò quan trọng trong quân sự trước thời đại công nghiệp. Song song với giá trị sử dụng, ngựa còn gây ấn tượng mạnh về mặt thẩm mỹ bởi hình thể cân đối, sức mạnh, tốc độ và tập tính sinh sống đặc thù. Chính vì vậy mà từ rất sớm, trên nhiều hang động, người nguyên thuỷ đã chọn hình tượng ngựa để thể hiện sự quan sát, hiểu biết và chinh phục của mình với thế giới tự nhiên. Trải qua bao biến thiên, ngựa trở thành biểu tượng quen thuộc trong văn hóa và mỹ thuật của nhiều cộng đồng, đặc biệt ở những vùng thảo nguyên và đồng cỏ rộng lớn.

Khu vực các nước Á Đông, ngựa và hình tượng thẩm mỹ về ngựa đã phổ biến trong đời sống xã hội từ rất sớm. Ở Trung Quốc, các phát hiện khảo cổ về tượng ngựa và xe ngựa kéo có niên đại khoảng năm 2450 TCN cho thấy sự hiện diện của loài vật này trong lịch sử văn minh. Hình tượng ngựa xích thố “ngày đi ngàn dặm” gắn liền vị tướng nổi tiếng Quan Vân Trường trong tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung đã trở thành biểu tượng của cái đẹp trong nhiều loại hình nghệ thuật của Trung Quốc. Với bút pháp phóng khoáng mang tính ước lệ của nghệ thuật truyền thống, nhiều hoạ sĩ Trung Quốc kế thừa và đã rất thành công khi vẽ về ngựa như Từ Bi Hồng, Lưu Bột Thư…

Ở Việt Nam và khu vực Đông Nam Á, ngựa xuất hiện từ thời kỳ đồ Đồng và sớm gắn bó với đời sống con người, đặc biệt trong bối cảnh sinh tồn của các cộng đồng trung du, miền núi và những không gian cư trú rộng mở. Trong lịch sử và tâm thức dân gian, ngựa hiện diện vừa như một thực thể đời sống vừa như một biểu tượng tinh thần. Ngay từ thời Hùng Vương thứ sáu, hình tượng ngựa đã đi vào huyền thoại qua truyền thuyết Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt phá giặc Ân. Trải qua các thời kỳ lịch sử dựng nước và giữ nước, hình tượng ấy tiếp tục được bồi đắp, trở thành biểu tượng oai hùng gắn liền với ý chí bảo vệ non sông của người Việt.

Vua Lý Thái Tổ, người khai sáng triều Lý và mở ra thời kỳ hưng thịnh đầu tiên của Đại Việt, đã gắn việc xây dựng kinh đô Thăng Long với dấu tích linh thiêng của ngựa trắng. Truyền thuyết về việc xây thành theo dấu chân ngựa Bạch Mã dẫn đến sự ra đời của Đền Bạch Mã, thờ thần Long Đỗ (Tô Lịch giang thần), sau được tôn làm “Quốc đô Thăng Long thành hoàng kinh đô”. Ngôi đền trở thành một trong “Thăng Long tứ trấn”, bảo vệ kinh thành ở phía Đông, phản ánh sự kết hợp chặt chẽ giữa quyền lực chính trị, tín ngưỡng bản địa và biểu tượng ngựa trong tâm thức người Việt.

Trong các cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên thế kỷ XIII, hình tượng ngựa gắn liền với khí phách và tinh thần xả thân của những anh hùng dân tộc. Tiêu biểu là hình ảnh Trần Quốc Toản - vị anh hùng thiếu niên với hành động “bóp nát quả cam” vì uất hận trước vận nước, cưỡi ngựa xông pha trận mạc, lá cờ thêu sáu chữ vàng “Phá cường địch, báo hoàng ân” tung bay trong cuộc kháng chiến năm 1285.

Trong kho tàng truyền thuyết và điển tích dân gian Việt Nam, hình tượng ngựa còn gắn liền với người anh hùng như một biểu trưng quen thuộc của sức mạnh, lòng trung nghĩa và khát vọng vươn lên. Ở bình diện văn hóa dân gian, ngựa xuất hiện với tần suất dày đặc trong tục ngữ, ca dao và thành ngữ, phản ánh những giá trị đạo đức và quan niệm sống của cộng đồng. Những câu tục ngữ như “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ” nhấn mạnh tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái; “Mã đáo thành công” biểu trưng cho ước vọng về may mắn và thành đạt; trong khi các thành ngữ như “Ngựa non háu đá”, “Cưỡi ngựa xem hoa” lại mang tính răn dạy, phản ánh kinh nghiệm sống và thái độ ứng xử của con người trước thực tiễn. Ở tầng nghĩa sâu hơn, hình tượng ngựa còn gắn với tinh thần thượng võ và ý chí bảo vệ bờ cõi của dân tộc. Câu nói “da ngựa bọc thây” cho thấy quan niệm sẵn sàng hy sinh nơi sa trường, coi cái chết vì non sông là lẽ sống cao cả. Ngựa cũng là biểu tượng của khát vọng thành công và danh dự xã hội, thể hiện qua hình ảnh Trạng nguyên “vinh quy bái tổ”, cưỡi ngựa vinh hiển trở về quê hương sau khi đỗ đạt,…

Hình tượng ngựa còn được thể hiện phong phú và liên tục trong các nền mỹ thuật lớn của thế giới, từ thời cổ đại Hy Lạp - La Mã, qua thời kỳ Phục Hưng, Cổ điển, cho đến các trường phái hiện đại và đương đại. Ở Việt Nam, từ rất sớm, hình tượng ngựa cũng đã xuất hiện trong nhiều loại hình nghệ thuật, đặc biệt là trong lĩnh vực mỹ thuật. Thời phong kiến, nền mỹ thuật truyền thống càng được chú trọng thể hiện qua tượng, chạm khắc, tranh vẽ gắn với các triều đại, các nhân vật lịch sử.

Trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt, ngựa được xem là phương tiện di chuyển của các vị thần linh giữa cõi dương và âm, đồng thời tượng trưng cho sức mạnh, lòng trung thành, sự kiên nhẫn và may mắn. Hình tượng ngựa gỗ thờ thường được tạo hình uy nghiêm đặt trong các điện thờ, đình, đền, miếu mạo để thể hiện lòng tôn kính. Trong các công trình kiến trúc cung đình Huế thời nhà Nguyễn có thể thấy qua hình tượng Long mã (Ngựa hoá rồng) ở trên mái ngói, các bình phong. Hình tượng ngựa cũng được thể hiện trên Cửu đỉnh và trong các công trình kiến trúc điện, miếu, lăng tẩm khác. Tượng ngựa chầu trong lăng tẩm các vị vua chúa, danh tướng thời Trần, Lê, Nguyễn đều có… Bên cạnh đó, mỹ thuật dân gian tỏ ra gần gũi và sinh động với đời sống người dân hơn. Trong tranh dân gian như tranh Hàng Trống có các bức “Mã đáo thành công”, “Ông hoàng”, “Bà chúa”… Tranh Đông Hồ có các bức như: “Thành Gióng đại phá giặc Ân”, “Tuấn mã”, “Giám mã”… Tranh làng Sình có “Ngựa bay”, “Ngựa”… Các dòng tranh đồ thế, tranh kiếng Nam bộ, tranh dân gian các dân tộc vùng núi phía Bắc luôn thể hiện hình tượng Ngựa gắn với văn hoá, tín ngưỡng dân gian trong các đề tài phục vụ đời sống hàng ngày, lễ hội hay thờ cúng… Chạm khắc trên các công trình cổ như lăng tẩm, đền chùa, đình làng… hình tượng ngựa xuất hiện với nhiều dáng vẻ, ở nhiều vị trí khác nhau. Có khi xuất hiện như một linh thú độc lập oai nghiêm, cũng có khi trong một hoạt cảnh là lễ rước hay sinh hoạt thường ngày… nhưng có điểm chung là toát lên vẻ uy nghi, hùng dũng.

Mỹ thuật hiện đại Việt Nam đã có nhiều hoạ sĩ, nhà điêu khắc thể hiện về hình tượng ngựa. Nhiều tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao, tiêu biểu như tác phẩm “Gióng” của hoạ sĩ Nguyễn Tư Nghiêm sáng tác 1990 với chất liệu sơn mài. Tác phẩm được công nhận Bảo vật Quốc gia năm 2017. Với đề tài này, hoạ sĩ đã thể hiện nhiều tác phẩm cùng một chủ đề, tên gọi về hình tượng Thánh Gióng - một trong tứ bất tử của văn hoá người Việt. Bằng cách xây dựng cấu trúc theo phong cách lập thể, kết hợp với sự khoẻ khoắn, gần gũi của mỹ thuật dân gian. Hình tượng Ngựa và vị anh hùng được cách điệu khái quát, toát lên sự khoẻ mạnh, hùng dũng nhưng không kém phần bay bổng. Bức tranh “Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc” của họa sĩ Dương Bích Liên đã được công nhận là Bảo vật Quốc gia vào năm 2017 (hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam). Trong không gian hùng vỹ của ánh nắng và núi rừng Việt Bắc, hình ảnh Bác Hồ đang ân cần chăm sóc, vuốt ve chú ngựa gắn liền với cuộc đời cách mạng gian khó của Người. Tác phẩm đã thể hiện sự giản dị, gần gũi của vị lãnh tụ vĩ đại với cuộc sống, thiên nhiên. Các hoạ sĩ Trần Văn Cẩn, Tô Ngọc Vân, Lưu Văn Sìn… cũng đều có các tác phẩm vẽ về ngựa. Nhiều thế hệ hoạ sĩ Việt Nam đã thể hiện thành công về hình tượng này, trở thành phong cách riêng gắn với tính cách của người nghệ sĩ. Ta có thể cảm nhận được sự yêu mến vẻ đẹp vùng cao với núi non, con người mà những chú ngựa ngày ngày cần mẫn làm nhiệm vụ giúp người dân vùng cao vận chuyển hàng hoá, hay ẩn lấp tự tình cùng tiếng khèn người H’Mông trong không gian hùng vỹ của núi rừng Tây Bắc thông qua các tác phẩm của hoạ sĩ Đỗ Đức. Cũng thấy được sự phóng túng, bay bổng nhưng mạnh mẽ, tự do của những chú ngựa ô, xích thố, bạch mã trong các tác phẩm của hoạ sĩ Lê Trí Dũng… Cảm nhận được sự táo bạo, khát vọng tự do, bứt phá trong tranh ngựa của Nguyễn Đoan Ninh và không ít hoạ sĩ khác có bút pháp, phong cách riêng khi khai thác đề tài ngựa.

Đặc biệt thú chơi tranh con giáp mỗi dịp Tết đến, xuân về. Giới mỹ thuật hiện đại Việt Nam đã có truyền thống vẽ tranh con giáp từ thế hệ các hoạ sĩ Đông Dương đến nay. Ngựa xuân trong tranh con giáp của Nguyễn Tư Nghiêm mang nhiều màu sắc văn hoá, triết lý Á Đông, Bùi Xuân Phái với đường nét hồn nhiên gần gũi, Lê Trí Dũng chú ý biểu cảm dáng điệu tung tẩy, khoáng đạt với bảng màu nguyên sắc ngũ hành rực rỡ, Hứa Thanh Bình mang nhiều triết lý với phong cách biểu hiện, Phạm An Hải xoá nhoà ranh giới hiện thực với bút pháp bán trừu tượng, Phạm Hà Hải nhấn mạnh cấu trúc bằng đường nét khoẻ mạnh, dứt khoát khi vận dụng yếu tố mỹ thuật dân gian, Đặng Mậu Triết mơ màng trong không gian của thiên nhiên và nhiều tác phẩm khác của các hoạ sĩ Bắc-Trung-Nam được nhận ra trong nền mỹ thuật Việt Nam. Nhiều triển lãm tranh con giáp nhân năm Ngọ trên khắp mọi miền đất nước cho thấy sự phong phú, đa dạng trong cách thể hiện của hoạ sĩ ba miền. Ngày nay, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, công chúng vẫn thường xuyên được thưởng thức những tác phẩm mỹ thuật về hình tượng ngựa gắn liền với văn hoá, lịch sử và cuộc sống trên mọi miền Tổ quốc và trên thế giới.

Nếu như mỹ thuật phương Tây thiên về miêu tả, thể hiện sự khoẻ mạnh, rắn chắc từng khối cơ trên thân ngựa thì phương Đông lại mang tinh thần ước lệ, chú ý thể hiện thần thái mang các thông điệp, triết lý cuộc sống. Mặc dù hiện nay với sự giao thoa giữa các nền mỹ thuật, không gò bó về phong cách, trường phái mỹ thuật, tuy nhiên khi vẽ ngựa để thể hiện đúng khí chất, tinh thần của một con giáp đại diện cho sự may mắn, tốc độ, sức mạnh và tự do là không hề dễ. Đó là một thách thức đối với mỗi nghệ sĩ tạo hình khi thể hiện hình tượng ngựa thông qua hình khối, đường nét, màu sắc. 

Mỹ thuật Quảng Trị bước vào một giai đoạn mới với lực lượng sáng tác mỹ thuật đông đảo sau khi sáp nhập. Mỗi người một con đường, phong cách tạo hình và biểu đạt nghệ thuật riêng, trong đó có hình tượng về ngựa. Mặc dù không có hoạ sĩ, nhà điêu khắc chuyên khai thác đề tài này, nhưng cũng có một số tác giả đã thể hiện trong sáng tạo của mình như: Trương Đình Dung, Lê Quang Sáng, Lê Cảnh Oánh, Nguyễn Lương Sáng, Nguyễn Xuân Thành... Năm 2026 đã đến, hoạ sĩ, nhà điêu khắc Quảng Trị nói riêng và giới mỹ thuật cả nước nói chung lại bắt đầu chào đón Bính Ngọ bằng những nét cọ, mảng màu rực rỡ với ước vọng “Mã đáo thành công”.

N.S

}