Giới thiệu
Tin tức
Sự kiện & Đối thoại
Sáng Tác
Nghệ thuật
Lý luận & Phê bìnhNgười & Đất quê hương
MultiMedia
Zalo

Viếng miếu thờ liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc

NGUYỄN HOÀN    13/02/2026    5
Mọi người hẳn còn nhớ và không nguôi xúc động, cảm khái, không nguôi ấn tượng về một hiện tượng cách đây hai mươi năm: Cuốn nhật ký Mãi mãi tuổi hai mươi của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc cùng với cuốn Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm được xuất bản thành sách đã tạo nên tiếng vang lớn, đã “truyền lửa” yêu nước nồng nàn, cháy bỏng trong các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ. Hai cuốn nhật ký này được xuất bản với số lượng lớn nhất trong vòng 20 năm (tính đến mốc năm 2005) đã trở thành một trong 10 sự kiện văn hoá tiêu biểu của Việt Nam năm 2005 và được trao Giải Đặc biệt, Giải thưởng Sách Việt Nam lần thứ nhất năm 2006.

Cuộc đời dấn thân vì nước của Nguyễn Văn Thạc, Đặng Thuỳ Trâm đã “cháy lên” trong thời chiến, nay tiếp tục “phát sáng” giữa thời bình. Nơi hy sinh của liệt sĩ Đặng Thuỳ Trâm (khe Nước Lạnh, xóm Đồng Lớn, thôn Nước Đang, xã Ba Trang, huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi cũ, nay thuộc xã Đặng Thuỳ Trâm, tỉnh Quảng Ngãi) đã được dựng bia di tích, cùng với các điểm di tích khác về liệt sĩ Đặng Thuỳ Trâm trên đất Quảng Ngãi. Thế còn nơi hy sinh, nơi chôn cất thi hài liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc nằm ở đâu trên đất Quảng Trị và có lưu dấu gì không?

Nguyễn Văn Thạc, Đặng Thuỳ Trâm cũng như nhiều sinh viên khác thuộc thế hệ “tài hoa ra trận”. Nguyễn Văn Thạc từng đoạt giải nhất cuộc thi học sinh giỏi văn lớp 10 toàn miền Bắc năm học 1969 - 1970. Trong thời gian chờ gọi nhập ngũ, Nguyễn Văn Thạc đã thi đỗ vào khoa Toán - Cơ Đại học Tổng hợp và vừa học năm thứ nhất Toán - Cơ, vừa tự học năm thứ nhất, năm thứ hai khoa văn, với ước mong khi vào bộ đội có đủ kiến thức lẫn thực tiễn để viết văn. Đặng Thuỳ Trâm mê văn học, định thi vào khoa văn Đại học Sư phạm nhưng rồi đã thi vào Đại học Y, để theo nghề y, nghề “truyền thống” của bố mẹ. Nguyễn Văn Thạc và Đặng Thuỳ Trâm thuộc trong số “của hiếm” lúc đó, học đều, có tư duy tốt cả về tự nhiên và xã hội nhưng đã sớm xếp bút nghiên để theo lời non nước, để “đi đúng mạch sống lớn của dân tộc”. Nguyễn Văn Thạc nhập ngũ ngày 6/9/1971, thuộc Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 101, Sư đoàn 325, từ đó sống với những “đêm trắng” đầy gian lao, vất vả, thao thức, trở trăn nhưng đấy chính là những đêm chờ sáng đầy lạc quan, hy vọng như trong thơ của anh gửi cho chị Phạm Thị Như Anh, người yêu của anh: “Đêm của anh xếp kín đầy bom đạn/ Pháo sáng chập chờn trộn trạo với sao sa…/ Đêm của anh trong tầm bom rơi/ Không thể ngủ nên đêm thành đêm trắng…/ Đêm thao thức đón chờ ánh sáng/ Đêm của chúng ta ấp ủ những mặt trời”.

Vào chiến trường Quảng Trị năm 1972, Nguyễn Văn Thạc làm lính thông tin. Một đồng đội là anh Đỗ Minh Quang về sau đã kể lại những giây phút cuối cùng của anh Thạc: Tiểu đội anh tập kết vị trí chiến đấu ở thôn Hà My Đông từ đêm hôm trước. Sáng hôm sau, ngày 30/7/1972, theo yêu cầu của chính trị viên tiểu đoàn, tổ máy của anh Thạc đã mã hoá và phát lên trung đoàn một bức điện báo cáo tình hình tiểu đoàn. Sau khi ăn cơm trưa, tiểu đội chia thành 3 tốp di chuyển sang Hà My Tây, cách khoảng 300 m để gần chỉ huy, tiện liên lạc. Tốp anh Quang vừa ra khỏi hầm 10 m, nghe tiếng pháo nổ rất gần bèn quay nhanh lại hầm. Pháo cày nát khu vực trú quân. Hầm rung lắc mạnh. Khoảng 15 phút sau, khi pháo lặng đáng ngờ, anh Quang thốt lên với đồng đội: “Tiểu đội mình dính rồi… ”. Lao nhanh lên khỏi hầm, chạy qua hết rặng tre đến quãng đường trống, anh Quang thấy anh Thạc nằm bất động, máu từ đùi loang thành vũng. Một chiến sĩ nữa là anh Chương chạy về phía anh Thạc, cúi xuống quan sát và nói: “Quang ơi, Thạc hy sinh rồi!”. Lúc đó, anh Thạc từ từ mở mắt, giọng bình thản: “Thạc chưa chết đâu nhưng tỉnh thế này thì cũng không sống được nữa, chỉ tiếc còn nhiều việc dang dở chưa làm được…”. Anh Quang vội xé cuốn băng cùng anh Chương garô đùi cho anh Thạc, dù máu đã chảy hết. Các anh chuyển anh Thạc đến hầm phẫu tiểu đoàn để các y sĩ tiêm truyền cứu anh Thạc. Nhưng không kịp nữa rồi. Anh Thạc đã ra đi lúc 13 giờ 30 cùng ngày. Dọc đường quân hành, khi thoáng tý cảm giác về ngày ra trận, ý nghĩ về cái chết đã “mọc ra” trong anh. Qua trang nhật ký ngày 14/12/1971, anh thấy “thật ghê sợ khi phải vĩnh viễn xa gia đình”, “bây giờ mà chết thì thật đáng tiếc”. Nhưng anh đã chuẩn bị sẵn cho mình một tâm thế dám đối mặt với cái chết: “Khó gì đâu - cái chết - chỉ một viên đạn lạc hay một hơi bom. Sự thật bi đát đó không trừ một ai cả”.

Trong lời tựa cuốn nhật ký Mãi mãi tuổi hai mươi của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc (NXB Thanh Niên, 2005; NXB Kim Đồng, 2025), nhà thơ Đặng Vương Hưng, người sưu tầm, giới thiệu cuốn nhật ký này đã dẫn thông tin từ một người đồng đội thân thiết của anh Thạc, cho biết: “Mộ của Thạc ở thôn Đầu Kênh (tên thôn chính xác là Đâu Kênh), xã Triệu Long, quận Triệu Phong, Quảng Trị (tiếp giáp thôn Hà My, Phương Ngạn, gần lộ 4). Mộ được đặt ở thửa ruộng khá cao, cùng hai ngôi mộ khác, Thạc đặt đầu tiên”. Từ nguồn thông tin này, cuối năm 1976, anh Nguyễn Văn Thục, anh ruột liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc đã đến thôn Đâu Kênh, xã Triệu Long, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị (cũ), nay là thôn Bích Lộc Triêu, xã Ái Tử, tỉnh Quảng Trị tìm mộ em trai mình. Lúc này, anh Thục đang làm Phó Chủ nhiệm Công ty 16, Bộ Giao thông Vận tải (như chức Phó Giám đốc hiện nay), một đơn vị vừa hoàn thành khôi phục đường Hiền Lương - Dốc Miếu, đang chuẩn bị vận chuyển vật tư, thiết bị thi công ra Hà Nội. Nhân đó, anh Thục đã đề nghị Công ty giúp đỡ cho anh kết hợp tìm mộ em trai. Xã Triệu Long lúc đó đã giao ông Lê Lợi, xã đội trưởng dẫn ông Thục đi tìm mộ. Tìm quanh thôn không thấy, hoá ra, cứ như có cơ duyên mách bảo, ngôi mộ của anh Thạc nằm ngay chính sau vườn nhà ông Lợi. Cạnh đó còn có 2 ngôi mộ của 2 liệt sĩ khác.

Tôi đã hỏi chuyện anh Thục về dấu tích xác định mộ anh Thạc, anh Thục bùi ngùi kể: “Anh em đồng đội khi chôn cất Thạc, có đặt 2 tấm tôn Mỹ, một cái trên mộ và một cái trong mộ Thạc, có đục lỗ khắc tên Thạc. Chắc anh em lường trước chuyện bom đạn có thể làm bay tấm tôn trên mộ nên đã chôn thêm một tấm tôn trong mộ, để không bị thất lạc. Tôi nhìn hài cốt Thạc là tôi nhận ra, chính xác một trăm phần trăm: chân trái bị gãy băng garô còn nguyên, tóc bị bạc ngay khi còn ở nhà, khuôn mặt, xương sọ, hàm răng, tôi mường tượng ra được”. Lời kể đầy chi tiết và ấn tượng về em trai của anh Thục khiến tôi nhớ lại trong nhật ký “Mãi mãi tuổi hai mươi”, có vài đoạn, Nguyễn Văn Thạc viết về mái tóc bạc sớm của mình. Tôi ngạc nhiên và thương cảm sao anh Thạc “mới 20 tuổi đầu đã trắng xoá cả mái tóc lẽ ra còn xanh”? Nhưng dưới cái nhìn trẻ trung, yêu đời của anh Thạc, màu tóc đó toát lên sự trắng trong của phẩm cách anh, tâm hồn anh: “Trên đầu ta đã có nhiều sợi bạc. Không, ta không gọi đó là tóc bạc; có chút gì phôi pha trong từ ngữ đó. Ta muốn gọi đó là những sợi tóc trắng, những sợi tóc trắng trong… bởi những gì đẹp đẽ trong ta có bao giờ phai nhoà cho được”.

Sau khi bốc mộ liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc về an táng tại Nghĩa trang liệt sĩ Từ Liêm, Hà Nội, anh Thục vẫn không nguôi nhớ về nơi em trai mình nằm lại giữa chiến trường Quảng Trị năm 1972 khốc liệt: “Tôi muốn lưu giữ kỷ niệm, lưu giữ dấu tích nơi chôn cất Thạc, để trở lại, để hương khói viếng thăm, đừng để đất không. Tôi đã bàn với bác Lợi, nhờ bác xây miếu thờ cho Thạc tại nơi Thạc được chôn cất. Bác Lợi đồng ý và nhiệt tình giúp đỡ”. Miếu thờ liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc được dựng năm 2001. Lúc còn khoẻ, anh Thục đã vào viếng nhiều lần. Chị Như Anh cũng đã tìm về đây, trong niềm thương tiếc vô vàn.

Thực tâm lâu nay, trong xô bồ phố thị và bận rộn đời thường, tôi vẫn thầm hẹn lòng là lúc nào đó sẽ tìm về nơi anh Thạc đã hy sinh. Khi tìm về, tôi đâu ngờ nơi đây còn có miếu thờ anh Thạc do người dân đồng ý dựng nên, điều mà tôi không biết và chắc cũng rất ít người biết. Tựa như một nỗi vô tâm. Tôi tìm về nhà ông Lợi thì vợ chồng ông đã về cõi thiên thu từ 6 - 7 năm trước. Chỉ có anh Lê Xuân Thắng, con ông Lợi ở lại đây, sinh sống và hương khói cho gia tiên và dĩ nhiên cho cả miếu thờ anh Thạc. Anh Thắng dẫn tôi đi vòng quanh co sau vườn, đến góc cuối vườn, nơi có miếu thờ anh Thạc. Tôi đặt bánh trái và thắp hương viếng miếu thờ anh Thạc. Chân dung anh Thạc đặt trong miếu, đội mũ lính, nét thư sinh, trẻ trai, “mắt thương nhìn cuộc đời”. Anh đang nhìn ra những hàng cây vườn nhà, cây chuối, cây khế toả bóng râm mát xuống không gian miếu thờ trang nghiêm. Anh đang nhìn ra đồng lúa xanh ngút mắt phía trước trĩu nặng mùa vàng từ đất đai quyện máu đào bao liệt sĩ. Rời miếu thờ anh Thạc, trở ra con đường phía trước xóm nhà anh Thắng, tôi chạnh nghĩ đã hai mươi năm rồi, kể từ khi cuốn nhật ký của anh Thạc được xuất bản, sao chưa ai mở một lối vào, dù nhỏ cũng được dẫn đến chỗ có miếu thờ anh Thạc, cho mọi người tiện đến thăm viếng, thắp hương? Bỗng gặp anh Võ Ngọc Trúc ở nhà bên đang phơi lúa vàng rộm cả mặt đường làng, tôi bắt chuyện với anh về việc cần có lối vào này. Hoá ra, điều này dường như cũng nằm trong mạch nghĩ của anh. Anh dẫn tôi đi qua một lối nhỏ bên mép vườn nhà anh, đi thẳng rồi rẽ ngang một đoạn là đến chỗ có miếu thờ anh Thạc. Anh nói trên lối này có thể mở một đường bê tông rộng 1m dẫn ra chỗ miếu thờ. Tôi thấy nếu làm vậy là quá thuận tiện cho mọi người, nhất là các bạn trẻ đến với không gian tưởng nhớ anh Thạc. Một không gian nhỏ thôi, nhưng sẽ có “sức chứa” lớn, nếu ở đây được trồng lên hai cây bạch đàn, loài cây mà anh Thạc và chị Như Anh yêu quý, một cho anh Thạc, như lòng anh đã nguyện: “Rồi lúc nào ta chết, chỉ cầu xin một điều, trên nấm mồ ta là cây bạch đàn; cây bạch đàn mảnh dẻ… ” và một cho chị Như Anh với dáng hình đã tạc vào thẳm sâu trái tim anh Thạc: “Chao ôi, là nhớ… Mình tưởng tượng thấy bóng dáng yêu dấu đang nép sau thân bạch đàn ứ nhựa”. Và còn nữa, nếu ở đây dựng các tấm bia đá khắc in bìa cuốn nhật ký “Mãi mãi tuổi hai mươi” của anh Thạc; khắc in những dòng thư đầy tiên cảm lạ lùng về ngày thống nhất đất nước của anh Thạc viết gửi chị Như Anh ngày 18/9/1971: “Bất kỳ một sự vinh quang nào cũng cần phải trả bằng một giá. Và khó khăn, gian khổ càng nhiều và thử thách càng nhiều, sự vinh quang đó càng trở nên rực rỡ. Chúng ta đừng đi tìm những chân lý sâu xa đơn thuần qua những áng văn và những bài thơ và bài toán. Ngày 30/4/1975, T. sẽ trả lời cho P. câu: Hạnh phúc là gì?... ” (P. là tên viết tắt, chỉ Phạm Thị Như Anh). Niềm tiên cảm kỳ lạ đó phải trở thành một điểm nhấn trong không gian tâm linh - tưởng niệm anh Thạc, ở ngay chỗ máu đào anh trút xuống.

Xin được dừng lắng, ngẫm ngợi một chút về niềm tiên cảm hiếm có này. Niềm tiên cảm về ngày 30/4/1975 không chỉ được anh Thạc nói đến trong những dòng thư trên (cần chọn nếu khắc in trên đá) mà còn được anh Thạc nhắc đến trong những lá thư khác, như lá thư gửi chị Như Anh ngày 30/4/1971: “... Bốn năm nữa biết bao sự kiện sẽ xảy ra. 30/4/1975 thì Thạc và Như Anh đang ở trong tình trạng nào? Như Anh ơi, hứa với Thạc đi, 30/4/1975, dù chúng ta có thể giận, ghét nhau đến đâu đi nữa, dù thế nào cũng sẽ viết cho nhau những dòng chữ “hạnh phúc là thế nào” nhé!”. Đặc biệt, phim “Mùi cỏ cháy”, bộ phim xuất sắc của điện ảnh Việt Nam lấy chất liệu từ cuốn nhật ký “Mãi mãi tuổi hai mươi” và thư từ của  Nguyễn Văn Thạc gửi người yêu đã có hai đoạn dựa vào nội dung những lá thư đầy tiên cảm của anh Thạc. Một đoạn dựng cảnh họp quân trên đường ra trận, đại đội trưởng Phong xúc động khen ngợi việc làm báo tường của các chiến sĩ: “Tôi vừa xem báo tường, bài nào cũng rất ấn tượng. Nhưng có một bài, xin lỗi, tôi phải lấy xuống để đọc cho các đồng chí nghe”. Giọng đại đội trưởng Phong trở nên tha thiết: “Gửi người bạn gái ở hậu phương. Chống Mỹ cứu nước là thời đại oanh liệt của dân tộc. Trong buổi bình minh của cách mạng, ai sẽ là người đi vào mờ sáng? Có tôi và hơn một nghìn sinh viên các trường đại học nhập ngũ lần này. Chúng ta đừng đi tìm những chân lý sâu xa qua những áng văn, những bài thơ. Tháng 4/1975 sẽ trả lời cho bạn hạnh phúc là gì”. Đại đội trưởng Phong thoáng trầm tư, ngẫm ngợi: “1975, còn gần những 4 năm nữa nhưng tôi linh cảm thấy năm đó thiêng liêng lắm. Ai là anh lính binh nhì?”. Tất cả các hàng quân đang ngồi bỗng đứng bật dậy, khiến đại đội trưởng Phong ngạc nhiên cười: “Không, tôi muốn biết, ai là người ký tên anh lính binh nhì” (“Anh lính binh nhì” là cái tên mà Nguyễn Văn Thạc đã ghi ở trang cuối cùng, khi kết thúc cuốn nhật ký của mình). Một đoạn cuối phim, cảnh xe tăng 390 húc đổ cánh cổng Dinh Độc lập ngày 30/4/1975. Trong nhóm 4 nhân vật sinh viên trong phim: Hoàng, Thành, Thăng, Long ra trận năm nào, 3 sinh viên đã hy sinh, chỉ mình Hoàng còn sống để đi tới ngày thống nhất non sông. Hoàng vui mừng được gặp lại đại đội trưởng Phong, thủ trưởng của mình. Đại đội trưởng Phong không quên hỏi Hoàng: “Có phải năm xưa cậu viết, tháng 4/1975 sẽ trả lời hạnh phúc là gì hả?”. Hoàng trả lời không phải mình viết mà người viết là Thăng, lính thông tin (nhân vật Thăng trong phim được hư cấu từ nguyên mẫu là “anh linh binh nhì” Nguyễn Văn Thạc). Điều đáng ngạc nhiên và bất ngờ, chính niềm tiên cảm chính xác kỳ lạ của anh Thạc đã khiến cho đạo diễn Nguyễn Hữu Mười khi làm phim “Mùi cỏ cháy” phải phân vân, đến nỗi không dám dùng nguyên văn câu của anh Thạc: “Ngày 30/4/1975… ” mà chỉ dùng một phần câu đó: “Tháng 4/1975… ” trong phim. Đạo diễn từng tâm sự với báo chí: “… Không ai giải thích được, tại sao anh lại biết được ngày 30/4/1975 là ngày toàn thắng? Trong phim, tôi có ý xây dựng nhân vật Thăng mang hình ảnh anh Thạc. Tôi xây dựng Thăng là một chàng trai trẻ, bình thường, yêu thơ ca. Không phải là người có khả năng dự đoán tương lai. Tôi cũng bỏ ngày 30 đi, chỉ dám để tháng 4/1975 là ngày hẹn gặp. Anh Thạc đã tiên liệu quá chính xác, nếu đưa vào phim, đôi khi thành khiên cưỡng. Nhưng điều đó thật kỳ diệu, không ai giải thích được”. Ở đây, ngỡ ngàng thay, hiện thực cuộc sống lại có chỗ “cao hơn”, “nhiệm màu hơn” hiện thực trong phim!

Những trang nhật ký của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc đã truyền đi năng lượng sống tích cực, đã mở ra hành trình lan toả yêu thương. Tên của cuốn nhật ký đã thành tên của Quỹ “Mãi mãi tuổi hai mươi” (nay đổi thành Câu lạc bộ), một tổ chức đã miệt mài, bền bỉ trên hành trình “Tri ân - Tôn vinh - Thiện nguyện - Truyền lửa” đầy ấn tượng trong cộng đồng suốt 20 năm nay. Câu lạc bộ “Mãi mãi tuổi hai mươi” đã đến với hàng trăm nghĩa trang, địa danh lịch sử thiêng liêng như Trường Sơn, Đường 9, Thành Cổ Quảng Trị, Sông Thạch Hãn, Ngã ba Đồng Lộc, Truông Bồn, Vị Xuyên… để tổ chức các hoạt động tưởng niệm, tri ân; đã đến với nhiều vùng sâu, vùng xa để tặng quà, xây nhà tình nghĩa, chốt bảo vệ biên giới, cầu dân sinh; hỗ trợ mẹ Việt Nam Anh hùng, gia đình liệt sĩ và trẻ em khó khăn. Trong năm 2019, Câu lạc bộ đã khánh thành Tháp Tri ân “Mãi mãi tuổi hai mươi” tại Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia Trường Sơn được xây dựng từ nguồn vận động xã hội hóa gần 3 tỷ đồng. Câu lạc bộ còn tổ chức sưu tầm, biên soạn, xuất bản hàng trăm tác phẩm trong “Tủ sách Mãi mãi tuổi 20”, “Những lá thư thời chiến Việt Nam”, “Nhật ký thời chiến Việt Nam”, “Tủ sách Trái tim người lính” và tổ chức Chương trình “Tủ sách Đặng Thùy Trâm”…

Với bề dày 20 năm, hành trình “Mãi mãi tuổi hai mươi” cần tiếp tục đẩy lên, đặc biệt, cần kết nối với nơi thấm máu đào của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc, để được “truyền lửa” từ chính nơi này. Xã Ái Tử cần kết nối với Câu lạc bộ “Mãi mãi tuổi hai mươi” để biến nơi thờ liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc thành điểm văn hoá - tưởng niệm, thành điểm du lịch tâm linh; để tiếp tục truyền đi thông điệp sâu sắc mà Thủ tướng Phan Văn Khải đã viết trong thư gửi báo Tuổi trẻ và bạn đọc, năm 2005: “Khi đạt tới sự chân thành dâng hiến hết mình cho nghĩa lớn như Thuỳ Trâm và Thạc, thì con người ở một thời mà đến được với mọi thời”.

                                                  N.H

}