Năm nay, khi đời sống văn hóa - xã hội tỉnh nhà đang chuyển mình mạnh mẽ sau dấu mốc sáp nhập, những ranh giới hành chính dần được nối liền bởi nhu cầu hòa hợp, mỹ thuật Quảng Trị cũng nhạy bén phản chiếu sự dịch chuyển đó vào chiều sâu sáng tạo. Việc các họa sĩ đồng lòng chọn hình tượng ngựa làm linh vật xuân 2026 đã vượt khỏi khuôn khổ của một đề tài Tết thông lệ. Con ngựa hiện lên như ẩn dụ đầy sức gợi cho tinh thần vươn tới, nội lực, quyết liệt nhưng vẫn đậm đà bản sắc, sẵn sàng bước vào kỷ nguyên mới với tâm thế tự tin và chủ động.
Sự hội tụ trong sáng tác của các họa sĩ Trương Đình Dung, Nguyễn Lương Sáng, Đỗ Quốc Thắng, Trần Phú, Lê Quang Sáng và Hồ Thanh Thọ vượt xa một sự trùng hợp ngẫu nhiên, xác lập sự cộng hưởng mãnh liệt của tư duy sáng tạo. Việc những cá tính hội họa dị biệt, vốn mang quan niệm thẩm mỹ riêng, cùng gặp nhau tại một giao điểm cho thấy hình tượng ngựa đã chạm thấu tầng cảm thức sâu lắng nhất của đời sống. Qua bút pháp và tư duy tạo hình đặc trưng, mùa xuân hiện lên dưới đa chiều lăng kính, từ xuân của ký ức và lễ hội, xuân của đời sống bình dị, đến xuân của nội tâm chiêm nghiệm hay nguồn năng lượng bứt phá. Đặt các tác phẩm cạnh nhau, người xem dễ dàng cảm nhận bản hòa sắc xuân đa thanh, quyện giữa khoảng trầm lắng đọng và quãng cao phấn chấn, giữa những nốt ngân mơ màng cảm xúc cùng nhịp chuyển khoan thai nhưng dứt khoát, tựa vó ngựa chạm đất đều đặn, bền bỉ. Mỗi bức họa vốn mang tiếng nói tự thân, song trong tổng hòa lại nâng đỡ, soi chiếu lẫn nhau, tạo thành nhịp đi chung đầy thuyết phục.
Nguyễn Lương Sáng chọn cho mình một nhịp đi chậm và lắng sâu, như thể chủ động đứng lại để lắng nghe khoảnh khắc giao mùa. Tác phẩm về mùa xuân của anh không tìm đến sự sôi động mà hiện diện trong trạng thái đợi chờ, một sự đợi chờ được diễn đạt bằng những hòa sắc mơ màng, mộng ảo, giàu chất nội tâm. Vọng xuân (acrylic) xác lập bố cục ấn tượng, nơi chất liệu vốn khô nhanh và thiên về bề mặt được điều khiển khéo léo để tạo cảm giác mềm, nhẹ và sâu lắng. Anh đặt người xem trước một cận cảnh chân dung tuấn mã như một “vầng sinh khí” đang được nén lại, lặng lẽ nhưng đầy nội lực. Hình tượng ngựa được bao bọc trong vòng tròn của cành xuân, tạo không gian vừa khép kín vừa hư ảo, gợi cảm giác như một thế giới nội tâm đang lặng lẽ chuyển mình. Gam xanh lam pha tím vốn dễ gợi cảm giác tĩnh lặng hoặc u hoài được họa sĩ đặt cạnh sắc hồng thắm của hoa đào và vầng sáng phía sau, có thể là trăng, cũng có thể là mặt trời. Cách xử lý này nhấn mạnh tính lưỡng nghĩa của mùa xuân, vừa khép lại một năm cũ, vừa mở ra một năm mới. Sự đối sánh giữa nóng và lạnh, giữa thực và mơ đã tạo không gian “vọng” đặc trưng của tác phẩm, một không gian không ồn ào mà thấm dần vào cảm xúc người xem, vừa man mác, vừa hàm chứa niềm hy vọng. Thế mạnh của Nguyễn Lương Sáng bộc lộ rõ ở khả năng làm chủ chất liệu acrylic. Anh không khai thác acrylic theo hướng sắc, gắt, mà sử dụng bút pháp loang, chồng và thấm để tạo nên bề mặt tranh có độ xốp và hiệu ứng thị giác tinh tế. Cách xử lý này giải phóng hình tượng ngựa khỏi những khối cơ bắp nặng nề về hình thể, hóa thân thành một linh hồn hiện diện giữa khoảnh khắc giao hòa đất trời, thiên về biểu cảm nội tại thay vì mô tả ngoại quan. Vọng xuân tiết chế cảm xúc qua lối biểu đạt nhẹ nhàng, thay thế cảm giác bứt phá hay nhịp vó dồn dập, nhằm giữ cho bức tranh một độ lắng cần thiết. Sự kìm nén là ưu điểm vượt trội, tạo sự đồng điệu với tinh thần giao mùa: khoảnh khắc lặng sâu trước khi chuyển động, khoảng im ắng cần có để mùa xuân thực sự bắt đầu.
Nếu ở một thái cực, ta thấy sự lắng đọng cảm xúc trong tranh của Nguyễn Lương Sáng, thì ở chiều ngược lại, Quang Sáng chủ động phá vỡ giới hạn để đi thẳng vào trường năng lượng của thị giác. Tác phẩm Ngóng xuân của anh là sự bùng nổ của bút pháp với tinh thần trừu tượng. Hình tượng ngựa không còn hiện diện dưới một cấu trúc giải phẫu cụ thể, mà hóa thân thành những chuyển động nội tại của xúc cảm và nhịp điệu thị giác. Dáng hình ngựa hài hòa, trở thành tâm điểm giữa sắc màu và nhịp cọ. Các gam xanh đen, xám bạc đóng vai trò nền chủ đạo, làm bật lên những nét trắng, vàng rực rỡ tựa mầm xuân vừa nhú hay tiếng pháo vang vọng lúc giao thời. Bút pháp và màu sắc thoát ly khỏi chức năng mô tả, trở thành phương tiện biểu đạt trạng thái chờ đợi, khát vọng cùng sự tuôn trào hoan ca. Tổng thể tác phẩm xác lập một cuộc chơi dứt khoát của những nét cọ mạnh, cấu trúc động và nhịp điệu thị giác giàu năng lượng từ một họa sĩ trẻ. Việc Quang Sáng lựa chọn mảng tối làm chủ thể thể hiện một quyết định táo bạo. Mảng tối vốn tiềm ẩn nguy cơ gây nặng nề, khép kín hoặc khó tiếp cận, đòi hỏi sự xử lý tinh tế tuyệt đối. Ở Ngóng xuân, mảng tối chiếm vị trí trung tâm, được làm mới bằng cách xử lý chuyển động sáng cùng nhịp cọ giàu sinh khí. Sự tiết chế hợp lý cộng hưởng với cảm quan màu sắc tốt giúp Quang Sáng giữ vững sự cân bằng giữa sắc màu và bố cục. Bức họa khước từ lối trình diễn xuân dịu dàng hay mang tính trang trí, thay vào đó, tác giả kiến tạo một trải nghiệm thị giác giàu năng lượng, phản ánh đúng tinh thần thời khắc giao thời. Đó là mùa xuân đang đến trong trạng thái chuyển động mạnh với nhiều tầng cảm xúc. Khát vọng vươn tới được khẳng định rõ nét qua từng vệt cọ, màu sắc và chính sự táo bạo trong ngôn ngữ tạo hình.
Quốc Thắng chọn lối đi riêng khi đưa đời sống thường nhật vào tác phẩm Nghinh xuân, tạo sự đối lập với phong cách trừu tượng của Quang Sáng. Bức tranh như bản nhạc đồng dao kể về niềm vui trẻ thơ bên chú ngựa trong ngày xuân rộn rã. Việc triệt tiêu chiều sâu không gian qua lối vẽ phẳng, tác giả đã xóa mờ khoảng cách giữa thực và mơ. Thủ pháp này mang lại một nhịp điệu chậm rãi, gợi nhắc những ký ức xưa cũ đầy cảm xúc. Bố cục tác phẩm được tổ chức xoay quanh hình tượng con ngựa ở hậu cảnh như một trục liên kết thị giác, trong khi các nhân vật trẻ em ở tiền cảnh được tạo hình bằng những chuyển động và dáng hình mềm mại, nhịp nhàng. Sự lặp lại có chủ ý của các đường cong trong tạo hình từ thân ngựa, khuôn mặt các nhân vật, cho đến động tác và tư thế ngồi tạo nhịp điệu thị giác gần với mỹ cảm dân gian, gợi liên tưởng đến sự phân mảng nhẹ của lập thể. Tuy vậy, yếu tố này đã được tiết chế hợp lý, nhằm giữ lại nét ngây thơ, hồn nhiên mang chủ ý trong ngôn ngữ tạo hình của tác giả. Về sắc màu, Nghinh xuân được bao phủ bởi bảng gam nóng chủ đạo gồm vàng đất, cam và đỏ, gợi cái nắng đặc trưng miền Trung và cảm giác “ấm lên” của thời khắc giao mùa. Những mảng màu này không được đẩy đến độ tương phản gay gắt, mà được làm trầm, hòa sắc, tạo bề mặt thị giác đầm ấm. Các sắc xanh xuất hiện vừa phải ở trang phục và hậu cảnh đóng vai trò cân bằng, giúp tổng thể không bị quá tải bởi nhiệt sắc, đồng thời giữ cho nhịp cảm xúc của tranh luôn ổn định. Quốc Thắng xử lý chất liệu acrylic một cách tự nhiên, sử dụng như một phương tiện kể chuyện hơn việc phô diễn kỹ thuật, cho phép tác giả tập trung vào tinh thần mùa xuân và cảm xúc tổng thể thay vì bề mặt chất liệu của tranh. Dẫu hình tượng con ngựa trong Nghinh xuân chưa được đẩy thành một trục biểu tượng độc lập mà hòa vào không khí vui chung, tác phẩm vẫn neo lại trong lòng người xem cảm giác bình yên, gợi nhắc về một người bạn đồng hành trong ký ức dân gian.
Ở một hướng đi khác, Trần Phú chọn tôn vinh hình thể và sức mạnh tự nhiên của ngựa qua tác phẩm Tuấn mã. Ngựa được tả với những khối cơ, đường gân và ánh nhìn, khẳng định sự kiên định và ý chí. Nền tranh với những mảng màu trừu tượng xanh, vàng, cam đan xen gợi về gió và cảm quan tốc độ, làm nổi bật chủ thể. Trần Phú khéo léo cân bằng giữa “tả” và “gợi”, tả đủ để người xem thấy hình thể của đối tượng, gợi đủ để thấy “sự động” trong không gian thị giác. Có thể người xem sẽ mong chờ một cú “xoay mạnh” về không gian, tả thực hơn nữa để cảm nhận tác phẩm ấn tượng hơn. Tuy nhiên xét trong tổng thể, tác phẩm của Trần Phú đã thể hiện một ý nghĩa khác, xuân là sắc màu, là thực tại song hành hành để vững bước.
Khi các tác phẩm trên dùng chất liệu acrylic để thể hiện những phong cách sáng tác khác nhau của họa sĩ qua từng tác phẩm, thì Trương Đình Dung lại chọn một lối đi riêng, đưa người xem về với chất liệu mang “hương của ký ức”, đó là giấy dó. Bức tranh Tết của Đình Dung hiện lên như nốt trầm lắng giữa những bản hòa ca sắc màu. Họa sĩ giải phóng tác phẩm khỏi luật xa gần bằng lối bố cục đồ họa đồng hiện trên mặt phẳng. Hình tượng con ngựa chuyển động nhịp nhàng, gắn kết chặt chẽ vào tổng thể để đồng hành cùng con người và các biểu tượng văn hóa như mâm ngũ quả, pháo Tết, cành hoa… Dù tạo hình mang tính ước lệ, gợi nhắc thấp thoáng bóng dáng của tranh dân gian, nhưng bút pháp của anh lại phóng khoáng, dứt khoát, mang đậm hơi thở đương đại và dấu ấn cá nhân. Trên nền giấy dó sần, màu sắc không nằm trơ trên bề mặt mà thẩm thấu vào thớ giấy, tạo độ ấm áp và chiều sâu của thời gian. Bức tranh là một sự giao thoa tinh tế, với những nét vẽ đồ họa mộc mạc, chắc tay, hòa quyện cùng tư duy bố cục chặt chẽ. Tết trong tranh Trương Đình Dung mang vẻ đẹp tiết chế, không sặc sỡ phô trương nhưng vẫn hiện lên sắc xuân, đánh thức người xem những hoài niệm đẹp về một cái Tết cổ truyền đầm ấm và an yên.
Rời khỏi không gian hoài niệm được gợi mở bằng những nét bút mộc mạc, thấm màu trên giấy dó, mạch cảm xúc mùa xuân tiếp tục được nối dài qua tác phẩm trổ giấy Đồng hành mùa xuân của họa sĩ Thanh Thọ. Nếu phần lớn các phương pháp sáng tác và chất liệu trong mỹ thuật là nghệ thuật của sự “bồi đắp”, chồng lớp nét vẽ, mảng màu để tạo không gian và hình thể, thì trổ giấy lại đi theo hướng ngược lại, đó là việc “trổ bỏ” những khoảng trống để giữ lại hình thể, dùng mảng hình để tả và khoảng trống để gợi. Trong Đồng hành mùa xuân, Thanh Thọ đã biến những nhát trổ tưởng chừng dứt khoát thành nhịp điệu mềm mại, để mùa xuân hiện diện và đồng hành cùng tuấn mã trong một không gian tạo hình giàu tính biểu cảm. Thay vì mô tả hiện thực bằng cọ, Thanh Thọ dùng ngôn ngữ đồ họa trổ giấy để kiến tạo không gian thông qua tương quan đặc - rỗng của hình thể. Hình tượng tuấn mã được kết cấu từ những mảng giấy liền mạch, đan cài chặt chẽ tạo nên thế dáng dũng mãnh và vững chãi. Những đường lượn trên thân ngựa hay họa tiết nền đóng vai trò như những “nhịp cầu” thị giác, dẫn dắt ánh nhìn xuyên suốt tác phẩm. Sự tiết chế những chi tiết vụn vặt để tập trung vào các mảng cắt dứt khoát đã giúp tác giả lột tả thành công sức bật của chú ngựa đang tung vó. Họa tiết hoa xuân được trổ rỗng xuyên thấu, kết hợp cùng nhịp sóng nước uyển chuyển tạo đối trọng hài hòa giữa tĩnh lặng và vận động. Thanh Thọ nâng tầm kỹ thuật truyền thống bằng tư duy bố cục hiện đại, xác lập ngôn ngữ hội họa mới. Bức tranh chứa đựng thông điệp khát vọng, tượng trưng cho tinh thần vươn mình trong kỷ nguyên mới.
Nhìn lại các tác phẩm về ngựa của giới họa sĩ Quảng Trị dịp năm mới, một thực tế hiển hiện là sự chiếm ưu thế của acrylic và chất liệu giấy, đối lập với sự thưa vắng của sơn dầu hay sơn mài truyền thống. Lựa chọn này phản ánh nỗ lực thích ứng của nghệ sĩ trước nhịp sống và tinh thần thời đại. Việc thể hiện đề tài ngựa hay các rung cảm xuân đòi hỏi khả năng nắm bắt khoảnh khắc, truyền tải cảm hứng trong một quãng thời gian nhất định. Quy trình sáng tác sơn mài vốn cầu kỳ với nhiều công đoạn thực hiện thường tạo ra “độ trễ” nhất định so với mạch cảm xúc đang tuôn trào. Tương tự, sơn dầu yêu cầu sự kiên nhẫn chồng lớp cùng thời hạn khô kéo dài, dễ làm đứt quãng mạch sáng tạo hoặc khiến tác giả sa đà vào kỹ thuật tả thực, làm giảm độ thăng hoa cần thiết của người nghệ sĩ.
Acrylic hiện là chất liệu ưu tiên của nhiều họa sĩ, đáp ứng tốt nhịp độ sáng tạo nhờ đặc tính khô nhanh cùng bảng màu tươi mới. Sự linh hoạt này giúp Lương Sáng, Quang Sáng, Quốc Thắng hay Trần Phú bảo toàn trọn vẹn nhịp xuân cá nhân với những sắc thái riêng biệt. Song song với đó, các tác phẩm trên giấy dó và trổ giấy của Đình Dung, Thanh Thọ mang lại cảm giác thanh thoát, mộc mạc, vừa giàu tính đồ họa vừa đậm hơi thở hiện đại, tương thích với không gian ngày Tết. Từ một đề tài mỹ thuật truyền thống, hình tượng ngựa trong sáng tác của các họa sĩ Quảng Trị năm 2026 đã xác lập một điểm hội tụ giàu ý nghĩa. Sự gặp gỡ này vượt xa một trùng hợp ngẫu nhiên, khẳng định sự cộng hưởng trong cảm thức sáng tạo về sự dịch chuyển, về hành trình và khát vọng bứt phá giữa bối cảnh đời sống văn hóa - xã hội đang bước sang kỷ nguyên mới.
Mỗi họa sĩ, với cá tính và ngôn ngữ tạo hình riêng, đã góp phần làm đa dạng sắc màu mùa xuân qua từng tác phẩm. Có mùa xuân lắng sâu, nội tâm và giàu chiêm nghiệm; có mùa xuân bùng nổ năng lượng và trực giác; có mùa xuân bình dị của ký ức dân gian; có mùa xuân khẳng định sức mạnh hình thể; có mùa xuân mộc mạc, hoài niệm qua giấy dó và có mùa xuân được gợi mở bằng nghệ thuật trổ giấy. Những khác biệt ấy song hành tự nhiên, cộng hưởng tạo bản hòa âm đa sắc cho Mỹ thuật Quảng Trị, giúp mỗi tiếng nói riêng biệt khẳng định vị thế vững chắc trong thời kỳ hội nhập.
T.N
