Giới thiệu
Tin tức
Sự kiện & Đối thoại
Sáng Tác
Nghệ thuật
Lý luận & Phê bìnhNgười & Đất quê hương
MultiMedia
Zalo

Cửa Việt trong lịch sử

YẾN THỌ    10/01/2026    7
Cửa Việt là cửa biển do sông Hiếu và sông Thạch Hãn đổ ra biển. Các nhà địa chí xưa gọi thượng nguồn sông Hiếu là nguồn Cảo Cảo và thượng nguồn sông Thạch Hãn là nguồn Viên Kiều.

1. Sông Hiếu bắt nguồn từ các sông suối trên địa hình núi rừng phía tây chảy về phía đông rồi đổ vào sông Thạch Hãn ở ngã ba Gia Độ/Dã Độ. Sông đi qua khu vực của tuần Hiếu Giang nên có tên là Hiếu Giang - sông Hiếu. Khi chảy qua địa bàn vùng trung du Cam Lộ, sông được gọi tên là sông Cam Lộ.

Các nhà địa lý xưa coi sông Hiếu là một hệ sông riêng nằm trong cặp đôi sông núi: Tá Linh Sơn - Hiếu Giang. Mạch nguồn sông Hiếu phát tích từ Tá Linh Sơn. Sông Hiếu tuy ngắn nhưng gắn bó mật thiết với đường thượng đạo xuyên sơn - tiền thân của Đường 9, đường Xuyên Á. Đây là con đường giao thương kinh tế đông tây và ngược lại nối rừng với biển; nối đồng bằng với miền núi; nối kẻ biển, kẻ ruộng, kẻ chợ với kẻ lơ/Cà Lơ; nối người Kinh với các tộc người thiểu số; nối nội địa với bên ngoài; nối Quảng Trị - Việt Nam với các nước trong khu vực Đông Nam Á. Đây là con đường công cụ, đường hương liệu (chiều tây - đông), đường muối (chiều đông - tây) đã hình thành từ rất sớm. Vì thế, sông Hiếu có vai trò quan trọng, song hành cùng Cửa Việt.

Sông Thạch Hãn bắt nguồn từ sông Đakrông chảy về hướng đông nam đi qua địa phận thung lũng Ba Lòng rồi xuôi về hướng đông; sau khi hợp lưu với sông Hiếu ở ngã ba Gia Độ/Dã Độ (còn có tên là ngã ba Sương Sương), sông tiếp tục chảy qua địa bàn các xã bờ bắc và bờ nam rồi đổ ra biển qua Cửa Việt.

Sông Thạch Hãn vốn có tên dân gian là Nguồn Hàn. Sông chảy qua làng Thạch Hàn nên có tên là sông Thạch Hàn; khi làng Thạch Hàn đổi tên là Thạch Hãn thì tên sông chính thức mang tên Thạch Hãn. Giáo sư Trần Quốc Vượng cho rằng từ Hàn trong nguồn Hàn/Thạch Hàn là một từ gốc Mã Lai - Đa đảo (Malayo - Polynésian) hay In-đô-nê-diêng (Indonésian) hay Chăm cổ và có nghĩa là: sông nước vùng ven biển1. Sông Thạch Hãn là con sông lớn nhất của vùng nam Quảng Trị nay. Tên xưa nhất của người Việt thường gọi là sông Cái. Vào thời kỳ Champa, sông Thạch Hãn thuộc châu Ô có tên là Kraung Trapauk. Một tài liệu ghi nhận được từ bia ký Champa ở ngôi đền tháp Hà Trung là Indrakantecvara do Hoàng Hậu Tribunavadevi xây dựng vào năm 838 saka (năm 918), dưới thời trị vì của đức vua Indravacman có nhắc đến tên một con sông lớn trong vùng là sông Kraung Trapauk mà theo Hubert thì có lẽ đó là sông lớn Quảng Trị2. Điều đó có thể thấy rằng con sông có tên Kraung Trapauk chính là sông Thạch Hãn.

Sông Thạch Hãn/nguồn Hàn/Hãn giang/sông Hãn là long mạch chủ của toàn vùng nam Quảng Trị đi kèm với Non Mai/Mai Lĩnh sơn/núi Mai Lĩnh để trở thành cặp đôi sông núi biểu trưng văn hoá Quảng Trị: Non Mai - Sông Hãn.

Sông Thạch Hãn là nguồn chính yếu đổ ra biển qua Cửa Việt. Với một hệ chi lưu dày đặc len lỏi khắp vùng nội địa Quảng Trị không chỉ kết nối biển với nội địa, đồng bằng với vùng rừng núi của các tộc Môn-Khme phía tây mà kể cả vùng phía bắc (qua sông Cánh Hòm/Kênh Hàm) với Cửa Tùng/Tùng Luật lẫn vùng phía nam (qua sông Vĩnh Định) với thành phố Huế nên không chỉ kết nối với Cửa Việt bằng một mạng lưới giao thông thủy tiện lợi mà còn tạo ra một mạng giao thương tỏa rộng, phong phú, đa dạng nguồn hàng cho thương cảng Cửa Việt. Từ hệ thống trao đổi ven sông/riverine exchange network và một vùng duyên hải được nối kết đã tạo cơ sở tiền đề cho một trung tâm thương mại/cảng thị trong sông, cận cửa biển như thương cảng Cửa Việt định hình từ rất sớm trong lịch sử.

2. Cửa Việt là hải môn - cửa ngõ nối thông vùng nội địa Quảng Trị với bên ngoài. Từ xa xưa, cửa biển này đã sớm trở thành một địa danh rất nổi tiếng của các luồng thương mại quốc tế trên con đường hàng hải. Trải qua nhiều thời kỳ, Cửa Việt ghi nhiều dấu ấn lịch sử nổi bật gắn bó mật thiết với hành trình xây dựng và bảo vệ vùng đất Ulik/U Ly/Ô, Lý/Châu Thuận/Quảng Trị. Tuy nhiên, do đặc thù về địa lý là cồn cát chạy dài từ Cửa Tùng vào đến Cửa Việt và kéo dài về phía nam nên các thương cảng/thương điếm/cảng thị đều được thiết lập ở trong sông, ven các đầm phá theo dạng cảng sông để dễ dàng tránh trú bão chứ không phải là cảng biển.

Trong thư tịch cổ, Cửa Việt còn có các tên khác như: cửa Việt Khách, cửa Việt Hải, cửa Việt Yên/Việt An. Theo nhà nghiên cứu Trần Kỳ Phương, cửa sông Thạch Hãn, con sông lớn của khu vực Quảng Trị mà thư tịch cổ Việt Nam đề cập là Việt Môn/Việt Hải/Việt Khách/Việt Yên dưới thời Champa có tên là Vvyar. Vvyar phát âm là Việt. Cửa Việt là cửa biển lớn nhất của Quảng Trị và nó cũng là cửa biển quan trọng nhất của khu vực giữa Đèo Ngang và Đèo Hải Vân, Cửa Việt có địa thế tương tự cửa Đại Chiêm ở vùng Hội An và hạ lưu sông Thu Bồn của châu Amaravati trong tỉnh Quảng Nam3.

Từ trước thế kỷ XVIII, “cửa này sâu và rộng, sóng gió dữ dội, 2 bờ đều là bãi cát”4. Các nhà địa chí triều Nguyễn gọi Cửa Việt là hải tấn Việt An và chép: “Ở phía đông bắc huyện Ðăng Xương, trước gọi là An Việt. Năm Minh Mệnh thứ 1 đổi tên hiện nay (tức Việt Yên), cửa lệch rộng 51 trượng linh, thủy triều lên sâu 1 trượng 5 thước, thủy triều xuống sâu 1 trượng 1 thước, ngoài cửa có một dải cát ngầm dài hơn 20 dặm, lại có 7 ghềnh đá: 1. Ghềnh Xung - 2. Ghềnh Ngâm - 3. Ghềnh Miếu - 4. Ghềnh Cháu - 5. Ghềnh Ba Lăng - 6. Ghềnh Hà Bá - 7. Ghềng Chỉ Huy”5. Ô Châu cận lục cũng chép: “Triều trước, đời Quang Thiệu (1516 - 1522) có loài cá voi dạt vào cửa biển. Khi nước triều ròng, ngư dân bắt được, có người lấy xương sườn cá để dựng nhà”6. Do vị trí trọng yếu của cửa biển nên 2 bên Cửa Việt, các thời kỳ đều có các các đồn binh đóng giữ để canh gác. Đặc biệt do sự giao thương đường biển là tuyến vô cùng quan trọng từ xưa nên ở phía bờ nam Cửa Việt luôn có đặt các cơ quan nhà nước để quản lý về thuế quan, xuất nhập khẩu thương mại...

Thương cảng Cửa Việt trong lịch sử được tổ chức thành 2 khu vực (thương điếm/emporium/bến thuyền/thương cảng) nằm ở 2 bờ sông Thạch Hãn và lùi sâu vào phía trong của con sông này. Một khu vực ở bờ nam trên địa phận của nhánh sông có tên là sông Cụt thuộc làng Phú/Phó Hội - Hà Tây (huyện Vũ Xương/Đăng Xương/Thuận Xương/Triệu Phong cũ). Một khu vực ở bờ bắc tại vị trí khởi nguồn của sông Cánh Hòm/Kênh Hàm từ sông Thạch Hãn thuộc làng Mai Xá Thị/Phường Hàng (huyện Minh Linh/Địa Linh/Do Linh cũ).

Ở khu vực phía nam Cửa Việt, trên địa phận làng Phú/Phó Hội - Hà Tây con sông có tên là sông Cụt, bên kia bên kia sông Cụt là làng Tường Vân, trên nữa là làng Việt Yên/An Việt (tên của làng này gắn với tên cửa biển: Việt Yên). Ở một góc phía bắc của làng Phú Hội - nơi sông Cụt và sông Thạch Hãn gặp nhau còn có một xóm nhỏ gọi là xóm Tuần. Phú Hội, tên chữ Hán hàm nghĩa: Hội tụ sự giàu có. Từ thế kỷ XVI - XVIII làng có tên là Phụ Lũy. Bản địa bạ của làng lập vào năm Cảnh Trị thứ 7 đời vua Lê Huyền Tông (1669) ghi tên làng là phường Phụ Luỹ7. Tên này cũng được Lê Quý Đôn chép trong Phủ biên tạp lục8. Tên chữ Hán hàm nghĩa chỉ một đồn luỹ phụ của một khu vực quân sự/đồn binh bảo vệ cửa biển. Đây có lẽ ám chỉ một khu vực đồn binh trấn giữ cửa biển được thiết lập từ thời Champa, qua thời Trần, thời Minh đến thời chúa Nguyễn. Điều này được ghi nhận thông qua các dấu tích còn lại từ địa danh đã được xác lập dưới thời nhà Minh trong bản địa đồ làng Phó Hội vẽ năm Gia Long thứ 11 (1812)9. Từ thế kỷ XIX, theo bản Giáp tư địa đồ lập năm 1812, dưới thời Gia Long thì làng có tên là Phó Hội. Tên này cũng được Quốc sử quán triều Nguyễn chép trong tập sách Đồng Khánh địa dư chí9 với tên chữ Hán hàm nghĩa: Tập trung tới và có lẽ cũng hàm nghĩa trở thành nơi đô hội. Tên Phó Hội rất có thể cũng có từ gốc gác theo cách gọi Phố Hội/Hội Phố để chỉ một nơi tấp nập thuyền buôn - một bến thuyền - một thương điếm - một thương cảng trong sông nằm trên nhánh sông Cụt - nơi lý tưởng để neo đậu thuyền bè nằm kề cận Cửa Việt - cửa An Việt/Việt Yên/Việt Khách/Việt Hải - vốn là một cửa biển quan trọng trong tuyến giao thương đường thuỷ có từ rất sớm trong lịch sử vùng Quảng Trị.

Sông Cụt là dấu vết còn lại của đầm Hà Bá. Quá trình bồi lắng phù sa xảy ra trong khoảng thế kỷ XVIII - XIX kéo theo sự bồi lắng mạnh mẽ phía đầm Hà Bá. Từ khoảng thế kỷ XVIII trở về trước, cả khu vực rộng lớn dọc bờ nam Thạch Hãn từ Việt Yên phía tây xuống Phó Hội - Hà Tây phía đông là một không gian đầm phá. Tên làng Việt Yên/Việt An là lưu dấu của cửa sông Thạch Hãn đổ ra biển: cửa Việt Yên/An Việt trước thế kỷ XV còn nằm sâu vào bên trong, cách cửa biển nay vài cây số. 

Do nằm gần cửa biển, lòng sông lại rộng, kín gió nên sông Cụt trở thành một nơi lý tưởng để neo đậu thuyền bè, tránh, trú bão. Chính vì thế, từ rất lâu trong lịch sử, cho đến hiện nay, nhánh sông này đã thực hiện sứ mệnh quan trọng làm nơi neo đậu cho các thuyền bè, nhất là thuyền buôn đi vào Cửa Việt. Sự giao thương mạnh mẽ của cảng Cửa Việt cùng với các điều kiện thuận lợi đáp ứng được yêu cầu cho một bến thuyền - thương cảng trong sông đã chắc chắn làm cho vùng Hà Tây (Hà Bá) - Phú Hội (Phụ Luỹ, Phó Hội/Hội Phố) sớm trở thành một thương điếm - cảng thị - trung tâm thương mại tấp nập giao thương trên bến dưới thuyền qua hàng thế kỷ từ thời Chăm đến thời Nguyễn. Cồn đất doi ra phía sông Thạch Hãn đầu làng Phó Hội có tên là xóm Tuần (nay là Đồn Biên Phòng Cửa Việt) - là khu vực đặt các đồn binh, trạm thuế quan, nhà thương chánh... của nhà nước để quản lý cửa biển Việt Yên.

Ở khu vực phía bắc Cửa Việt, thương cảng/thương điếm xưa nằm trên đất làng Mai Xá nay. Làng Mai Xá nằm phía nam, trên tả ngạn của nhánh sông cổ, cách Cửa Việt chừng non 3 km. Trên một vùng sông nước đầm phá cận biển, nơi thông với bên ngoài qua cửa biển Việt Yên và nối liền với nội địa thông qua sông Thạch Hãn, sông Hiếu và nhất là thông cả với sông Minh Lương/Hiền Lương qua sông Kênh Hàm/Cánh Hòm, cảng thị Mai Xá - Phường Hàng một thời gian dài trong lịch sử từng là trung tâm thương mại nhộn nhịp. Từ đây, có thể ra phía bắc đến Quảng Bình qua Kênh Sen/Liên Thủy, lên phía tây qua Ai Lao bằng sông Hiếu và đường Thượng đạo xuyên Trường Sơn và vào phía nam đến Thừa Thiên qua sông Thạch Hãn và hệ chi lưu Vĩnh Định. Lưu ảnh còn lại cho đến tận ngày nay của cảng thị Mai Xá - Phường Hàng hầu như không còn gì ngoài một tên làng Mai Xá Thị (Mai Xá chợ) cùng với một tên địa danh có tên là Phường Hàng (nơi tập kết, bốc dỡ, trao đổi hàng hóa; đó chính là một emporium - thương điếm) cùng với một địa cuộc đã có quá nhiều biến đổi do sự chuyển dịch của dòng chảy Thạch Hãn cùng với sự bồi tụ một lượng phù sa lớn vùng cửa sông cận biển qua các thời kỳ về sau đã làm thay đổi hoàn toàn diện mạo của khu vực10 khiến chúng ta rất khó hình dung về vai trò, vị thế và những gì từng diễn ra trên khu vực này qua các thời kỳ nhưng việc chúa Nguyễn Phúc Tần cho nạo vét tuyến kênh Hàm ở đoạn Bàu Phố/Bào Phố/Cẩm Phố/Cẩm Phổ năm 1651 và khai đào tuyến kênh từ Mai Xá đến quán Nhĩ Hạ rồi cho mở càng Mai Xá (thực chất là nạo nét Kênh Hàm/sông Cánh Hòm và thiết lập, và củng cố lại cảng thị) để phát triển buôn bán vào năm 168111 cũng đủ thấy rằng khu vực Mai Xá - Phường Hàng vốn từ trước đó đã là một thương cảng sông sầm uất. Trong làng Mai Xá xưa có lập phủ ở phường Nhà Cong, đất này về sau thuộc quan điền12. Đây có lẽ là một đồn binh quân sự trấn giữ cửa sông xung yếu nơi có thương điếm Mai Xá. Sử chép lại là trước khi cho khơi đào kênh Mai Xá, “chỗ này sóng gió bất trắc, thuyền thường bị đắm” đủ thấy rằng từ Cửa Việt lên đến Mai Xá vào thế kỷ XVI - XVII, sông nước còn rất chập chùng.

3. Từ năm 1069 đến năm 1306, từ thượng nguồn sông Hiếu/Hiếu Giang về đến Cửa Việt là ranh giới giữa Đại Việt và Champa. Tháng 10, mùa đông năm Mậu Ngọ - 11/1558, Đoan Quận công Nguyễn Hoàng được vua Lê cử vào làm Trấn thủ xứ Thuận Hóa. Đoàn thuyền của Nguyễn Hoàng xuất phát từ Thanh Hóa, theo đường biển vào Quảng Trị qua Cửa Việt. Từ Cửa Việt, đoàn tùy tùng theo sông Thạch Hãn vào huyện Vũ xương và khi đến Ái Tử, Nguyễn Hoàng được các cụ bô lão làng này dâng 7 vò nước đã quyết định chọn vùng đất phía tả ngạn Thạch Hãn làm nơi đóng lỵ sở nhà chúa, mở ra một thời kỳ dựng nghiệp ở Đàng Trong. Địa điểm lỵ sở chúa Nguyễn ở Quảng Trị (Ái Tử, Trà Bát, Dinh Cát) trong vòng 68 năm (1558 - 1626) là nơi hội đủ các yếu tố về thiên thời, địa lợi, nhân hòa nhưng điều quan trọng vẫn là tuyến đường thủy huyết mạch qua sông lớn Thạch Hãn và nhiều chi lưu khác nối thông với bên ngoài qua cửa biển Việt Yên với nội địa. Từ đây có thể ra biển qua Cửa Việt, lên rừng theo đường sông Thạch Hãn, qua Lào bằng sông Hiếu. Từ khi Nguyễn Hoàng đóng dinh ở Ái Tử, thuyền buôn bán các nước đã vào Cửa Việt, rồi theo sông Quảng Trị đến buôn bán ở Dinh Chúa. Từ chúa Sãi trở đi, chúa nào cũng đặc biệt khuyến khích người Tàu, người Nhật, người Châu Âu đến buôn bán. Thuyền buôn một số nước như Nhật Bản, Trung Quốc, Bồ Ðào Nha, Hà Lan đã vào Cửa Việt và đi sâu vào nội địa buôn bán với dân Quảng Trị và Đàng Trong. Sử cũ chép rằng: “tàu buôn các nước thường nhóm họp nơi lỵ sở của chúa, trấn trở nên một nơi đô hội lớn”13.

“Từ năm 1604 đến năm 1616, có 186 thuyền buôn Nhật đến buôn bán với Ðàng Ngoài, Ðàng Trong, Chăm, Campuchia, Phi luật tân, Nam Trung Quốc, Mã lai... thì đã có 42 thuyền đến các cảng ở vùng Ðàng Trong, trong đó có Cửa Việt”14.

Vào năm 1585, ở Cửa Việt, khi 5 chiếc thuyền lớn n­ước ngoài vào Cửa Việt, đã diễn ra một trận đánh đuổi của quân lính nhà chúa dưới sự chỉ huy của Nguyễn Phúc Nguyên. Sử nhà Nguyễn gọi là giặc Hiển quý. “Tướng giặc nước Tây Dương hiệu là Hiển Quý đi năm chiến thuyền lớn đến đậu ở Cửa Việt để cướp bóc ven biển, Chúa (Nguyễn Hoàng) sai Hoàng tử thứ 6 lĩnh hơn 10 chiến thuyền, tiến thẳng đến cửa biển đánh tan hai chiến thuyền giặc. Hiển Quý sợ chạy. Chúa cả mừng nói rằng: Con ta thật anh kiệt... Từ đó, giặc biển im hơi”15. Thực ra, đó là thuyền buôn Nhật Bản thường xuyên đến buôn bán ở Thuận Hoá vào giai đoạn mà nhà Chúa mở cửa giao thương với bên ngoài. Đến năm 1601, trong một bức thư gửi cho Mạc Phủ Tokugawa đã đề cập đến sự nhầm lẫn này và đây cũng chính là thời điểm “hai bên bắt đầu buôn bán với nhau một cách đều đặn”. Trong suốt 45 năm cầm quyền, Nguyễn Hoàng đã có 11 lần viết thư cho Mạc phủ Nhật Bản để thiết lập quan hệ thương mại, mời gọi Nhật Bản đến buôn bán.

Những hoạt động giao thương nhộn nhịp này đã làm cơ sở cho thương cảng sông Mai Xá Thị/Phường Hàng (ở bờ bắc) và Phụ Luỹ/Phó Hội - Hà Bá/Hà Tây (ở bờ nam) trở thành nơi “trên bến dưới thuyền” và là nơi tàu buôn của các nước thường xuyên lui tới, ăn hàng. Trong đó, tuyến giao thương Cửa Việt - Cam Lộ - Ai Lao xuyên hành lang Đông - Tây qua sông Thạch Hãn - Hiếu Giang và đường Thượng đạo xuyên Trường Sơn mà trung tâm là Chợ Phiên Cam Lộ là tuyến huyết mạch.

Trong cuộc chiến tranh Việt Nam (1954 - 1975), nhằm đảm bảo các vấn đề về vận chuyển hàng hóa, vũ khí, đạn dược và các trang thiết bị phục vụ cho quân sự toàn bộ chiến trường Quảng Trị và Lào, từ năm 1967, cùng với việc nâng cấp, mở rộng đường quốc lộ 9, quân đội Mỹ và VNCH đã cho xây dựng cảng quân sự Cửa Việt ở bờ nam, nằm trên đất đai của làng Phó/Phú Hội, xã Triệu An ngày nay. Cảng Cửa Việt có diện tích khoảng 10.000m2, độ sâu trung bình từ 8m - 12m, tàu 5.000 tấn có thể ra vào dễ dàng để từ đó lên theo sông Hiếu vào cảng quân sự Đông Hà. Cùng với việc xây cầu cảng và hệ thống bến bãi, kho tàng, trên bờ còn có nhiều đồn bốt, lô cốt dày đặc để bảo vệ khu vực quân cảng. Tuy nhiên, đây chỉ là cảng quân sự và việc nạo vét, chống cát lấp phải tiến hành thường xuyên. Dọc tuyến đường vận tải chiến lược từ Cửa Việt lên sông Hiếu và Thạch Hãn suốt giai đoạn 1966 - 1972 đã từng xảy ra nhiều cuộc đụng độ giữa Quân Giải phóng và quân đội VNCH, điển hình là trận “Bạch Đằng trên sông Hiếu” tháng 2/1968; chiến thắng Cửa Việt đánh bại cuộc hành quân tái chiếm của quân đội VNCH mang tên Tango tháng 1/1973…

Cửa Việt cũng là con đường kết nối tuyến vận tải chiến lược đường Hồ Chí Minh giữa đường biển với đường bộ trên Trường Sơn cho công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước từ sau khi tỉnh Quảng Trị được giải phóng năm 1972.

Sau ngày đất nước thống nhất, cảng Cửa Việt không còn hoạt động nữa và trở thành hoang phế. Mãi đến tháng 5/1994, Thủ tướng Chính phủ ký duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật, quyết định cho xây dựng lại cảng Cửa Việt nhưng lại được chuyển sang bờ bắc, trên địa phận của làng Hà Lộc xã Do Hải, huyện Do Linh, nằm tại km 0 của tuyến đường Xuyên Á nối Quảng Trị với hai nước Lào và Thái Lan. Khu vực bờ nam, trên sông Cụt của làng Phú Hội - Hà Tây, từ 2010, dự án xây dựng bến neo đậu thuyền bè tránh trú bão đã đáp ứng đòi hỏi của sự phát triển nghề cá và dịch vụ nghề cá. Hiện tại, cảng Cửa Việt đang phát huy lợi thế về việc đưa đón khách du lịch ra Đảo Cồn Cỏ, một điểm đến kỳ thú trong hành trình đến với Quảng Trị.

* * *

Cửa Việt - cửa ngõ của Quảng Trị mở ra phía biển từng có một vị thế quan trọng và quyết định trong diễn trình lịch sử tồn tại và phát triển của vùng đất này. Cửa Việt không chỉ là hải môn mà còn là cảng sông để con người qua các thời kỳ khai thác tầm nhìn chiến lược về biển, nhất là lợi thế giao thương hàng hải thông qua việc vận dụng địa hình, địa cuộc để chú trọng thiết lập hệ thống thương điếm, trung tâm giao dịch thương mại và cũng là bến thuyền trong sông để mở cửa, phát triển kinh tế và giao lưu, hội nhập quốc tế. Cửa Việt cũng là tên đã đi vào lịch sử trong cuộc chiến tranh Việt Nam với những chiến công oanh liệt.

Thời cuộc có thể đổi thay nhưng địa danh Cửa Việt từng gắn bó với nhiều sự kiện lịch sử vẫn còn mãi!

Cửa Việt - Đông Hà, tháng 11/2025

Y.T

 ____________________

1 Trần Quốc Vượng. Mấy nhận thức bước đầu về kết quả mùa điền dã văn hóa - khảo cổ hè 1993 tại Quảng Trị. In trong “20 năm Bảo Tàng Quảng Trị”. Nxb Thuận Hóa, Huế, 2014, tr. 145 - 146

2 Dẫn theo: L. Cadière. Bãi biển Cửa Tùng. Bulletin des amis du vieux Hue. Những người bạn cố đô Huế. B.A.V.H tập VIII, năm 1921. Bản dịch của Phan Xương. Nxb Thuận Hoá, Huế. 2001, tr. 326.

3 Trần Kỳ Phương. Bước đầu xác định danh hiệu các tiểu vương quốc (?) thuộc miền Bắc vương quốc cổ Chiêm Thành (Champa) tại miền Trung Việt Nam từ giữa thế kỷ XI và XV. Tiểu luận. Viện Nghiên Cứu Châu Á thuộc Đại học Quốc gia Singapore (Asia Research Institute, National University of Singapore). 2004.

4 Lê Quý Ðôn. Toàn tập. Phủ biên tạp lục. Nxb Khoa học xã hội. Hà Nội, 1977, tr.111, tr.81.

5 Quốc sử quán triều Nguyễn. Ðại Nam nhất thống chí. T1. Nxb Thuận Hoá. 1992, tr.148.

6 Dương Văn An. Ô châu cận lục. Bản dịch và hiệu chú của Trần Ðại Vinh, Hoàng Văn Phúc. Nxb Thuận Hoá, Huế, 2001, tr. 52-53.

7 Địa bạ của phường Phụ Luỹ tổng An Cư, huyện Đăng Xương lập năm Cảnh Trị thất niên. Chữ Hán, viết trên giáy dó, đã bị mục nát nhiều chỗ nhưng nội dung còn khá nguyên vẹn. Hiện lưu giữ tại nhà Hội chủ Nguyễn Công Liên, làng Phú Hội, xã Triệu An.

8 Theo: Giáp tư địa đồ làng Phó Hội, bản địa đồ viết bằng chữ Hán, được lập năm Gia Long thập nhị  niên. Sau đó được sao lại vào năm Thành Thái thập thất niên do một vị thơ lại là Lê Phong Nẫm, có sự chuẩn y của huyện Đăng Xương. Hiện lưu giữ tại nhà Hội chủ Nguyễn Công Liên, làng Phú Hội, xã Triệu An.

9 Quốc sử quán triều Nguyễn. Ðồng Khánh địa dư chí lược. Bản dịch của Ngô Đức Thọ, Nguyễn Văn Nguyên, Philippe Papin, tr.1384.

10 Xem thêm: Yến Thọ. Nhận diện cảng thị Mai Xá - Phường Hàng từ sự biến đổi của dòng Thạch Hãn. Tạp chí Cửa Việt số 232, tháng 1-2014, tr.93-101.

11 Quốc sử quán triều Nguyễn. Ðại Nam nhất thống chí. T1. Nxb Thuận Hoá. 1992, tr. 155.

12 Lê Quang Định. Hoàng việt nhất thống dư địa chí. Phan Đăng dịch và chú giải. Nxb Thuận Hóa, Huế, 2005, tr. 349.

13 Quốc sử quán triều Nguyễn. Ðại Nam thực lục, tập 1 (Tiền biên). Nxb Giáo dục. Hà Nội, 2001, tr. 31.

14 Thành Thế Vỹ. Ngoại thương Việt Nam hồi thế kỷ XVI - XVII và XIX. Nxb Sử học. Hà Nội, 1961, tr. 46.

15 Quốc sử quán triều Nguyễn. Ðại Nam thực lục tiền biên. Sử học. Hà Nội. 1962, tr. 37.


}