Tiêu đề như nặng chất tráng ca mà giai điệu lại mềm mại, ca từ thì dân dã như hạt lúa củ khoai, như mùa màng cấy hái. Ngựa hý quân reo! Là chiến tranh, là sắt, máu, chém giết? Vậy mà, hãy nghe: “Mẹ đón quân ta về nhà nghỉ lại. Nắm tay mẹ hỏi, giải phóng quân ta… Đã nghe sông Hiếu quê nhà, chảy xuôi tới bến Đông Hà kể vui, kể rằng”… Cũng giữa thập niên 60 thế kỷ trước ở miền Bắc lại vang vọng một ca khúc tự sự trữ tình đã phảng phất “mùi vị chiến tranh” là Quảng Bình quê ta ơi: “Nếu ai hỏi vì sao quê hương chúng ta nhiều ngói mới, rằng…”
Có lẽ phải chung câu trả lời, 950 năm trước dải đất này đã là một, từ chân thềm nam Hoành Sơn đến tận sông Hiếu đã cùng chung về với Đại Việt. Sau chiến công bình Chiêm của vua Lý năm 1069 buộc Vua Chiêm (Chế Củ) dâng đất ba châu để chuộc mạng, năm 1075, Lý Thường Kiệt vẽ bản đồ, đổi Bố Chinh thành Bố Chính, Địa Lý thành Lâm Bình, Ma Linh thành Minh Linh, tổ chức bộ máy hành chính, chiêu mộ dân từ Thanh Nghệ vào khai khẩn. Đây là cuộc di dân mở đất dưới hình thức tổ chức nhà nước đầu tiên, cũng bắt đầu hành trình tiến xuống phương Nam. 230 năm sau, năm 1306, dải đất từ nam sông Hiếu đến bắc Quảng Nam tiếp tục nhập vào Đại Việt trong cuộc hôn nhân chính trị Công chúa nhà Trần với vua Chiêm Chế Mân. Trải qua nhiều triều đại, cương vực các Lộ, Phủ thay đổi, đến thời Lê Thánh Tông, lần đầu tiên, đất Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên được “gom lại”. Sử chép “…1466… thừa tuyên Thuận Hóa gồm đất từ Hoành Sơn Đèo Ngang đến phía Bắc Quảng Nam bây giờ”. Năm 1470 vua Lê Thánh Tông Nam chinh thắng lợi, xuống chiếu cho dân phía Bắc vào lập cư vùng đất mới. Rất nhiều làng ở Bình Trị Thiên ngày nay khai mở từ cuộc di dân này, lấy họ người đứng đầu nhóm khai khẩn đặt tên làng, còn lưu danh đến ngày nay.
Năm 1502, đất Hải Lăng xuất hiện tiến sĩ khai khoa Bùi Dục Tài. 50 năm sau, tiến sĩ triều Mạc Dương Văn An, người Lệ Thủy, tập thành Ô châu cận lục “vẽ đất” Thuận Hóa cận cảnh, cả hành chính, sản vật, dân cư. Chỉ mấy năm sau, 1558, Nguyễn Hoàng đưa theo gia binh tiếp cận Cửa Việt Khách “đóng đô” ở Ái Tử bắt đầu lấy đất từ “Hoành Sơn nhất đái…” làm căn bản, khai sinh hai triều đại 9 chúa 13 vua “…vạn đại dung thân” (Nguyễn Bỉnh Khiêm). 149 năm tính từ trận đánh đầu tiên trên cửa sông Nhật Lệ (1627) đến 1776, quân Trịnh tràn qua lũy Trấn Ninh, người Quảng Bình chịu nỗi đau phân ly, sông Gianh thành ranh giới chia cắt. Những Ba Đồn, đồi Bái Vọng ở bờ Bắc, những Ba Trại, Dinh Mười, Dinh ngói ở bờ Nam ghi dấu chân những đơn vị đồn trú quân đội hai bên. Phương Tây bắt đầu công cuộc xâm lăng, năm 1885, vua Hàm Nghi xuất bôn ra Cam Lộ, xuống chiếu Cần Vương, qua Lào, vòng về Hà Tĩnh, lộn vào Tuyên Hóa, xuống chiếu Cần Vương lần hai. Trong suốt ba năm, đất Quảng Trị - Quảng Bình thành kinh đô kháng chiến.
Chín năm kháng chiến trường kỳ “Bình Trị Thiên khói lửa”, Sư đoàn 325 gồm các trung đoàn 18 (Quảng Bình), 95 (Quảng Trị) , 101 (Thừa Thiên) chia lửa, làm chủ cả vùng rừng núi và đồng bằng đến ngày chiến thắng: “Đây Cự Nẫm kia Câu Nhi, đây Ba Lòng kia khe Sanh, đây nơi nơi chôn thây quân thù, Bình Trị Thiên đây lò tranh đấu, giết quân tham tàn lòng đất nước ghi sâu”. Năm 1954, không phải vĩ tuyến 18 (sông Gianh) hay vĩ tuyến 16 như tranh cãi trên bàn đàm phán mà một lựa chọn trung dung, vĩ tuyến 17, sông Bến Hải làm giới tuyến tạm thời: Quảng Trị bị chia cắt, chỉ một xã Vĩnh Sơn cũng bị chia thành hai nửa. Vĩnh Linh cùng với Quảng Bình thành hậu phương trực tiếp. Quân giải phóng “Cơm Bắc giặc Nam” đánh vài trận ở Quảng Trị (B5) lại ra Quảng Bình - Vĩnh Linh củng cố. Cho đến ngày 30/3/1972, mặt đất rung chuyển bởi đạn pháo và các đơn vị hùng mạnh của miền Bắc vượt sông Bến Hải, sau 32 ngày, ngày 1/5 tuyên bố giải phóng Quảng Trị rồi trận chiến 81 ngày đêm bảo vệ thị xã diễn ra ác liệt chưa từng thấy trong lịch sử chiến tranh Đông Dương.
Lạ, thăng trầm đến như thế, bom đạn chết chóc đến như thế! Tháng giêng năm Ất Tỵ (1965) ở bờ Bắc, không quân Mỹ tiến hành chiến dịch “Mũi lao lửa” ném bom hủy diệt Đồng Hới, Hồ Xá và 72 điểm khác. Ở bờ Nam, lục quân Mỹ đổ bộ Đà Nẵng bắt đầu tiến hành cuộc chiến tranh cục bộ. Vậy mà, hai ca khúc điển hình dải đất “thổ nối mạch - giang liền nguồn” vẫn dìu dặt nhẹ như không, như người phụ nữ vừa bới tóc vừa kể chuyện đời “rằng, có đắng cay nên chừ mới có ngọt bùi…”, rằng “đường Chín hôm nay, xác bao quân Mỹ Ngụy ở đây đã chết vùi…”
Không phải đến lúc này cái bản tính vừa dẻo dai như thân dừa thân tre vừa rắn rỏi như cây tùng cây bách mới thể hiện. Mười năm trước đó, năm 1956, đối phương bắt đầu phá hoại hiệp định, nguy cơ đất nước phải tiến hành một cuộc đấu tranh lâu dài và cảnh vợ lìa chồng con lìa cha hiển hiện, người Hiền Lương đã tỏ thái độ bằng đôi câu lục bát tưởng chừng không thể điển hình hơn:
Dù cho bến cách sông ngăn
Dễ gì chặn được duyên anh với nàng
Lời tuyên chiến mềm mại như tiếng nói dân gian mà hào sảng như lời hịch của lòng can đảm. Dù mười năm, hai mươi năm hoặc lâu hơn, khi Quảng Trị Khăng khăng đợi chờ thì Quảng Bình đáp lời ước hẹn Muôn người như một gửi về Trị Thiên tấm lòng sắt son. Hẹn ngày chiến thắng ta sẽ về trong một nhà..
Và, lịch sử hiện đại chứng minh: Lòng dân đã thắng. Trong 20 năm máu lửa, hàng hàng những sư đoàn chiến binh con em miền Bắc hành quân về phương Nam, lấy Quảng Bình làm điểm tựa trước khi vượt Bến Hải vào chiến trận. Hai mươi năm, hàng dừa Trị Thiên kết nghĩa bên sông Nhật Lệ mỗi ngày mỗi lớn lên xanh tốt, dẻo dai. Người miền tây Quảng Trị bị chính quyền Ngô Đình Diệm khủng bố trắng đã gồng gánh chạy ra Bắc tạo nên “vệt mòn” để miền Bắc mở đường 16 từ Lệ Thủy cắt lên miền tây nhập với đường Trường Sơn, vượt Vít Thù Lù, vượt đèo Nghìn Linh Một qua Lào, vòng về miền Nam. Hai mươi năm, hạt gạo chia ba, vang vọng ca khúc “Gánh gạo Trị Thiên” vĩ thanh còn đến hôm nay. Hai mươi năm, những người con Quảng Trị tập kết ở Quảng Bình “Ngày Bắc đêm Nam” cùng các tiểu đoàn chủ lực Quảng Bình 45, 46 vượt Bến Hải vào chiến đấu rồi nhanh chóng rút ra chốt giữ hậu phương. Có một câu chuyện của người Quảng Trị tập kết ra Quảng Bình phảng phất như những thế kỷ trước người Hoan Ái (Thanh Nghệ) di dân về phương Nam, người châu Âu di dân qua đất Mỹ. Cuối năm 1955, khi giới tuyến sắp khép lại, đôi bờ Hiền Lương sẽ không còn được lưu thông, có một nhóm chừng hai chục gia đình rời quê nhà Nại Cửu (Triệu Đông) tìm đường ra Bắc. Họ đi vì linh cảm chính quyền Việt Nam Cộng hòa không hứa hẹn điều gì tốt đẹp. Vượt Bến Hải được chừng 30 cây số thì gặp con sông chắn đường. Nhận thấy vùng đất màu mỡ dân cư lương thiện, người trưởng đoàn, một cán bộ Nông hội đỏ kêu mọi người hạ quang gánh để ông gặp chính quyền. Nơi họ dừng chân là vùng hữu ngạn Kiến Giang thuộc thôn Uẩn Áo, huyện Lệ Thủy. Chính quyền xã cấp đất và giúp làm nhà, cho mượn nông cụ và cắt đất canh tác, giống như ngày nay chính quyền làm nhà tái định cư cho bà con bị lũ quét, đất lở. Không lâu sau, mấy chục gia đình người Triệu Phong định cư trên đất mới lập nên xóm Uẩn Nam, trong làng Uẩn Áo, ý rằng là xóm Uẩn Áo mới của người miền Nam. Người dẫn đầu đoàn người Nại Cửu là cụ Nguyễn Đức Kỉnh trở thành Trưởng thượng như trưởng xóm bây giờ. Chỉ vài năm sau, những người trẻ lớn lên không còn biết đâu là người bản địa ai là dân ngụ cư. Việc cấy hái cày bừa, giăng câu đặt lờ bắt tôm cá và cả văn hóa ngôn ngữ thảy đều giống nhau. Hai mươi năm sau, miền Nam giải phóng. Hai mươi gia đình ban đầu đã tách thêm mấy hộ được chính quyền Lệ Thủy bố trí phương tiện cơ giới về quê, mang theo ký ức vùng đất tạm cư đẹp như một câu chuyện cổ tích, để lại dăm cô gái Triệu Phong làm dâu Lệ Thủy, lại mấy cô gái Lệ Thủy theo về làm dâu Nại Cửu - Triệu Đông. Cũng thời gian này, ngọn cờ Nông nghiệp hàng đầu “Gió Đại Phong” trong phong trào “Ba nhất” thổi lộng miền Bắc. Điều thú vị là trong ba ông trong ban chủ nhiệm Hợp tác xã làm nên kỳ tích một thời thì có đến hai người Quảng Trị: Chủ nhiệm HTX Anh hùng lao động Nguyễn Ngọc Ánh quê Cam Lộ, Phó chủ nhiệm phụ trách Kỹ thuật Nguyễn Sĩ Lộc người Triệu Hòa, Triệu Phong. Năm 1975, người Quảng Trị tập kết hồi hương thì một năm sau, Bình Trị Thiên về trong một nhà “tỉnh dài huyện rộng xã to” cùng chung phận cơm áo ngặt nghèo vượt qua gieo neo mười năm hậu chiến. Từ năm 1989 tới nay, tái lập ba tỉnh, khách bộ hành đi qua Sen Thủy - Vĩnh Chấp hơi ngạc nhiên vì cái ranh giới quá mong manh giữa hai tỉnh Quảng Bình - Quảng Trị: Chỉ là một cái biển cắm giữa đất của hai khu vườn hai ngôi nhà thổ liền thổ, sân liền sân. Cây rau khoai trồng trên đất Sen Thủy (Lệ Thủy) bò qua đất Vĩnh Chấp (Vĩnh Linh). Cây ăn quả trên vườn nhà Vĩnh Chấp tỏa bóng mát và chìa cành trĩu quả qua sân nhà Sen Thủy. Trẻ con tiểu học, mẫu giáo “phải” đi học trường “ngoại tỉnh” cho gần nhà, khỏi lo cha mẹ đón đưa. Để, dường như gặp lại cái hình ảnh thân thương từng hiện hữu trong thơ, người hai tỉnh gọi nhau xin lửa qua rào. Câu lạc bộ Dân ca Sông Hiền ra đời và gây tiếng vang cùng lúc di sản hò khoan Lệ Thủy được quốc gia ghi nhận. Và, ca nương hai nơi hát chung, hò chung, xố con mái khoan, máy đẩy không hề lạc nhau một nốt nhạc.
Ba mươi sáu năm như thế! Và tưởng cứ mãi như thế. Bỗng một ngày, “sắp xếp lại giang sơn” vừa chạy vừa xếp hàng, tưởng là khó khăn lúng túng lắm? Nhưng, từ xưa đã thế và bây giờ vẫn thế. Núi liền dải sông liền dòng, đất liền thổ. Trường Sơn từ thuở khai thiên lập địa vẫn che chắn cho cả phía tây miền Trung. Sông Kiến Giang bắt nguồn từ núi Quan Độ (Quảng Trị) chảy xuôi nhập với Long Đại đổ ra cửa Nhật Lệ, Quảng Bình. Nếu không vì nạn cát lồi, hoặc, nếu đầu thế kỷ 15 đã có xi măng kết dính trong xây dựng, hẳn Hồ Hán Thương đã khơi được dòng chảy liền mạch từ cửa Nhật Lệ lên Kiến Giang qua Liên Cảng (Bàu Sen), vào Hiền Lương, cắt qua sông Hiếu, Thạch Hãn vào phá Tam Giang - Cầu Hai vào tận Hải Vân để phục vụ công cuộc Nam chinh. Sông núi thổ nhưỡng hình như đã đợi sẵn cho một lần hội ngộ lâu dài. Có gì đâu, chỉ là nhổ cái bảng gỗ có ghi địa phận hai tỉnh là xong, không hề ảnh hưởng gì đến ngọn rau khoai, cây ăn trái giữa hai gia đình. Cái bàn trà muôn thuở của cánh phụ lão hai tỉnh cách sân liền nhà cũng không hề di dịch. Trẻ con vẫn đi học trường gần nhất nhưng không còn là ngoại tỉnh. Giọng hò mái nhì, mái ruổi khoan nhặt của hai câu lạc bộ dân ca Sông Hiền và Lệ thủy vẫn dìu dặt “như chưa hề có cuộc chia ly”.
Trời vẫn xanh một màu xanh Quảng Trị
Tận chân trời mây núi có chia đâu
Câu thơ khiến ta liên tưởng đến Truyện Kiều của Nguyễn Du: Vẻ non xa bóng trăng gần ở chung. Vâng, từ chân đèo Ngang “Hoành sơn nhất đái” chạy miết vào đôi bờ Mỹ Chánh, từ nay chính thức là nơi đặt đòn gánh, gánh hai đầu đất nước, trở bên nào cũng chín dạn hai vai
Tháng 7/2025, nếu không có sự xuất hiện đông đảo của những chiếc xe mang biển số 74, chắc người đời không biết có một sự xáo trộn hành chính của đất Quảng Trị mới: Vẫn một giọng ngang ngang, nặng nặng và rất hiền lành, thanh điệu hỏi - ngã, âm vận ân - anh không phân biệt. Vẫn những món ăn nhiều mùi ruốc biển mặn mòi, ớt xanh cay xé lưỡi. Nhiều cặp đôi xây dựng hồi “13 năm Bình Trị Thiên hợp nhất” giữa người hai tỉnh nay về chung nội ngoại. Đầu tuần, những chuyến xe 74 chạy ra Đồng Hới để cuối tuần, chiều thứ sáu lại trả người về phía nam. Rồi sẽ có những ngôi nhà mới dựng thêm ở tỉnh lỵ, sẽ có sự điều chỉnh lặng lẽ trong dân cư, như nhịp sống vốn vẫn vậy, văn hóa giao tiếp vẫn vậy. Hàng dừa Trị-Thiên kết nghĩa bên bờ Nhật Lệ vẫn vươn cao hóng gió. Lớp trung niên ra đời trong 20 năm tạm cư nay đã nên ông nên bà, nên chú nên bác tay bế tay bồng ở Liên Thủy - Triệu Đông. Xuân này, họ sẽ tính toán thời gian đón Tết cùng con cháu hai bên. Nào có xa ngái chi mô, chỉ 60 cây số với tốc độ xe hơi. Đường bộ, đường sắt cao tốc sẽ nối lại gần những miền “biên viễn” Bắc Nam của tỉnh mới. Rồi sẽ có một đôi trai gái đón giao thừa ở xóm nhỏ cực Bắc Tuyên Hóa để trưa mồng một Tết bóc bánh chưng ở Lao Bảo, Khe Sanh hay nơi nào đó cực Nam.
Vâng! Vẫn một màu xanh Quảng Trị trên dải đất này, từ lâu và mãi từ nay…
Xuân 2026
N.T.T
