Họ vừa nắm giữ nhiều vai trò khác nhau, từ việc trở thành vợ/chồng, cha/mẹ, đến tham gia vị trí người lao động trong xã hội. Và sẽ có hai trường hợp xảy đến ở các đối tượng trên. Một mặt, các thế hệ bề dưới và thế hệ bề trên không tìm được tiếng nói đồng thuận với các quan niệm lịch sử để thích nghi với cuộc sống mới. Mặc khác, các thế hệ người trẻ loay hoay với việc nhận diện bản sắc giới, bản sắc vai trò. Với nữ giới, đó là khi quyền-lực-tập-thể của họ chưa bao giờ là một lợi thế, sự không cùng cấp trong quan điểm gắn bó xã hội. Đối với nam giới, chính quyền lực siêu phàm được trao một cách công khai lại có thể trở thành nhãn mác cơ học làm mất đi quyền nhân thân. Tuy nhiên, không phải lúc nào, sự mâu thuẫn cũng được diễn ra như một cuộc tranh luận công khai ở diện rộng (không gian công cộng/public space), mà đa phần ở diện sâu (không gian riêng tư/private space) - nơi khởi nguồn cho các quy ước được định nghĩa.
Trong Người ăn chay, Han Kang đã kể về cuộc chiến của một người phụ nữ trẻ mang tên Yeong-hye, trước thế giới nhẫn tâm đầy bạo lực do chính những người thân đối xử với mình, chỉ vì cô làm khác với “giống loài”. Bà còn chỉ ra “điểm yếu” của nam giới khi họ cũng là nạn nhân từ chính quyền lực được trao tặng như một lẽ tự nhiên. Một thế giới mà ai cũng thấu suốt ấy là cõi người đổ nát, bị thuần hoá phẩm tính. Từ điểm nhìn trực diện vào từng thế hệ bên trong gia đình nhỏ, thông qua các đối tượng nhân vật xuất hiện trong tác phẩm được kể ở từng chương truyện, chúng ta sẽ hình dung rộng hơn về một “địa đàng” với các giao ước bị xoá bỏ, đến từ hai thế hệ, thế hệ cha mẹ và thế hệ con cái.
Thế hệ của cha mẹ: những người lính và vợ lính hậu phương - gồng gánh “thể hiện” (face), chịu ảnh hưởng tàn dư chiến tranh, bị dương tính hoá phẩm cách
Mẹ Yeong-hye là người phụ nữ xuất hiện ngắn trong tác phẩm liên truyện Người ăn chay của Han Kang, nhưng để lại một dấu ấn lớn về thế hệ người mẹ truyền thống. Người phụ nữ mang tiếng nói của thế hệ thứ hai, đại diện cho lớp nữ giới trải qua nhiều cuộc thay đổi của lịch sử xã hội Hàn Quốc, nhất là trong bối cảnh chuyển giao của thời đại công nghiệp hoá, đầu những năm 2000. Thế hệ của bà, các mẹ thường có xu hướng trở thành “người vợ/mẹ hiện đại”, người có vai trò quản lý một gia đình hạt nhân (nuclear household). Thế mà, thay vì vượt lên trên các bối cảnh cam go được thời đại giao phó, mẹ của Yeong-hye duy trì hình mẫu “vợ tốt, mẹ hiền”. Đặc biệt, bà đã sống cùng người chồng “rất gia trưởng” (tr.34), lại “từng là lính tham chiến ở Việt Nam” (tr.73) - giai đoạn chiến tranh Hàn - Việt (1964 - 1973).
Bà làm tròn bổn phận người mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con cái, đảm bảo rằng các con luôn tôn trọng và vâng lời cha. Sự nhún nhường của bà luôn xuất hiện song song cái bóng của người chồng. Sự gần gũi của bà với các con thường không phải để động viên, tạo bệ phóng, mà lại là sự “giáo điều” nhân danh “quyền gia trưởng”. Thế hệ bà thường bị ám thị bởi sự ràng buộc của mối quan hệ ngoại cuộc. Ở bà mẹ này, một nỗi sợ đám đông với những định kiến hiện lên rõ ràng khi nghĩ rằng việc Yeong-hye trở nên khác thường sẽ là cái cớ vững chắc khiến “người đời bắt tội”: “Mày không ăn thịt thì người đời bắt tội mày đấy” (tr.53). Đó có khi còn là nỗi sợ mất thể diện mà bà đã cố gắng gìn giữ cho gia đình.
Có lẽ, vì chồng bà từng là quân nhân trở về từ cuộc chiến, nên chứng ám ảnh hậu chiến đã khiến bà và các con luôn hứng chịu nhiều trận đòn roi, mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình tan vỡ. Hoàn cảnh này đều hướng đến cách nghĩ của bà. Sự trấn áp tinh thần lẫn thể xác và cả những nguyên nhân khách quan làm mẹ của Yeong-hye mất dần quyền lực trong gia đình. Việc mất giọng của người đàn bà lớn ấy kéo theo tấn bi kịch với hành vi bạo lực tàn nhẫn thường xuyên của chồng lên các con suốt thời thơ ấu, làm “những nắm đấm của bố luôn chĩa vào mỗi Yeong-hye. Yeong-ho thì bị đánh từng nào, nó lại ra đường đánh lại những đứa trẻ con khác từng đấy nên cũng vơi bớt khổ sở, còn cô là con gái lớn thường thay mẹ đã quá mệt mỏi nấu canh giải rượu cho bố nên ông phần nào dè chừng với cô nhất.” (tr.175). Ngay cả khi các con đã lớn, có gia đình riêng, ông bố vẫn luôn bực dọc và nổi nóng bằng những lời “quát mắng đầy giận dữ”, đỉnh điểm là hành vi đáng sợ của ông với Yeong-hye ngay trước mặt con rể. Ông yêu cầu những người có mặt nắm chặt cánh tay Yeong-hye, rồi “cố ấn miếng thịt vào mồm con gái đang vật vã khổ sở. Ông bành miệng bằng hai ngón tay nhưng không thể làm gì với hai hàm răng nghiến chặt … Cuối cùng, cơn giận lại bùng lên tận mặt, bố vợ tát thêm một lần nữa.” (tr.45). Sự tấn công của người bố là một cách đáp trả việc từ chối ăn thịt của con gái, vì dám thách thức đế chế của người cầm quyền.
Đối với người lính Hàn khi trở về, một công dân xả thân vì nghĩa lớn đó là một sự kiêu hãnh. Và sự kiêu hãnh đó càng có giá trị để củng cố quyền lực. Thế nhưng, cái mà không phải ai cũng nhìn thấy chính là sau cuộc chiến tranh Việt Nam, nhiều cựu binh lính Hàn trở về mắc chứng rối loạn căng thẳng hậu sang chấn. Có một số người không được điều trị, điều này ảnh hưởng đến sức khoẻ tâm thần, sinh ra tính khí nóng nảy, thường xuất hiện hành vi bạo lực ảnh hưởng đến người thân, khiến gia đình trở thành nơi mà chấn thương chiến tranh tiếp tục tái diễn. Bố Yeong-hye, dù vui mừng sau cuộc chiến, nhưng hành vi ứng xử của ông với gia đình cho thấy nhân tính đã đổi thay và ẩn hình dưới hệ thống quyền lực gia trưởng.
Cha mẹ của Yeong-hye cũng không khác gì những con rối mà quyền lực gieo cấy. Tuy nhiên, sự độc ác của người cha và sự im lặng của người mẹ đã gây nên những tổn thương lớn trong gia đình là không thể phủ nhận. Họ là biểu tượng cho một thế hệ độc đoán và chất đầy kỳ vọng. Chính sự kiểm soát tuyệt đối hoá của thế hệ của cha mẹ, là một điều vô lý ngăn cản sự phát triển của thế hệ con cái trong chính đời sống mới - một thế giới bình đẳng mà chúng nên được tận hưởng theo cách riêng của mình.
Thế hệ của người con gái: những cô gái trẻ lạc lõng - phá vỡ sự phụ thuộc bề trên, thách thức lòng tham, khôi phục nhân tính bị đồng phục
Yeong-hye, nhân vật nữ chính trong cuốn tiểu thuyết Người ăn chay là người phụ nữ 30, đã lập gia đình. Thời điểm sống của nhân vật rơi vào đầu những năm 2000, cũng là khoảng thời gian làn sóng nữ quyền thứ hai du nhập vào Hàn Quốc, tạo ra những phản ứng và các chân dung “phụ nữ mới” được định hình.
Cuộc sống của cô thay đổi khi quyết định từ chối ăn thịt và quan hệ với chồng. Điều đơn giản là cô muốn tự chủ sự sống. Nó không phải là sự khẳng định vai trò xã hội, công việc, mà là khẳng định quyền con người. Việc Yeong-hye vứt toàn bộ đồ ăn mặn, khiến ngoại hình gầy đi là một sự thách thức với chủ nghĩa tiêu dùng (consumerism) vào các chuẩn mực phi nhân của xã hội, xem cơ thể con người như một món hàng hoá. Việc từ chối quan hệ với chồng, cái cảm giác mùi thịt, mùi thịt bốc ra từ người anh, mùi dục vọng bám lấy cô suốt khoảng thời gian từ chối ăn thịt, khiến cô cảm nhận đấy như là một sự chiếm đoạt, như những con thú đẫm máu xuất hiện trong cõi mộng.
Sự chống cự với tâm lý văn hoá, từ bản chất con người (human) đến tâm lý tình (jeong), cho thấy một Yeong-hye muốn rút khỏi cộng đồng phụ thuộc. Khi mà khái niệm “con người” được hiểu là con người ở giữa (human between) và “tình” là tình cảm và sự gắn bó sâu đậm giữa con người với nhau. Đây là quá trình chống cái văn hoá vô cùng tự nhiên, khi mà chủ thể được sinh ra và trưởng thành trong một nền văn hoá vốn được cố định ép buộc: “Ăn thịt là bản năng của con người rồi. Ăn chay chỉ là cưỡng lại bản năng thôi. Không thể nói là tự nhiên được” (tr.27). Bữa tiệc cùng với công ty chồng là một không gian đối thoại với cộng đồng được Han Kang mở ra để Yeong-hye bày tỏ sự khước từ quan hệ ấy.
Bước ngoặt lớn nhất của Yeong-hye, đứa trẻ “lớn lên với những trận đòn bằng báng súng của người bố đó cho đến năm mười tám tuổi” (tr.34), nay đã dám đối đầu với cha mình, người đã từng khiến tất cả thành viên trong gia đình chưa một lần bất tuân. Sự cương quyết trong ý niệm sống của cô không chỉ đơn thuần là sự đạp đổ thành trì nam trị từ người cha, người chồng, mà điều ấy còn là ngọn lửa đánh thức cho những thân phận cùng giới, không ai khác chính là chị gái Kim In-hye.
Kim In-hye, hơn em gái bốn tuổi, hiện cô đang quản lý tại một cửa hàng mỹ phẩm và có một gia đình nhỏ ở Seoul. Trong truyện, In-hye hiện lên hình ảnh một người phụ nữ cần mẫn, tròn vai: “Với tư cách là một người con, người chị hay người vợ, người mẹ, người kinh doanh cửa hàng, thậm chí đến cả một người khách đi trên tàu điện ngầm, cô cũng luôn hết mình làm tròn trách nhiệm” (tr.154). Đây là điểm khác biệt lớn nhất với em gái, vì vậy mà cô không rơi vào tầm ngắm của cha.
Điều In-hye nhận ra sau việc của em gái với chồng là khía cạnh “hôn nhân”. Cuộc sống hôn nhân với người chồng dường như không xuất phát từ tình yêu, mà đó là sự phụng sự. Từ đổ vỡ trong hôn nhân, cô tiếp tục nghĩ về gia đình như một không gian của sự tồn tại hơn là niềm hạnh phúc. In-hye nhận ra mình từng sống như một cỗ máy được lập trình. Chính sự gắn kết và dõi theo hành trình kháng cự của em gái đã giúp cô thấu suốt về mình: “Bây giờ cô mới hiểu. Cái sự chăm chỉ, cần mẫn của cô hồi đó không phải là sự chững chạc sớm mà chỉ là sự hèn nhát, chỉ là một phương thức để tồn tại.” (tr.175). Cô đã vướng vào cái bóng của người mẹ già đáng thương.
Ban đầu, việc đồi bại của chồng, với cô đó là sự đáng ghét, ghê tởm. Nhưng khi nhận kết quả chấn đoán “bình thường” về anh ấy, cô hoàn toàn không thể lý giải và thừa nhận bỏ cuộc khi không còn hiểu nổi người đã từng chung sống với mình. Khi trực diện vào đôi mắt của chồng, cô phát hiện “những ẩn chứa trong đó không phải là sự cuồng dại, cũng không phải dục vọng. Cũng không phải sự hối hận hay oán trách. Chỉ có nỗi sợ hãi giống như cô đang cảm nhận ngay tại khoảnh khác đó.” (tr.153). Với cô, “hình ảnh hai người trần truồng quấn lấy nhau như dây leo. Rõ ràng đấy là một đoạn phim gây sốc, nhưng thật lạ lùng thời gian trôi đi nó không còn được nhớ đến như một thứ gợi dục nữa. Cơ thể của họ phủ đầy hoa, lá, cành màu xanh, chúng lạ lẫm như không phải người vậy. Những động tác cơ thể của họ trông như đang vật lộn để thoát khỏi con người. Không hiểu anh làm đoạn phim đó với ý đồ gì. Mà anh đánh cược tất cả cuộc đời mình vào cái đoạn phim quái dị, tệ bạc đó, để rồi mất tất cả.” (tr.200). Vũ điệu thân xác ấy như là sự tuân mệnh của ý chí kháng cự. “Bức tranh loạn luân” ấy dường như đang dùng chính người nam để chống lại cộng đồng mình, khi mà anh ta vẫn bị xem là “thú vật” (tr.154). Việc In-hye tỉnh mộng ngay hiện thực đã cho thấy một cảm giác bị đồng loã bởi thế giới thực tại bị xã hội tính: “Nếu như anh và Yeong-hye không đạp bỏ ranh giới mà làm như thế, nếu như tất cả mọi thứ không sụp đổ như núi cát như thế, thì có khi người sụp đổ chính là cô chứ không phải ai khác. Nếu như thế, máu mà hôm nay Yeong-hye nôn ra có khi lại chính là máu vỡ ra từ lồng ngực cô cũng nên.” (tr.201). Hoá ra, kẻ đáng thương nhất, kẻ đầy rẫy những vết xước và không thể “được-chết” vì mình lại chính là In-hye.
Hai chị em Yeong-hye, đại diện cho thế hệ con gái, chịu nhiều tổn thương tinh thần và thể xác lớn lao, phải sống trong thế cuộc nhiều biến động. Sự đấu tranh đến cùng của Yeong-hye và sự thức tỉnh về hiện thực của In-hye vừa là một sự phơi bày bức tranh xã hội đô thị Hàn Quốc đã chiếm dụng những người phụ nữ này, vừa cho thấy được tinh thần quyết liệt làm mới của họ trước thời thế.
Thế hệ của người con trai: những nam nghệ sĩ – kiểu nam tính mềm (soft masculinity) hay là sự đồng loã quyền lực nam trị bằng mặt nạ nghệ thuật
Toàn bộ câu chuyện trong Vết chàm Mongolia đổ dồn về phía người anh rể của Yeong-hye, một nghệ sĩ làm thiết kế đồ hoạ. Anh là người chứng kiến sự việc Yeong-hye bị tấn công và đưa Yeong-hye đến bệnh viện trong tình trạng nguy kịch. Tưởng chừng, sự xuất hiện của anh trong gia đình sẽ chẳng liên quan gì đến Yeong-hye, nhưng chính anh đã mở ra tình huống mới, mở ra một cuộc truy vấn về cơ thể nam giới, quyền lực và tính dục.
Trong văn học, hội hoạ và điện ảnh Hàn Quốc, nhiều nghệ sĩ dưới cấu trúc nhìn nam giới (male gaze) sử dụng hình tượng người phụ nữ như biểu tượng của dục tính. Người phụ nữ trở thành “nàng thơ” của những cảm hứng sáng tạo. Người nghệ sĩ nam được tôn vinh tài năng nghệ thuật, còn phụ nữ sẽ trở thành thứ “ánh sáng” khai sáng bản thân họ. Thế nhưng, trên con đường sáng tạo nghệ thuật, anh ta lại rơi vào khủng hoảng nam tính ở giới nghệ sĩ. Từ điểm nhìn của người vợ, anh bị xem là kẻ tâm thần. Đây là một dạng khủng hoảng kép thường xuất hiện ở nhiều nam nghệ sĩ Hàn ngày nay, khi một mặt họ mong muốn thoát khỏi vai trò “nam tính bá quyền” (hegemonic masculinity), mặc khác, họ sợ bị xem là kẻ yếu đuối, bị nữ tính hoá. Điều này tạo ra một hình tượng “nam tính lai” (hybrid masculinity) - một dạng thức của “hậu nam quyền” (Post-patriarchal Masculinity): nhạy cảm, cô đơn, luôn sợ sệt mỗi khi nghĩ về mối quan hệ với phụ nữ; khi vừa muốn hiểu, vừa sợ đánh mất mình.
Không khác gì một người nữ luôn bị nhìn bởi nam giới, chồng của In-hye cũng đang trở thành kẻ bị nhìn, bị soi xét bởi chính cái nam tính bên trong anh và cả người đàn bà từng sống cạnh mình. Người đàn ông ấy chất đầy những nỗi sợ sệt, run rẩy, cảm giác nôn mửa mỗi khi nghĩ về hình ảnh loã lồ, nhục cảm… Một nỗi sợ kiểm duyệt chính anh. Có đến hơn 10 lần “nỗi sợ” chiếm lấy tâm trí người đàn ông, nó kéo dài từ lúc anh có ý tưởng thực hiện tác phẩm nghệ thuật đến khi vợ phát hiện. Anh như một kiểu phản người hùng (Anti Hero) với sự thất bại, đầy tự vấn và bị rạn nứt nội tâm khi thực hiện hành vi chinh phục. Han Kang đã cho thấy một sự lung lay bên trong lâu đài nam tính, một cấu trúc quyền lực “nam tính thống trị” (hegemonic masculinity) truyền thống bị thách thức, đổi chiều.
Anh ta cho thấy sự khủng hoảng nam tính từ góc độ đạo đức. Sự nhìn ngắm cái đẹp toả trên thân thể Yeong-hye và sự kháng cự muốn thả mình khỏi lan can – biểu tượng của ranh giới - đã tạo ra một khoảnh khắc bùng nổ của một cá thể muốn trốn chạy khỏi không gian mệnh lệnh. Anh “như bị đóng vào chỗ đó, như để chứng kiến khoảnh khắc đầu tiên mà cũng là cuối cùng của đời mình, nhìn như hút hồn vào cơ thể lấp lánh của cô, hệt như những bông hoa đang vươn lên phấp phới” (tr.133), để rồi chính anh cũng không thể thoát khỏi sự thật rằng, mình là kẻ tội đồ của đạo đức. Suốt quãng thời gian về sau, anh mất tích và người ta chỉ biết về anh với một kẻ “không bằng cả thú vật” (tr.154). Chắc chắn, anh không thể thoát khỏi phản ứng của công chúng nữ khi nam nghệ sĩ vẫn dùng tài năng của mình để tái định nghĩa và nguỵ tạo lớp vỏ trá hình nhằm thực hiện hoá các hành vi xâm hại nữ giới bằng cái nhìn chiếm đoạt thân thể phụ nữ như một sản phẩm.
So với bố vợ, em vợ và chồng Yeong-hye, thì anh hoàn toàn là một kiểu nam tính mềm (soft masculinity). Dù chưa tìm được bản sắc mới, nhưng suy nghĩ của anh đã có sự lệch chuẩn với quy ước của “nam tính truyền thống”. Duy chỉ anh là người thấy việc ăn chay của em vợ là hoàn toàn bình thường. Với anh, cú “tát vào má cô con gái đang cố chống cự, rồi cưỡng ép tống miếng thịt vào mồm là điều không thể tin được, hệt như một màn kịch phi lý.” (tr.73). Không chỉ cô em vợ, mà có lẽ chính anh cũng tự nhận thấy mình là kẻ lạc loài, bơ vơ và đang đối diện trước sự phán xét cay nghiệt của xã hội.
Cả nữ giới hay nam giới đều có những khủng hoảng cá nhân, do cách họ lựa chọn thái độ sống. Tầm vóc của Han Kang khi viết Người ăn chay, có lẽ không chỉ nằm ở việc bà phản ánh được một thế giới đúng bản chất, một thái độ đứng về phe nữ giới đầy tôn trọng, mà đó còn là sự nhìn thấu để thấm sâu giải mã về bản chất của con người, trong đó có cả nam giới - một số phận cũng đang bị cắm trên mình những phế tích của thời đại khó lòng gột rửa. Những khuôn mặt của nhiều thế hệ hiện lên trong tác phẩm Người ăn chay đã góp vào tiếng nói chung của bức tranh “khủng hoảng thế hệ” đang diễn ra ở Hàn Quốc.
Đ.L.M.T
_________________
1 Chúng tôi khảo sát gia đình mở rộng (Extended Family): thế hệ thứ nhất là ông/bà, thế hệ thứ hai là cha/mẹ, và thế hệ thứ ba là con cái.
