Giới thiệu
Tin tức
Sự kiện & Đối thoại
Sáng Tác
Nghệ thuật
Lý luận & Phê bìnhNgười & Đất quê hương
MultiMedia
Zalo

Khi văn học biết cười

HOÀNG ĐĂNG KHOA    30/01/2026    11
Con người là sinh vật duy nhất biết cười - triết gia người Hy Lạp cổ đại Aristotle đã để lại một định nghĩa vừa giản dị vừa sâu xa về bản chất người. Tiếng cười không chỉ là một phản ứng sinh lí, mà còn là một khả năng văn hóa, một năng lực tinh thần. Nó gắn với sự ý thức, với tự do, với khả năng tự vượt lên chính mình. Nếu trong đời sống hàng ngày, tiếng cười giúp con người giải tỏa, thì trong văn học, tiếng cười trở thành một nguyên lí thẩm mĩ, một thái độ nhân sinh. Bởi vậy, khi văn học biết cười, đó cũng là lúc văn học chạm đến phần sâu thẳm nhất của nhân tính.

Con người là sinh vật duy nhất biết cười - triết gia người Hy Lạp cổ đại Aristotle đã để lại một định nghĩa vừa giản dị vừa sâu xa về bản chất người. Tiếng cười không chỉ là một phản ứng sinh lí, mà còn là một khả năng văn hóa, một năng lực tinh thần. Nó gắn với sự ý thức, với tự do, với khả năng tự vượt lên chính mình. Nếu trong đời sống hàng ngày, tiếng cười giúp con người giải tỏa, thì trong văn học, tiếng cười trở thành một nguyên lí thẩm mĩ, một thái độ nhân sinh. Bởi vậy, khi văn học biết cười, đó cũng là lúc văn học chạm đến phần sâu thẳm nhất của nhân tính.

Nhà kí hiệu học người Nga Juri Mikhailovich Lotman từng xác quyết, nghệ thuật không phải là trò chơi, nhưng trong ứng xử của tác giả và người tiếp nhận - bằng những cách khác nhau - đều cần đến yếu tố trò chơi. Theo đó, có thể thấy, tiếng cười chính là biểu hiện sinh động của tính “chơi” ấy. Nhờ nó, văn học thoát ra khỏi tính nghiêm túc giáo điều, tìm đến sự mở rộng đa thanh, và tạo nên một quan hệ thân mật tự do giữa nhà văn và bạn đọc.

Ngay từ giai đoạn đầu tiên của lịch sử tiểu thuyết mà nhà tiểu thuyết, nhà tiểu luận người Pháp gốc Séc Milan Kundera gọi là “thì thứ nhất”, khi tiếng nói của người kể chuyện còn hiện diện trực tiếp, chưa bị che khuất sau bức màn khách quan của chữ in, thì tiếng cười đã có mặt như một nguyên tắc. Nhà văn người Pháp thời Phục hưng François Rabelais mở đầu Gargantua bằng hô ngữ đầy ngông nghênh: “Hỡi các vị nghiện ngập rất đỗi lừng danh, các vị mang bệnh giang mai rất chi kiểu cách…”. Mở đầu như vậy là dấu hiệu của một “giao ước thẩm mĩ”, theo cách Kundera nói: nhà tiểu thuyết và người đọc đồng thuận bước vào một thế giới, nơi mỗi câu thấm đẫm cái tinh thần, cái chất hài hước [xem thêm 1, tr.130]. Điều ấy gợi nhắc rằng: nếu chỉ biết buồn, biết nghiêm nghị, văn học sẽ đánh mất một nửa bản chất người - nửa biết cười.

Xã hội nghiêm chỉnh khinh bỉ cái cười. Các nhà dân tộc học cũng không mấy khi chú ý nghiên cứu cái cười… [xem thêm 2, tr.268]. Trong lịch sử văn học, cái nghiêm trang từng được xem là phẩm chất mặc định: văn chương phải gắn với cái cao cả, cái bi hùng, cái thiêng liêng, gắn với chức năng “tải đạo”. Nhưng nhà triết học, lí thuyết gia văn học người Nga Mikhail Mikhailovich Bakhtin đã chỉ ra một dòng chảy đối nghịch: truyền thống carnival. Ở đó, trong những hội “ngu”, hội “lừa”, lễ “phục sinh tếu”, con người được phép chế nhạo thần thánh, nhạo báng quyền lực, lật ngược trật tự chính thống. Tiếng cười carnival không chỉ để giải trí, mà để hạ bệ cái đã hoàn tất, mở ra khả thể tái sinh. Nó giống như một sự dân chủ hóa trong văn hóa, cho phép mọi tiếng nói được tồn tại. Bakhtin khẳng định: Chỉ những nền văn hóa giáo điều và độc tài mới nghiêm túc một chiều. Bạo lực không biết tới tiếng cười. Mọi sự vĩ đại phải bao gồm cả yếu tố cười. Ngược lại, nó sẽ thành thứ hăm dọa, đáng sợ, hoặc dung tục; bất luận thế nào, nó chỉ là thứ hạn hẹp. Theo Bakhtin, Rabelais nhại giễu tới ngành ngọn tất cả những dạng thức đạo lí, thần học. Hạ bệ không chỉ để chôn vùi cái cũ mà còn để gieo hạt cái mới, tức là kéo tất cả về đất, là giao lưu với đất, đất ở đây được hiểu như nguyên tắc thẩm thấu thu hút để thụ mầm nảy sinh, tái tạo [xem thêm 3, tr.276-277]. Bakhtin coi Rabelais là nhà văn dân chủ nhất trong những nhà văn đầu đàn của thế hệ văn chương mới. Muốn tìm hiểu tác phẩm của Rabelais, trước hết phải nắm được chìa khóa mở cửa vào nền văn hóa dân gian thời Trung cổ và Phục hưng ở Âu châu, mà cái cười là yếu tố chủ chốt.

Khi được hỏi bản thân yêu thích gì nhất trong văn học Pháp, tiểu thuyết gia người Anh gốc Ấn Độ Sir Ahmed Salman Rushdie (giải Booker 1981) đã trả lời: “Rabelais và Bouvard và Pécuchet”. Kundera tường giải: Sở dĩ là Bouvard và Pécuchet bởi vì đấy là một Gustave Flaubert (nhà tiểu thuyết người Pháp) khác với Flaubert của Giáo dục tình cảm hay Bà Bovary, bởi vì đấy là Flaubert của sự không nghiêm túc. Và tại sao lại là Rabelais? Bởi ông là người mở đường, người sáng lập, thiên tài của sự không nghiêm túc trong nghệ thuật tiểu thuyết. Bằng hai quy chiếu ấy, Rushdie đã đề cao chính nguyên lí của cái không nghiêm túc vốn đích thị là một trong những khả năng của nghệ thuật tiểu thuyết đã bị lơ là trong toàn bộ lịch sử của nó [xem thêm 4, tr.89].

Có nghĩa, tiếng cười không chỉ là phụ gia, mà còn là một nguyên lí thẩm mĩ mở ra một hình thái tiểu thuyết khác, chống lại sự độc tôn của cái nghiêm nghị. Đây chính là mạch nguồn cho tiểu thuyết hiện đại, nơi sự chơi giỡn trào lộng đi cùng sự nghiêm trọng.

Nếu chỉ nhìn tiếng cười như một cách hạ bệ, phê phán, ta mới thấy một nửa chức năng của nó. Tiếng cười còn là sự giải phóng tinh thần, để con người không bị vong thân, tha hóa. Theo Kundera, tiểu thuyết gia người Pháp Anatole France (giải Nobel văn chương 1921) không viết Các hung thần lên cơn khát để tố cáo cách mạng, mà để khảo xét bí ẩn của các diễn viên của nó, và cùng với họ những bí ẩn khác: bí ẩn của cái hài hước đã chen vào trong những điều khủng khiếp, bí ẩn của nỗi sầu não theo sau các bi kịch, bí ẩn của con tim vui mừng ngay cả khi những cái đầu rơi xuống, bí ẩn của cái hài hước như là nơi trú ẩn cuối cùng của chất người [xem thêm 5, tr.73].

Nhà viết kịch người Anh Harold Pinter (giải Nobel văn chương 2005) thường chủ ý hài hước hoá những tình huống khó khăn; khán giả xem kịch của ông rất hay phá ra cười ngược với những tình huống kịch [xem thêm 6, tr.317]. Nhiều nhà văn lớn của thế kỉ XX và XXI cũng đã trực tiếp khẳng định sức mạnh của tiếng cười. Tiểu thuyết gia người Mĩ Toni Morrison (giải Nobel văn chương 1993) tỏ ra “kinh ngạc” vì kiểu châm biếm và hài hước vui nhộn của nhà tiểu thuyết người Ireland James Joyce; bà “cười suốt” khi đọc Finnegans Wake dù không hiểu hết tổng thể. Tiểu thuyết gia, nhà phê bình người Mĩ John Updike (giải Pulitzer 1982 và 1991) luôn coi trọng những cuốn sách gây cười, chẳng hạn các tác phẩm của nhà viết kịch người Ireland George Bernard Shaw (giải Nobel văn chương 1925); và đặc biệt mê đến bái phục văn của nhà văn người Mĩ James Thurber vì sự tinh tế trào giễu, luôn đặt yếu tố gây cười độc giả lên hàng đầu. Nhà văn người Nhật Bản Haruki Murakami thích đọc hai nhà văn hậu hiện đại người Mĩ Kurt Vonnegut và Richard Brautigan, vì họ có khiếu gây cười, trong khi những gì họ viết lại rất nghiêm trọng; hồi sinh viên lần đầu tiên đọc họ, ông đã sốc vì thấy trên đời có những cuốn sách như thế, cảm giác cứ như bản thân khám phá ra thế giới mới; về sau, đến lượt, ông lại thích độc giả thỉnh thoảng cười ồ lên trên tàu điện khi đọc tiểu thuyết của mình. Nhà biên kịch người Mĩ Arthur Miller cũng từng nói, đến lúc phải đọc lại nhà văn người Séc Karel Čapek rồi, vì tiếng cười vô ưu mà nhà văn này gây ra.

Tất cả cho thấy, văn học biết cười có thể khiến con người nhẹ nhõm, tìm được sự bình thản, chống lại bệnh của sự nghiêm túc. Tiếng cười luôn đến từ sự cân bằng nội tâm - nó vừa giải phóng cá nhân, vừa mở ra khả năng cộng thông với tha nhân.

Tác phẩm cuối cùng của nhà văn người Mĩ Philip Milton Roth (giải Pulitzer 1998 và Man Booker International 2011) là Everyman (2006), và trước đó là The Plot against America (2004), The Dying Animal (2001)… đều tăm tối và u buồn, biến mất hoàn toàn tính hài hước. Nhà văn từng chia sẻ, phải chăng ông đã với tới tri thức mới về tuổi già, bệnh tật và cái chết mà trước đó bản thân chưa hề có. Rõ ràng, tiếng cười luôn gắn với sức sống, với sự bình ổn tinh thần. Không phải ngẫu nhiên mà Murakami cho rằng, khi hài hước thì con người ta ổn định, còn khi nghiêm trọng thì họ mất sự ổn định.

Tiếng cười, theo Bakhtin, “xé toang rào cản, mở đường tự do”. Nó là biểu hiện cao nhất của tinh thần dân chủ. Cánh cửa của tiếng cười luôn mở rộng với mọi người và từng người. Sự uất ức, giận dữ, phẫn nộ mang tính loại trừ, gợi dậy sự đáp trả, gây chia rẽ, trong khi tiếng cười chỉ hướng đến hợp nhất, đoàn kết.

Các lễ hội dân gian Trung cổ châu Âu, như đã nói, cho thấy rõ điều đó: trong một vài ngày, toàn bộ trật tự chính thống bị lật ngược, mọi người cùng cười, cùng chơi, cùng sống một đời sống khác. Đó là một thế giới ngoại vi, nhưng đầy sức mạnh.

Nhà văn Salman Rushdie từng giãi bộc: Khi viết xong Những vần thơ của quỷ Satan, giáo chủ Khomeini kết án tử hình (fatwa) ông. Theo ông, tôn giáo, truyền thống, dân tộc, gia đình… là những câu chuyện đang cùng sống với chúng ta, sống trong lòng chúng ta. Tất cả những câu chuyện hệ trọng như vậy là những thực thể, mà trong một xã hội mở, trong một nền văn hóa sinh động, thường xuyên cần xem xét lại. Con người liên tục phát triển. Và muốn phát triển, phải không ngừng đối thoại. “Những người kết án tôi đơn giản là họ không có óc hài hước. Khiếu hài hước hay óc trào lộng là khả năng giúp chúng ta coi nhẹ mọi việc. Nếu chúng ta quá coi trọng bản thân, thì ta sẽ không mấy khi cười. Người tự coi mình quá nghiêm chỉnh sẽ chẳng bao giờ cười” [7, tr.325].

Ở văn học Việt Nam, tiếng cười từng nở rộ qua văn học dân gian với các thể loại như truyện cười, truyện trạng, ca dao trào phúng, ca dao vui, tuồng, chèo…; qua văn học viết với thơ Tú Xương, Nguyễn Khuyến, Tú Mỡ, thơ Bút Tre…, với văn xuôi Vũ Trọng Phụng, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà… Tuy nhiên, nhìn tổng thể, văn học Việt Nam vẫn ít tiếng cười.

Người Việt vốn rất biết cười. Trong đời sống dân gian xưa, tiếng cười (bao gồm tự trào) là chất men giúp con người vượt qua khốn khó, giữ được sự lạc quan. Ngày hôm nay, ở các quán trà đá, quán cà phê, quán bia, trên các nền tảng mạng xã hội, trên một số chương trình phát thanh, truyền hình…, ta vẫn thấy sự hài hước, hóm hỉnh, khả năng biến mọi nghịch lí nghịch cảnh thành trò đùa như một sức mạnh cộng đồng. Trong khi đời sống xã hội luôn rộn rã tiếng cười như thế, thì đời sống văn học đương đại ở ta lại vẫn không nhiều tiếng cười.

Điều này không phải ngẫu nhiên. Một phần bắt nguồn từ quán tính lâu dài của văn hóa Nho giáo thời trung đại, vốn coi văn chương là phương tiện nghiêm huấn; những yếu tố “mua vui” thường bị xem là thứ yếu, thậm chí thấp kém. Một phần khác lại bắt nguồn từ ảnh hưởng sâu đậm văn học hiện thực phê phán và hiện thực xã hội chủ nghĩa từ phương Tây ở thế kỉ XX; cả hai khuynh hướng này đều đề cao chức năng nhận thức và giáo dục, đề cao mĩ học của cái nghiêm, xem nhẹ chức năng giải trí, xem nhẹ mĩ học của cái hài. Hệ quả là, văn học nặng tính quan phương chính thống, thiếu sinh sắc, thiếu khả năng tái tạo đời sống trong tính toàn vẹn biện chứng.

Khi có lần nhà văn Nguyễn Xuân Khánh hỏi bạn là nhà văn Châu Diên (Phạm Toàn), một người rất ghét giọng văn nghiêm túc đạo mạo, rằng văn mình có nghiêm túc quá không thì nhận được câu trả lời nghiêm túc trong tình đồng nghiệp bạn bè: văn Nguyễn Xuân Khánh cũng hơi nghiêm túc, nhưng được cái có chất “tình tang” nên cũng bớt đi cái sự nghiêm trang. Và Châu Diên nói thêm, đời phải vui vẻ, tội gì mà cứ mặc complet quanh năm suốt tháng.

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, trong truyện ngắn Những bài học nông thôn, đã để cho nhân vật của mình phát biểu: “Tôi thấy buồn vì văn học của ta ít giá trị thật. Nó thiếu tín ngưỡng và thẩm mĩ thực”. Có vẻ như “những bài học nông thôn” vô cùng hữu ích mà văn học của ta ít khi chịu “học”, đó là văn hoá trào tiếu dân gian và ngôn ngữ sinh hoạt của thôn dân.

Theo Bakhtin, trong lời nói suồng sã, nhờ sự dỡ bỏ mọi cấm kị và quy tắc ngôn từ nên có được sự tiếp cận hiện thực đặc biệt, phi quan phương, rất tự do. Carnival thù địch với mọi sự hoàn tất, cố định, trang nghiêm. Carnival hóa ngôn ngữ cũng là một bằng chứng để khẳng định: ngôn ngữ văn chương, đặc biệt là văn xuôi, có thể chấp nhận mọi ngôn ngữ.

Tiếng cười đích thực là sự khai phóng. Văn học biết cười phải đạt tầm vóc nghệ thuật. Nhà văn, triết gia hiện sinh người Pháp gốc Algeria Albert Camus (giải Nobel văn chương 1957) phát biểu, một tác phẩm vĩ đại không bao giờ dựa trên sự căm thù hay khinh bỉ. Còn nhà văn người Anh Sir Vidiadhar Surajprasad Naipaul (giải Nobel văn chương 2001) nói, ông không muốn bôi nhọ con người vì điều đó thật vô nghĩa, ông cũng không bao giờ muốn hạ nhục ai vì đó không phải là văn chương.

Cười không chỉ là bản năng, mà còn là biểu hiện của cốt cách tinh thần, của bản lĩnh văn hóa. Người ta không chỉ cần “học ăn học nói học gói học mở”, mà còn cần học cười. Nhà văn Murakami nói: “Để khôi hài được anh phải rất bình thản. Khi anh nghiêm trọng, anh mất sự ổn định; đó là bệnh của sự nghiêm túc. Khi hài hước, anh ổn định” [8, tr.243].

Nhà văn Tạ Duy Anh phân biệt rất rõ: cười để xả stress thì chỉ cần văng tục, nhưng cười để cái xấu tự nhảy múa rồi tự biến mất thì phải có tài năng lớn. Tiểu thuyết gia người Tây Ban Nha Miguel de Cervantes, nhà văn người Nga Nikolai Gogol, nhà văn người Trung Quốc Lỗ Tấn, nhà văn Rabelais, nhà văn người Pháp Voltaire, nhà văn Vũ Trọng Phụng, nhà viết kịch người Pháp Molière, nhà văn Nam Cao, nhà văn người Thổ Nhĩ Kỳ Aziz Nesin, nhà thơ Tú Xương… là những văn tài: biết biến tiếng cười thành một giá trị thẩm mĩ, chứ không phải thói quen sinh hoạt.

Triết gia người Đức Karl Marx từng nói, chỉ có tiếng cười mới đủ sức “tống tiễn quá khứ một cách vui vẻ”. Rõ ràng, tiếng cười không chỉ giải trí, mà còn là sức mạnh lịch sử, một hình thức dân chủ hóa văn hóa và văn học.

Một lược khảo như trên, thấy tiếng cười không phải là yếu tố phụ mà là nguyên lí cốt lõi của văn học. Nó giúp văn học tự giải phóng chính mình, giữ lại chất đời sống, chống lại sự nghiêm trang giáo điều, đồng thời mở ra những khả thể mới của tự do và nhân bản.

Nếu chỉ nghiêm túc, văn học sẽ khép kín, hẹp hòi, thậm chí hăm dọa. Nếu biết cười, văn học trở nên rộng mở, hòa nhập với đời sống, giữ được tinh thần nhân loại. Tiếng cười đích thực trong văn chương phải là tiếng cười chân thành và nhân hậu, tiếng cười giúp người gần người hơn.

Khi viết tác phẩm biết cười, nhưng thiếu chân thành và nhân hậu, thì nhà văn có thể đạt đến trình độ tài năng, song le khó có thể đạt đến tầm vóc lớn.

H.Đ.K

 

 

______________

1. Milan Kundera (2013), Một cuộc gặp gỡ, Nguyên Ngọc dịch, NXB Văn học, Hà Nội.

2. Thuỵ Khuê (2018), Phê bình văn học thế kỉ XX, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội.

3. Thuỵ Khuê (2018), Phê bình văn học thế kỉ XX, sđd.

4. Milan Kundera (2013), Một cuộc gặp gỡ, sđd.

5. Milan Kundera (2013), Một cuộc gặp gỡ, sđd.

6. Nhiều tác giả (2018), Không thể sống mà không thể viết, Phan Triều Hải tuyển chọn và dịch, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội. 

7. Lévai Balázs (2010), Thế giới là một cuốn sách mở, NXB Văn học, Hà Nội.

8. Lévai Balázs (2010), Thế giới là một cuốn sách mở, sđd.