Năm 2025, tròn 100 năm sinh Nhà thơ Xuân Hoàng, hơn 20 năm ông rời cõi tạm. Nhà thơ Xuân Hoàng dành trọn cuộc đời cho thơ. Dù hoạt động trong nhiều bối cảnh lịch sử xã hội, tác phẩm đề cập đến các nội dung đề tài khác nhau, nhưng quan điểm sáng tác và phong cách sáng tạo của ông trước sau như một. Điều đó không phải bảo thủ mà là sự định hình lối đi của một tác giả giàu nội lực. Lối đi ấy kéo dài mãi theo thời gian nhưng đương đại trong mọi thời đại. Tác phẩm của nhà thơ Xuân Hoàng chưa bao giờ cũ, tình cảm văn nghệ sĩ và độc giả khắp nơi dành cho ông mãi mãi không phai. Bài thơ “Đồng Hới” ra đời đã gần 60 năm nhưng người Đồng Hới không quên những dòng thơ đẹp: “Em đi phố nhỏ động cành dừa/ Cửa biển về khuya phố đêm ngả lạnh/ Phố nhỏ tan rồi qua bao trận đánh/ Chúng ta về ấm lại dải đường xưa...”.
Nhà thơ Xuân Hoàng tài hoa, lãng mạn trong cốt cách hồn nhiên, nhân hậu. Ông yêu đời, yêu người, yêu thơ không đắn đo. Với ông, thơ là tấm gương soi rõ cuộc đời: “Đời chưa vui. Tôi đâu muốn thơ buồn/ Nhưng thơ cứ soi cuộc đời đến rõ/ Cũng như mắt em buồn, luôn bỡ ngỡ/ Soi vào tôi, thơ bỗng hoá ngọn buồm”. Thơ không có giới hạn. Thơ như cánh buồm lộng gió lướt trôi trên mặt biển rộng. Thơ vĩnh hằng:“Thôi, cũng được! Cứ cho đời đóng mốc! Tháng năm trôi trong Hữu-hạn-con-người/ Duy chỉ có thơ tình là siêu thực/ Mở ra bờ Vô Tận của sinh sôi”. Nhà thơ Xuân Hoàng lãng mạn, bay bổng nhưng không xa rời cuộc sống. Ông luôn đặt bản thân vào thực tế để viết những câu thơ ăm ắp tình đời. Bằng thơ, ông vừa gửi gắm thông điệp tư tưởng lại vừa khéo léo thể hiện thái độ quan điểm cá nhân: “Tôi phản đối đâu, người viết thơ tình/ Tôi chỉ muốn cửa tình yêu được mở/ Cuộc đời rộng và giàu. Sao chỉ bó/ Vào không gian chật chội của tâm hồn?/ Thưa các nhà thơ thích vuốt ve mình/ Con đường đó, tôi đã qua! Và đã ngán!/ Ngọn lửa lớn chỉ dành nhiều ánh sáng/ Cho những ai biết cống hiến cho đời/ Ngọn lửa ấy sẽ trở thành suối nắng/ Cho những người biết sống mà thôi!”. Nhà thơ Xuân Hoàng sống một đời tận hiến với quê hương, với thơ bằng trái tim yêu thương trong sáng.
Sự nghiệp sáng tác của Nhà thơ Xuân Hoàng gắn liền với lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Trong kháng chiến chống Thực dân Pháp, ông có nhiều tác phẩm tái hiện chân thực hình ảnh quê hương, đời sống lao động sản xuất và chiến đấu của nhân dân, như “Người liên lạc miền bể”, “Trạm đồng bằng”, “Qua Bố Trạch”, “Tiếng hát sông Gianh”…: “Ai đi qua Quảng Bình/ Hẳn từng quen huyện Bố/ Huyện khắc khổ: Dân nghèo, đất đỏ/ Dưới chân Ba Rền/ Thăm thẳm một màu xanh/ Chợ Bố Trạch sắn nhiều gạo ít/ Nâu Ba Rền củ tốt hơn khoai/ Sông Dinh nước cạn bãi bồi/ Đồng khô đồng cạn, mùa vơi mùa cằn” (Qua Bố Trạch). Đó là hình ảnh của huyện Bố Trạch năm 1950. Đất nghèo nhưng lòng người yêu nước, hiền lành mà quyết liệt, lặng lẽ mà sục sôi. “Giặc chiếm đóng!/ Cười gằn thách thức!/ Người dân nghèo Bố Trạch đứng lên: Củ khoai, luống đất đang hiền/ Bỗng trỗi dậy, Ba Rền hoen ráng đỏ”. Trường ca “Tiếng hát sông Gianh” ghi lại cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân đôi bờ dòng sông lịch sử: “Bên kia sông hàng tre chờ lặng lẽ/ Nắng ngập bờ không một bóng dân quân/ Làng hiền từ... mà bí mật lạnh lùng...”, “Từng loạt một, súng bắt đầu lên tiếng/ Đò chồng chềnh, tên lái ngã quay lơ/ Đạn trên đồi vãi xuống như mưa/ Đò cứ đắm lính trên đò cứ chết...”.
Trong kháng chiến chống Đế quốc Mỹ xâm lược, nhà thơ Xuân Hoàng có các tập thơ: Miền Trung (1967), Hương đất biển (1971), Biển và bờ (1976), Dải đất vùng trời (1976) phản ánh khí phách can trường trong chiến đấu của quân dân Quảng Bình. Qua một số tác phẩm, như: Những tổ đại bàng, Ngã ba Lùm Bùm, Phu-la-nhích, Cây sấu Trường Sơn, Trung thu trong hầm nghe tiếng bom, Bài thơ viết dưới tầm B.52, Gửi Đồng Hới, Bài thơ Đồng Hới, Biển và bờ, Cô gái sông Lũy, Đi học, Giữ vững ngọn buồm, Mẹ Suốt, mùa xuân và bó hoa của Bác…, những tên đất, tên làng: đường 12A, Khe Ve, La Trọng, Bãi Dinh, đèo Mụ Giạ, Phu-la-nhích, Lùm Bùm..., những con người anh dũng trong cuộc chiến đấu bảo vệ quê hương: Quách Xuân Kỳ, mẹ Suốt, chị Khíu, chị Lý... được nhà thơ tinh tế đưa vào tác phẩm với niềm tự hào, cũng là lời cổ vũ động viên mạnh mẽ gửi đến nhân dân. Nhà thơ Xuân Hoàng làm thơ như “viết báo”. Những bài thơ “thời sự” nhưng không khô khan, cứng nhắc, rập khuôn: “B.52 bay ngang qua tiếng học bài/ Trút bom vào thị xã/ Thị xã sơ tán rồi, về các ngả/ Mặt đất vẫn xanh và rất rộng bầu trời/ Ngày mai đây, khi bom đạn im rồi/ Thị xã nhỏ trở về sum họp/ Các em sẽ quên đi những điều không vui vừa phải học/ Lại reo đùa trên bãi cũ B.52”
Từ sau năm 1975, Nhà thơ Xuân Hoàng nhanh chóng chuyển nhịp sáng tác để phù hợp với những đổi thay của đất nước. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, nhà thơ cũng mở toang tâm hồn mình để cuộc sống ùa vào thơ. Tác phẩm của ông luôn luôn gắn liền với thực tế sinh động. Ông sáng tác mà không sáng tác, chỉ là ông đang ngân hiện thực thành thơ. Các tập viết sau 1975: Về một mùa gió thổi (1983), Quãng cách lặng im (1984), Thời gian và quãng cách (1990), Thơ tình Xuân Hoàng (1991), Thơ tình gửi Huế (1995), Nỗi niềm trao gửi (1997), Gửi quê hương (1997) vẫn nguyên chất “Xuân Hoàng”, hồn hậu và tinh tế, giản dị mà giàu xúc cảm. Nội dung đề tài, mạch nguồn cảm hứng sáng tác được mở rộng biên độ. Phóng khoáng, đa dạng và linh hoạt. Nhà thơ viết nhiều tác phẩm mang nội dung thế sự, nhưng không dằn vặt, nặng nề. Ông chiêm ngắm cuộc đời bằng nhãn quan của người có trí tuệ tỉnh táo và trái tim giàu yêu thương: “Tự tìm mình, tôi dần nhận ra tôi/ Người mệt mỏi trước cuộc đời bụi bặm/ Từng khao khát và cũng từng xung trận/ Đủ vinh quang, thất bại, đắng cay rồi/ Cái cuối cùng còn lại ở tôi đây/ Một yên tĩnh bầu trời, tôi tự kiếm/ Một chỗ ẩn trong tháng ngày ô nhiễm/ Một vườn đời có quả chín trên cây”.
Nếu trong kháng chiến chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ, trong nhiều tác phẩm nhà thơ Xuân Hoàng có sự đan cài khéo léo tình yêu quê hương đất nước với tình yêu đôi lứa, thì bước sang giai đoạn này, ông tách hẳn thơ tình thành một dòng riêng. Rất bất ngờ, sự ra riêng ấy không hề khiên cưỡng mà mở ra không gian mới để trái tim nhà thơ thoả sức cất tiếng. Năm 1990, tôi đang học Khoa Văn Đại học Tổng hợp Huế. Năm ấy, nhà thơ Xuân Hoàng ra mắt tập thơ “Thời gian và quãng cách”. Rất nhanh chóng, tập thơ trở thành sách gối đầu giường của lũ sinh viên mới chập chững bước vào đường văn. Những dòng thơ đẹp dịu dàng mà đắm đuối của nhà thơ tuổi 70 mang lại cho tuổi trẻ chúng tôi rất nhiều cảm xúc: “Đó là khi làn tóc chảy như nhung/ Rót hương lạ vào tâm hồn bỏ ngõ/ Những sao trời xuống gần bên cửa sổ/ Cũng thì thầm toàn những chuyện yêu đương…”. Từ cảm thức sáng tác “chúng ta” nhà thơ quay vào “tôi” vẫn không bị lạc lõng, xa rời cuộc sống, ngược lại đắm đuối hơn, ám ảnh hơn, đời hơn: “Hương cũ đi xa, giờ về gặp mặt/ Tóc chúng ta đã bạc trước cây đời/ Sao hương cũ vẫn mãi thơm ngào ngạt/ Không chịu già theo năm tháng phai phôi?
Quê hương mong manh bên bờ sóng mà can trường và kiêu hãnh, bình dị mà lộng lẫy, là đề tài xuyên suốt trong đời thơ Xuân Hoàng. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, thời kỳ nào, ông cũng say sưa vô điều kiện viết về quê hương. Có thể nói, nếu đem kết hợp tất cả các bài thơ về Quảng Bình của ông vào file chung, chúng ta sẽ có một trường ca Quảng Bình đẹp tuyệt đối trên mọi phương diện. Quê hương ở sẵn trong tim và tự nhiên đi vào tác phẩm. Bình dị mà thiết tha yêu: Ở với đất này tưởng đã quá quen/ Không biết đấy chính là nơi lắm gió/ Phải qua một thời gian dài cách trở/ Khi trở về mới thấy rõ quê thêm/ Ồ, thì ra nhiều gió quá nơi đây/ Hè cũng gió mà đông về cũng gió!/ Gió bấc, gió nồm đều bung hết cỡ/ Việc đó thông thường, tôi chẳng hề hay!/ Đến buổi chuyển mùa dữ dội hôm nay/ Đêm khó ngủ, tôi bàng hoàng nhận rõ/ Đất quê mẹ chính là nơi lắm gió/ Chính là nơi cây cỏ dễ cuồng say.”
Nhà thơ Xuân Hoàng đã cống hiến trọn cuộc đời cho thơ. Nhiều văn nghệ sĩ và người yêu thơ nhớ nụ cười ông sảng khoái cởi mở, nhớ thơ ông trí tuệ nhân văn. Còn ông thì chỉ nhận mình chỉ là một cánh gió “Lòng tôi thành cánh gió lung linh”. Cánh gió ấy thổi mãi trên trời quê, trời thơ bát ngát.
T.T.H
