Đường quan lộ của ông hanh thông khi làm Chủ tịch Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam (2010 - 2021), Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam (2005 - 2020). Người ta hay vui miệng nói về những “kỷ lục” của nhà thơ Hữu Thỉnh, trong đó có kỷ lục giữ chức Chủ tịch Hội nghề nghiệp những bốn nhiệm kỳ, trong khi quy chế chỉ được hai. Nhưng nếu ai còn nhớ thì, ở Đại hội 10 (Nhiệm kỳ 2020 - 2025) nhà thơ Hữu Thỉnh vẫn được bầu vào BCH và đạt số phiếu cao. Tuy nhiên ông xin rút, người người đều khen hợp lý và hợp tình. Ông vẫn thường tự hào nói mình đã góp công sức nhiều vào kế hoạch xây dựng Bảo tàng Văn học, theo phương châm “đến hiện đại từ truyền thống”, nay đi vào hoạt động có hiệu quả với ý nghĩa là một địa chỉ văn hóa theo tinh thần “ôn cố tri tân”. Hơn 1.200 hội viên Hội Nhà văn Việt Nam đến nay vẫn thừa nhận Hữu Thỉnh là người giữ kỷ lục viết điếu văn mỗi khi có đồng nghiệp chữ nghĩa đi xa. Có người nói vui, nếu tập hợp in thành sách thì cũng thành một cẩm nang, có thể nhiều người cần đến. Nhắc vài sự kiện như thế để thấy nhà thơ Hữu Thỉnh là người tình, lý phân minh, nói đi đôi với làm, trên dưới, trong ngoài, già trẻ đều cân đối hài hòa. Bây giờ nhiều văn nhân vẫn nhắc nhở về “tinh thần Hữu Thỉnh”, “phong cách Hữu Thỉnh” mỗi khi có công việc liên quan đến Hội Nhà văn Việt Nam.
Ngoại trừ trong vai “quan” không to mà cũng không nhỏ, thì nhà thơ Hữu Thỉnh từ trong máu huyết là một nghệ sĩ ngôn từ đích thực, là ví dụ sinh động về quy luật sáng tạo “quý hồ tinh bất quý hồ đa”. Tác phẩm của Hữu Thỉnh đã xuất bản, tính về số lượng không nhiều nếu so với những lực sĩ chữ nghĩa như Ma Văn Kháng, Chu Lai, Võ Thị Xuân Hà, Y Ban, Bùi Anh Tấn,... Một số tác phẩm của thi sĩ đã trở thành lưu dấu văn hóa: Âm vang chiến hào (thơ, in chung, 1976), Đường tới thành phố (trường ca, 1979), Từ chiến hào tới thành phố (thơ ngắn & trường ca, 1985), Khi bé Hoa ra đời (thơ thiếu nhi, in chung, 1985), Thư mùa đông (thơ, 1994), Trường ca biển (trường ca, 1994), Thơ Hữu Thỉnh (thơ tuyển, 1998), Sức bền của đất (trường ca, 2004), Thương lượng với thời gian (thơ, 2005), Mùa xuân trên tháp pháo (bút ký, truyện ngắn, 2009), Lý do của hy vọng (tiểu luận - phê bình, 2010), Trăng Tân Trào (trường ca, 2019), Ghi chú sau mây (thơ, 2020), Bến văn và những vòng sóng (tiểu luận - phê bình, 2020), Giao hưởng Điện Biên (trường ca, 2024), Ám ảnh chữ (tiểu luận - phê bình, 2025).
Nhà thơ Hữu Thỉnh đã nhận nhiều giải thưởng văn học xứng đáng: Giải Ba cuộc thi thơ của tuần báo Văn nghệ, năm 1972 - 1973 với bài Mùa xuân đi đón; Giải A cuộc thi báo Văn nghệ 1975-1976 với bài Chuyến đò đêm giáp ranh; Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1980 với trường ca Đường tới thành phố, Giải xuất sắc của Bộ Quốc phòng, năm 1994 với Trường ca biển, Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1995 với tập thơ Thư mùa đông; Giải thưởng Nhà nước về VHNT năm 2001; Giải thưởng Văn học Đông Nam Á, năm 1999; Giải A cuộc vận động sáng tác VHNT học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh năm 2020 với trường ca Trăng tân Trào; Giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT năm 2012.
Năm 2022, nhà thơ Hữu Thỉnh vinh dự nhận Huân chương Độc lập hạng Nhì. Phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước ghi nhận “Trong hơn 60 năm sáng tạo văn học nghệ thuật, ông là tác giả của nhiều tác phẩm văn học gồm thơ, bản ký văn học và lý luận phê bình, ghi dấu hai chặng đường lớn của văn học dân tộc; thơ ca những năm chống Mỹ, cứu nước và thơ ca trong chặng đường đổi mới” (theo Chinhphu.vn, 9/5/2022). Nhà thơ Hữu Thỉnh là một đại biểu điển hình của thế hệ nhà văn đồng hành cùng đất nước, nhân dân như Xuân Diệu viết “Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi/ Cùng đổ mồ hôi, cùng sôi giọt máu/ Tôi sống với cuộc đời chiến dấu/ Của triệu người yêu dấu gian lao” (Những đêm hành quân).
Một đời người, đời văn như thế cũng xứng đáng bước vào lịch sử văn học Việt Nam thời đại cách mạng và chiến tranh, hòa bình và đổi mới, hội nhập và phát triển.
Muốn biết dòng sông thơ văn của Hữu Thỉnh chảy thao thiết theo hướng nào, phải trở lại “bến văn” đầu tiên của đời người, đời thơ. Tác phẩm đầu tay thường nằm lòng tác giả suốt cả đời cầm bút sáng tác, dẫu được công bố trên báo chí sách vở hay không. Nó là mối tình đầu trong sáng, tinh khiết, vẹn nguyên, trở thành ký ức sáng tạo. Bài thơ đầu tay của nhà thơ tương lai Hữu Thỉnh có nhan đề Nhớ mẹ (viết 1956) không đăng ở báo nào “Nhưng là kỷ niệm khó quên với hành động cầm bút của tôi (...). Bài thơ đầu tiên được đăng trên báo Người giáo viên nhân dân, năm 1962, có nhan đề Trường em (...). Mỗi lần nghĩ đến hai bài thơ đầu tay ấy, lúc nào tôi cũng thấy rạo rực” (Trò chuyện với Sang thu, nhà văn Bùi Việt Thắng thực hiện, Tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, số 7/2021). Ở đây chúng ta cần lưu ý đến quy luật sáng tạo của nghệ thuật nói chung, của thơ ca nói riêng - sức mạnh của trực giác như là giai đoạn phát khởi của hoạt động tinh thần. Một thiếu nhi 14 tuổi viết thơ về mẹ, hình ảnh cụ thể, gần gũi nhất với một sinh linh bé bỏng đầu đời. Những gì tốt đẹp nhất của cuộc đời tạo hóa đã ban tặng cho cậu bé chỉ có thể qua người mẹ - người mang nặng đẻ đau, người nuôi dưỡng mầm sống như một niềm hy vọng thiêng liêng. Đại văn hào Nga M. Gorki đã viết “Không có người mẹ, không có mặt trời, không có anh hùng, cũng không có thi nhân”. Rời bàn tay người mẹ, rời ngôi nhà và mảnh vườn thân yêu của mình, cậu bé dần từng bước trưởng thành và bước vào một ngôi trường làng nào đó. Đây là bước đi thứ hai tuần tự trên đường đời của một con người. Nếu gia đình là trường học đầu tiên thì nhà trường là trường học thứ hai vô cùng trọng đại.
Bài thơ đầu tiên đăng trên báo Văn nghệ - một diễn đàn văn chương sang trọng bậc nhất ở Việt Nam trước đây cũng như hiện nay có tựa Về một khúc sông. Đó là bước chuyển tự nhiên trong hành trình sáng tạo, sau gia đình như trường học đầu đời và nhà trường như nơi mở ra tri thức, dòng sông quê trở thành lớp học rộng lớn nuôi dưỡng tâm hồn nghệ sĩ. Nhờ thế, hình tượng dòng sông từ lâu đã thành nguồn cảm hứng bền lâu của thi ca Việt Nam. Thi sĩ Bế Kiến Quốc có những câu thơ hay nằm lòng bao thế hệ “Sinh ở đâu mà ai cũng anh hùng?/ Tất cả trả lời: sinh bên một dòng sông” (Những dòng sông). Cũng dễ hiểu vì sao nhạc phẩm Khúc hát sông quê của nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo phổ thơ Lê Huy Mậu lại da diết đến thế với những ai xa quê theo số thiên di vì bất kỳ lý do nào. Điều đó giải thích vì sao thi phẩm Nhớ con sông quê hương của thi sĩ Tế Hanh lại thành mẫu mực của tác phẩm văn chương được đưa vào sách giáo khoa phổ thông. Về một khúc sông của Hữu Thỉnh, do đó, là cột mốc khẳng định cội nguồn cảm xúc thiêng liêng, nơi dòng mạch thơ ca bắt đầu cuộn chảy và ôm trọn những ký ức về mẹ cùng quê nhà.
Nói về mạch nguồn trữ tình trong thơ Hữu Thỉnh, vì thế không thể không quan sát và quan tâm đến thi liệu, thi hứng, thi ảnh buổi đầu đời đến với thơ ca theo lý thuyết trực giác trong quá trình nhận thức và sáng tạo của nghệ sĩ ngôn từ. Bài thơ Về một khúc sông được viết năm 1966, nghĩa là ba năm sau ngày nhập ngũ của chàng thanh niên Hữu Thỉnh với tuổi đôi mươi tràn trề sức sống, hoài bão và lý tưởng của một thế hệ “Nước còn giặc còn đi đánh giặc/ Chiến trường giục giã bước hành quân”. Nhưng dù bàn chân đã in dấu trên nhiều miền quê đất nước cả trong hòa bình, cả trong chiến tranh thì thi sĩ vẫn không thôi ghi hình ảnh của mẹ và ngôi nhà của mẹ vào tâm trí, tâm cảm. Bài thơ Ngôi nhà của mẹ (1980), theo chúng tôi, là một trong những bài thơ hay nhất của Hữu Thỉnh: “Chiếc vé tàu cũng hồi hộp như con/ Khi con về với mẹ/ Con lại ngồi vào chiếc chõng tre xưa/ Nơi mẹ vẫn ngồi khâu, cha thường chẻ lạt/ Bao xa cách lấp bằng trong chốc lát/ Trăm cánh rừng về dưới giọt gianh thưa/ Xin mẹ lại cho con bắt đầu đi gánh nước/ Gánh bao nhiêu trong mát để dành/ Xin mẹ lại cho con nấu bữa cơm mà không cần giấu khói/ Để con được cảm ơn ngọn lửa nhà ta/ Ngọn lửa biết thay con tìm lời an ủi mẹ”. Bài thơ dựa vào một cấu tứ thâm sâu “người ta sinh ra vốn không phải đã là lính”. Nên những khao khát giản dị, bình thường cũng chính là hạnh phúc. Nên nói về mạch nguồn trữ tình trong thơ Hữu Thỉnh chính là nói về quá trình truy nguyên, trở về trạng thái bình thường của đời sống. Trong khi đó, cả một thế hệ đã buộc phải gồng mình tồn tại và chiến thắng trong một hoàn cảnh không bình thường của chiến tranh: “Không có sách chúng tôi làm ra sách/ Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình” (Đường tới thành phố). Đấy liệu có phải là “đại bác gầm thì họa mi ngừng hót” (?!). Ở đâu đó trên thế giới này có thể như thế. Nhưng trong hoàn cảnh Việt Nam, trải qua bốn cuộc chiến tranh cách mạng kéo dài từ 1945 đến những năm 80 của thế kỷ XX, thơ vẫn cất lên như nhu cầu tự nhiên của tinh thần, như một cách gìn giữ phần người trong mỗi con người.
Hành trình và thành tựu văn chương/ thơ ca của Hữu Thỉnh xứng đáng là đối tượng của một công trình nghiên cứu nghiêm túc và công phu. Hẳn thế. Trong không khí của mùa xuân đang náo nức đến gần, xin được viết ngắn về một thi sĩ không riêng tôi yêu quý. Gọi là “Lời quê chắp nhặt dông dài/ Mua vui cũng được một vài trống canh” (Truyện Kiều - Nguyễn Du).
Hà Nội, 12/2025
B.V.T
