Giới thiệu
Tin tức
Sự kiện & Đối thoại
Sáng Tác
Nghệ thuật
Lý luận & Phê bìnhNgười & Đất quê hương
MultiMedia
Zalo

Lên ngàn mùa Aza

HẠNH NGUYÊN    30/01/2026    14
Dân tộc Pa Kô cư trú ở miền núi tỉnh Quảng Trị đón mùa lễ hội Aza - tết mừng cơm mới sớm hơn so với tết Nguyên đán một tháng. Đấy cũng thường là thời gian giá rét nhất trong năm. Sau chuyến xe đêm đường dài, vượt qua quãng đèo chìm trong mưa phùn và gió rét âm u, chúng tôi đến xã Lìa đón tết cùng đồng bào Pa Kô ở làng Kỳ Nơi. Đây là một ngôi làng nhỏ bé nằm ở một góc rừng hẻo lánh, yên tĩnh của đại ngàn Trường Sơn.

Làng chừng hai trăm hộ gia đình sống dưới những mái nhà sàn lúp xúp, nép mình dưới chân núi Coh Tá quanh năm mây phủ. Ngôi nhà sinh hoạt cộng đồng của làng, tiếng Pa Kô gọi là Moong, nằm ở khoảnh đất đẹp nhất, giữa bát ngát màu xanh cây rừng là nơi làng tổ chức lễ hội Aza. Buổi sớm trời lạnh, rừng núi đầy sương, phủ lên Moong một màn trắng hắt hiu. Mặc dù vậy, dân làng đã tụ lại đông đúc trước sân nhà, già trẻ lớn bé đều mặc quần áo thổ cẩm sặc sỡ. Còn ở một góc sân, những bếp lửa đang đốt củi bập bùng. Một nhóm phụ nữ Pa Kô đang đun nồi nước sôi, tiện thể ngồi sưởi lửa. Thấy khách dưới xuôi lên toàn thân tê buốt vì nhiễm lạnh, trưởng làng Hồ Văn Hinh kéo chúng tôi ra một cái bếp ngồi cho ấm. Một người đàn bà trẻ nở nụ cười bẽn lẽn rồi ấn vào tay tôi bát nước vừa chắt trong chiếc nồi bắc trên bếp. Tôi nhấp ngụm nước nóng hôi hổi thoang thoảng mùi thơm các loại rễ cây lá rừng và hơ đôi bàn tay lạnh cóng vào những mẩu than củi đỏ hồng. Vậy là nguồn nhiệt từ bếp lửa cùng với sự đón tiếp ân cần của bà con với những người khách xa khiến chúng tôi cảm thấy ấm áp sau khi đã vượt qua quãng đèo rét căm căm.

Lần đầu tiên trong đời chúng tôi đi trải nghiệm lễ hội Aza nên rất háo hức. Bây giờ đang là tháng mười hai. Bông lúa trên nương đã được tuốt hết cất vào kho, hương cơm mới tỏa ra từ mỗi mái nhà quyện trong gió núi. Trên khắp các làng bản của người Pa Kô, bà con cũng đã nhắc nhau sửa soạn lễ cúng Aza tạ ơn các Giàng đã ban mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, lúa ngô đầy kho và cầu mong năm mới an lành, ấm no. Anh Hinh cho biết, tùy theo quy mô tổ chức mà lễ hội Aza chia làm hai loại là Aza Kăn và Aza Koonh. Nếu Aza Kăn được tổ chức hằng năm, quy mô nhỏ trong phạm vi gia đình thì Aza Koonh có khi phải năm năm mới làm được một lần vì quy mô làng hoặc liên làng rộng lớn và nhiều nghi lễ đặc sắc. Năm nay cũng đã đến lúc làng Kỳ Nơi tổ chức Aza Koonh ở Moong chung. Số lượng khách mời đông, con cháu ở xa và các già làng, trưởng họ, bạn bè, thân hữu ở các làng kết nghĩa đến dự. Đối với lễ Aza Koonh, ngoài các con vật hiến sinh là trâu, bò, lợn hoặc dê, mỗi dòng họ cũng tự chuẩn bị một mâm lễ vật để cúng Giàng. Tôi hỏi chi phí tổ chức Aza Koonh, anh Hinh nói tốn kém lắm, làng nào muốn tổ chức thì vận động bà con đóng góp của cải. Góp cỡ năm, bảy năm thì làm được một cái lễ to thật to.

Khi chúng tôi đến Kỳ Nơi, vui nhất là thấy dân làng vẫn còn giữ được lễ hội Aza ấm áp và bản sắc. Từ tờ mờ sáng, các mẹ các chị đã tay xách, lưng gùi lễ vật đến Moong trong cơn mưa phùn giá lạnh. Để có lễ vật cúng tế trong ngày tết Aza, dân làng phải chuẩn bị từ nhiều ngày trước đó. Họ gặt lúa, chọn bông lúa đẹp nhất dâng cúng Giàng. Nấu rượu, chọn những ché rượu thơm ngon nhất. Những con vật trong nhà nuôi lớn được như lợn, dê, gà, vịt… tùy điều kiện của mỗi nhà được làm thịt để cúng tế. Bà con cũng tự chuẩn bị những mẻ lúa nếp thơm ngon nhất đem giã để nấu xôi, gói bánh. Làng còn phân công người lội suối bắt cá, vào rừng chặt những ống tre xanh, hái nhiều thứ lá rừng đem về để làm món ăn cúng Giàng… Thực ra, tết Aza bây giờ không phải quá lo toan, dành dụm như xưa. Cuộc sống bản làng đã có nhiều khởi sắc, bà con cần thứ gì cũng có thể đi mua, nhưng họ vẫn muốn lễ vật tạ ơn Giàng phải là những thứ họ tự trồng, tự nuôi, tự bắt. Dân làng nói rằng, tổ tiên họ từ xưa vẫn chuẩn bị Aza như thế, thì đến đời họ vẫn làm thế thôi.

Chúng tôi trò chuyện với Kôn Lia, một già làng rất có uy tín ở Kỳ Nơi, am hiểu các nghi thức phong tục bản địa. Trong câu chuyện của già, đong đầy ký ức và niềm hoài nhớ. Già kể, ngày xưa thú rừng còn nhiều, trước ngày lễ Aza, nhà nào nhà nấy cắt cử người vào rừng bắt cá to ở khe suối, bẫy con chuột hang béo nhất trong rừng. Cuộc đi săn có khi kéo dài cả tuần lễ, có thể săn được lợn rừng, hươu, nai… trong rừng sâu. Sau này, người dân ý thức rõ việc bảo vệ thú rừng hoang dã nên không còn săn bắt nữa. Thay vào đó, bà con đã biết thuần dưỡng, nuôi lợn, dê ở bìa rẫy. Nhiều gia đình ăn sắn ngô quanh năm, nhưng nhất định phải tự nuôi một con lợn từ đầu năm. Già Kôn Lìa thương nhớ mãi về những mùa Aza ở làng này. Bây giờ tuổi đã cao, đôi chân đã chậm không leo được đồi dốc nữa, ông vẫn nhắc: “Ngày xưa, lễ làm tất cả các buổi trong ngày và phải tới vài ngày mới kết thúc. Mỗi làng đều có một Moong chung. Vui nhất là những đêm cả làng tập trung tại Moong, giã gạo làm bánh, nhảy múa ca hát bên ánh lửa bập bùng cho đến khi bình minh ló rạng. Thời ấy cũng đã cách đây rất nhiều năm…”.

Hôm nay già Kôn Lia sẽ đứng ra làm chủ lễ cúng mừng lúa mới. Già mặc cái áo zèng đẹp nhất, miệng ngậm tẩu thuốc đi ra đi vào đón khách, ngó nghiêng các lễ vật đã đầy đủ chưa. Trong ngày lễ Aza, mọi sinh hoạt của dân làng thường quây quần trong sân nhà Moong. Kôn Lia đưa chúng tôi đi xem khu nấu nướng đang tất bật. Cánh đàn ông bổ củi, làm thịt lợn, thịt gà. Giã gạo, làm bánh, nhóm lửa, nấu cơm là việc của phụ nữ. Mọi công đoạn nấu nướng đều vừa khẩn trương vừa tỉ mỉ. Họ đặc biệt chú ý làm các món bánh truyền thống được chế biến từ hạt lúa nếp thơm ngon nhất trong vụ mùa vừa qua. Bánh a zưh làm từ gạo nếp nấu chín sau đó giã nhuyễn cùng mè đen. Bánh a koát làm từ nếp than, gói bằng lá dong lá đót, có hình dáng giống sừng trâu và thường được ví von như bánh chưng, bánh tét ở miền xuôi. Người già bảo ban con cháu phải trân quý hạt nếp, vì nó là “hạt ngọc của Giàng”, cũng như trân quý tất cả những sản vật mà núi rừng đã ban tặng. Vì thế, mâm lễ vật dâng cúng Giàng trong lễ Aza nhất thiết cần có một bát rượu, một con gà trống luộc, cơm lam, xôi nếp, bánh a koát, bánh a zưh, các loại thịt, cá được bẫy bắt trên rừng đêm nướng, phơi khô hoặc bỏ vào ống tre gác lên bếp… Lễ vật không cần có giá trị lớn, cũng không cần số lượng nhiều, chủ yếu mang tính biểu tượng của tâm linh, gắn với đời sống nông nghiệp của đồng bào.

Mỗi dòng họ dâng lên một mâm lễ vật, mâm lễ được các trưởng họ sắp xếp thứ tự tại giàn cúng (tiếng Pa Kô gọi là pa rong) đặt ở giữa sân nhà Moong. Giàn cúng chính gồm ba tầng, cao hơn một mét để đặt lễ cúng ba vị thần. Tầng thứ nhất dành cho thần đất, tầng thứ hai dành cho thần nước, tầng thứ ba dành cho thần trời. Phía sau giàn cúng chính là tầng phụ để cúng thần rừng xanh. Trên giàn cúng, ngoài các mâm lễ vật và các loại hạt giống cây trồng, còn treo thêm các tấm vải zèng hoa văn phong phú đa dạng, tái hiện lại những chi tiết gắn liền với đời sống của đồng bào Pa Kô. Đặc biệt, giàn cúng được đặt ngay bên cạnh cây nêu dựng ở giữa sân nhà Moong, nơi trung tâm lễ hội và thực hiện nghi lễ cúng Giàng. Không giống cây nêu tết Nguyên đán, cao chót vót, treo cờ đỏ, đèn lồng, câu đối. Cây nêu trong ngày tết cơm mới được đồng bào dựng thấp hơn, bốn cây tre chôn xuống đất, cành cong vút ngả ra bốn hướng. Dọc thân cây tre treo nhiều chùm tua tre tượng trưng cho bông lúa là nguồn gốc của sự sinh sôi nảy nở. Đêm trước ngày lễ, dân làng đã mang các con vật hiến tế buộc dưới gốc cây nêu. Người Pa Kô cho rằng, những già làng cao tay làm phép có thể giao tiếp với thần linh thông qua cây nêu này và chuyển lời khấn nguyện của làng tới các vị thần.

Sau khi các mâm lễ được đặt lên giàn cúng, trưởng làng đánh lên những tiếng trống báo hiệu nghi thức cúng Giàng bắt đầu. Già Kôn Lia chủ trì lễ cúng ngồi trước mâm cúng, sau đó là các trưởng họ ngồi xung quanh. Tất cả con cháu tập trung đầy đủ trong sân nhà Moong chăm chú lắng nghe. Theo phong tục của người Pa Kô, lễ cúng mừng lúa mới có sáu lần khấn là khấn mời Giàng về dự lễ, khấn dâng lễ vật, khấn mời thần linh và tổ tiên thưởng thức vật phẩm dâng cúng, khấn ơn nghĩa, khấn cầu xin và khấn tiễn Giàng. Thi thoảng giữa các lần khấn, những tiếng chiêng, tiếng trống, khèn bè, tù và… cùng vang lên đệm nhịp để lễ cúng thêm phần long trọng.

Nghi lễ cúng Giàng vừa xong cũng là lúc bữa cơm mừng lúa mới được dọn ra trên chiếu bạt trải ngay giữa sân nhà Moong. Già Kôn Lia và các trưởng họ nhiệt tình mời chúng tôi ở lại ăn cơm gạo mới, uống chén rượu cần như phong tục hiếu khách của người Pa Kô. Bữa cơm dọn ra có các món cơm lam nướng ống tre, thịt lợn bản, canh arvay hoor, bánh a koát, bánh a zưh, rau rừng, cá suối… toàn là những món ăn truyền thống của đồng bào. Một tốp đàn ông khệ nệ bưng ra những ché rượu cần được ủ từ vụ mùa trước. Anh Hinh kể rượu của bà con tự làm lấy qua tất cả các công đoạn, gạo nếp tự gieo, ngô sắn tự trồng, men tự ủ, rượu nấu bằng nồi đồng, ủ bằng ché cổ do các cụ xưa để lại.

Mỗi ché rượu có tới cả chục người cùng uống, rượu cần uống càng đông người càng ngon, càng vui. Chẳng quan tâm chúng tôi là ai, từ đâu tới, cứ phải bình đẳng vít cần rượu hút một ngụm đầy rồi cứ thế lần lượt quay vòng. Xong một vòng, nước trong ché rút xuống lại được chế thêm cho đầy. Hễ gió núi trườn qua thì hương rượu dâng lên, loang tỏa thơm lừng lựng. Bên những ché rượu cần, mọi người rỉ rả bao câu chuyện của một thời xa vắng, của đời sống hôm nay. Chuyện đồi rừng, nương rẫy, cây trồng, vật nuôi mang đến no ấm cho con người nay mai. Cả những chuyện lớn sắp diễn ra như chuẩn bị xây sửa nhà, hay thông báo chuyện cưới xin cho con cháu để cả làng cùng đến vui vầy, chia sẻ.

Những ché rượu cần cứ vơi lại đầy. Rượu ngấm, cồng chiêng cũng được nổi lên dồn dập. Điệu múa Azakoonh cùng tiếng chiêng, tiếng khèn chảy trong máu thịt của mỗi người Pa Kô. Họ quay thành vòng tròn, dập dìu đi trong tiếng nhạc rộn ràng, những hạt cườm mã não rung reng theo từng nhịp bước chân. Mỗi lần tiếng cồng chiêng đánh lên, tiếng ngân của nó vọng qua dãy núi, cả mấy làng bên cạnh đều nghe thấy. Nghe nói mùa lễ hội như vậy có thể kéo dài tới một, hai tháng. Lần lượt hết nhà nọ tới nhà kia, dòng họ này tới dòng họ kia, thành ra những tháng mười một, mười hai âm lịch là mùa Aza của đồng bào Pa Kô.

Theo mùa Aza, dân làng rủ nhau đi chúc tết, đi ca hát nhảy múa, uống rượu thổi khèn... Người Pa Kô làm ăn, sinh sống ở xa cũng cố gắng trở về nhà, sum họp cùng gia đình làng bản. Thời trước cho đến bây giờ, người Pa Kô ở Kỳ Nơi vẫn qua lại làm ăn, kết hôn với người Pa Kô ở các làng A Xóc, A Voòng, A Mênh thuộc huyện Sê Pôn, Lào. Từ đó không ít người sống ở hai sườn núi lại trở thành họ hàng ruột thịt, dịp lễ tết hội hè vẫn qua lại thăm nhau. Người dân trong mỗi làng có việc gì to nhỏ bên kia đều có mặt. Những ngày tết cơm mới lại băng dốc vượt đèo vài chục cây số đường núi sang chúc nhau. Có lẽ vì thế, Aza của dân tộc Pa Kô mang màu sắc tết cổ truyền, tết đoàn viên của gia đình, dòng họ và của làng.

Lễ hội Aza Koonh đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, khẳng định giá trị văn hóa quan trọng của nó. Không chỉ người Pa Kô tự hào, mà những người dưới xuôi lên cũng thích thú với không gian, màu sắc của lễ hội. Trong những câu chuyện say sưa bên ché rượu, có những tiếc nuối, có những lo sợ. Tiếc vì Aza ngày càng ít được tổ chức. Tiếc vì nhiều làng đã mất đi không gian văn hóa và sinh kế gắn liền với lễ hội. Sợ rằng mai này Aza không còn. Sợ có ngày Aza chỉ còn trong ký ức của người già khuất núi… Nhưng rồi câu hát của các chàng trai, cô gái Pa Kô đã vang lên: “Ơi! A chai (chàng trai) ơi/ Ơi! A nun (cô gái) ơi/ Về đây, về đây/ Cùng múa cùng hát/ Lúa mới thơm bay bay/ Đất trời thêm say say…” như gửi gắm niềm tin Aza sẽ được lưu giữ, trao truyền từ đời này sang đời khác, cho con cháu quây quần ấm áp sum vầy. Cho mỗi mùa lúa chín sau này, mọi người lại được xem những vũ điệu cồng chiêng rộn ràng trong trùng trùng chân bước, trong lớp lớp thanh âm của những bài dân ca Pa Kô đắm say lòng người.

Chiều xuống, từ Moong nhìn lên những dãy núi, thấy mây như thác cuồn cuộn sà xuống nhuộm trắng đỉnh núi Coh Tá. Cái giá lạnh và mưa bụi lất phất cuối năm cũng len lỏi qua những ô cửa nhà Moong, nhưng bếp lửa vẫn bập bùng cháy theo nhịp hát điệu múa. Cái nóng của than hồng hòa quyện cùng hơi ấm của tình làng nghĩa xóm xua tan giá lạnh của đất trời, khiến Moong trở nên ấm áp, ngập tràn sắc xuân. Già làng Kôn Lia vẫn ngậm tẩu thuốc ngồi bên bếp lửa, lặng lẽ theo dõi cuộc vui. Tôi rời chiếu rượu, tới bên bếp lửa ngồi sát già, lắng nghe những âm thanh rộn rã của cồng chiêng, da diết của điệu ka lơi, cha chấp. Tôi kể với Kôn Lia về ấn tượng của mình với lễ hội Aza, ông nói, ở bất kỳ nơi đâu trong các bản làng người Pa Kô thì cũng thế, tết cơm mới là dịp để bà con gắn kết với nhau bằng những sinh hoạt cộng đồng ấm cúng. Và dường như, tết ở non cao càng mưa, càng gió, càng nồng…

H.N