
(Giải B, Giải Văn học Nghệ thuật Lưu Trọng Lư 2015 - 2020)
Đọc tập thơ tại Tủ sách Nhật Lệ: https://tapchinhatle.vn/ebook_read.php?id=250
Tập “Tái
sinh” của Nguyễn Tiến Nên gồm hơn 60 bài thơ. Mỗi bài là một tiếng nói
riêng nhưng đều gặp nhau ở hồi ức và những trải nghiệm của
một người đã từng trải qua nhiều nỗi niềm, mất mát, khổ đau trong cuộc đời.
Ngay ở phần mở đầu, tác giả đã tự họa chân dung mình bằng những câu thơ ngắn,
nhiều suy tư: “Vụng về/gieo đường cày hoang
hoải/dụi mắt/ngắm mùa màng thiên hạ/ tôi xa xót gặt về/xác ve…” (Khao khát).
Sử dụng thể thơ tự do với nhịp điệu ngắt đoạn, Nguyễn
Tiến Nên tạo nên cảm giác trăn trở, day dứt trong hành trình nhìn lại chính
mình. Ông không né tránh những giới hạn của bản thân mà thẳng thắn nhận mình là
người “vụng về”. Từ cái “vụng về” ấy vẫn hiện lên hình ảnh người thơ “gieo
đường cày” miệt mài trên cánh đồng thi ca. Ý thức
được trách nhiệm của mình với thơ ca, ông luôn đau đáu trăn trở phát hiện, bồi
đắp, làm mới trong sáng tạo nghệ thuật. Và càng thấm thía được chân lý đó, ông
càng nhận về mình nỗi chua chát, xót xa: “Tôi xa xót gặt về/xác
ve”.
Nguyễn
Tiến Nên tìm đến thơ bằng những trải nghiệm và cảm xúc được chưng cất từ đời
sống. Câu thơ “bật dậy!thấy mình đã
khác/hôm qua” là một lời khẳng định, một tuyên bố sòng phẳng, rạch ròi
rằng tác giả không chịu thỏa hiệp và bằng lòng với cái cũ.
Nguyễn Tiến Nên luôn “tỉ mẩn”, chăm chút
cho “vườn hoa chữ nghĩa” của mình ngày một thêm sắc. Nếu bài thơ “Khao khát”
thể hiện ý thức trách nhiệm của một người cầm bút thì “Bến K15” là hoài niệm
của tác giả khi gặp lại địa danh mang dấu ấn lịch sử đường Hồ Chí Minh trên
biển. Đọc những câu đầu của bài thơ, người đọc dễ dàng bắt gặp hình ảnh thú
vị, giàu sức liên tưởng: “Cưỡi bão giông/những con rồng gồng mình giữa lằn
ranh/chân trời và thủy táng”.
“Những
con rồng” ở đầu bài thơ là hình ảnh ẩn dụ cho hành trình làm việc miệt mài, bất
chấp nguy hiểm của đoàn tàu không số. "Bến K15" là xuất phát điểm của
những con tàu không số, chuyên làm nhiệm vụ bí mật chở vũ khí chi viện cho
chiến trường miền Nam những năm kháng chiến chống Mỹ. Với vị trí ấy, K15 đã trở thành một địa danh mang dấu
ấn lịch sử. Trở lại bến K15, Nguyễn Tiến Nên tìm về ký ức của riêng mình và
những hồi ức chung của một thế hệ từng sống trong thời chiến.
Ngoài hình ảnh đoàn tàu không số thì bến K15 còn là nơi lưu giữ
nhiều hoài niệm. Đó là hình ảnh gần gũi và thân quen gắn chặt với tuổi thơ,
cuộc đời của mỗi người: “Cha như bóng câu một chiều/gió tứ phương tả tơi
vành/nón mẹ/góc lớp lùi thùi/chú dế cụp râu”. Những lời thơ dài ngắn,
đứt quãng như lớp sóng ngôn từ dập dềnh trên mặt hồ chữ. Hình ảnh cha, mẹ luôn
là nguồn cảm xúc vô tận mà những người con luôn nâng niu, cất giữ vào lòng để
mỗi khi nhớ về cảm xúc lại trào dâng.
Trong “Bến K15”, hình ảnh cha, mẹ được cất lên sao nghe bùi ngùi
và xót xa đến thế. Cha được so sánh với sự vô định, mông lung là “bóng câu một
chiều”. Hình ảnh mẹ dù không được so sánh nhưng người đọc vẫn có thể hình dung
được sự mong manh, yếu ớt, tảo tần qua câu thơ nhói buốt “gió
tứ phương tả tơi vành/nón mẹ”. Những mã tự trầm luân này giúp người
đọc hình dung được sự khốc liệt của chiến tranh. Dòng thơ viết về mẹ được bóc
tách thành hai câu, thể hiện sự xúc động nén chặt bấy lâu chợt vỡ òa trong lòng
tác giả.
Hình dáng người mẹ như cái cây bị quăng quật trước giông gió vì
mưu sinh nhưng chưa bao giờ chịu gục ngã. Vì tương lai của những đứa con, vì
mưu toan cho gia đình, vì vận mệnh của đất nước, mẹ sẵn sàng đánh đổi thanh
xuân, đánh đổi sức khỏe thậm chí cả tính mạng của mình: “Mẹ
nuốt tháng năm lầm lũi/gạch nối/con vào đời”. Hình ảnh đối lập “mẹ nuốt
tháng năm” và “con vào đời” cho thấy sự hy sinh vô bờ, chẳng có gì sánh nổi của
mẹ để hoán đổi sự trưởng thành và ước vọng của con. Ngoài hình ảnh bố mẹ, đoàn
tàu không số, bến K15 còn là địa điểm in dấu “vô số” kỷ niệm của tác giả. Đó là
những kỷ niệm không tên nhưng cứ “ngồn ngộn”, ăm ắp trong lòng ông:“Gặp
lại trên bến K15/vô số hình ảnh vô số âm thanh/những hoài niệm không tên/như
những con tàu không số”.
Thâu suốt tập thơ “Tái sinh” của Nguyễn Tiến Nên là những mảng
ngôn từ đầy hoài niệm. Các mã tự này dung chứa xúc cảm chân thực và sâu lắng
của tác giả khi nhớ về những nơi chốn, địa danh mà ông từng đi qua: “Chùa
Cầu cung điện/đáy sông/quyến rũ thế nhân/hoài niệm” (Đêm phố cổ). Đối
với Nguyễn Tiến Nên, mỗi một vùng đất đều có những dấu ấn và kỷ niệm riêng; bất
kể đó là nơi ông từng gắn bó hay tình cờ được dịp ghé thăm. Điều này giúp người
đọc thấu hiểu hơn tâm hồn nhạy cảm và ngập tràn yêu thương của tác giả. Ông
mang hơi ấm tình yêu của miền Trung đến vùng đất tận cùng đất nước: “Cà
Mau ơi!/huyền thoại mỗi rạch vàm/vùng đất thân thương/đi cùng trang tiểu
thuyết” (Hơi thở Cà Mau).
Ngoài những hoài niệm, những khát khao cháy bỏng trong hành trình
sáng tạo nghệ thuật thì thơ của Nguyễn Tiến Nên luôn có bóng dáng của sự hồi
sinh: “Cảm
ơn bà đã cho con hơn tất cả/Những gì còn lại nơi này!” (Những chân
hương cũ); “bó hoa trên tay tôi líu lo/cửa phòng màu trắng hé
mở…” (Đợi); “anh hạnh phúc níu bầu vú Tổ quốc/trái tim rộn
ràng vỗ cánh” (Níu)... Có lẽ vì thế ông chọn bài “Tái sinh” để đặt tên
cho tập thơ. Hình ảnh “nó” ở bài thơ này mang tính ẩn dụ. Câu thơ “nó
ra đời sau tôi phù thủy hơn tôi thích làm sư phụ tôi” giúp người đọc liên tưởng
đến bản chất của “nó”. “Nó” chẳng phải là gì xa xôi mà chính là “cái khác”
tồn tại trong mỗi con người. Đó là những ti tiện, tham lam, đớn hèn… trú ngụ
trong cơ thể. Phân tâm học gọi “nó” là cái vô thức. Khi phần vô thức hoạt động
mạnh, mất cân bằng, thì nó sẽ lấn át phần ý thức.
Với trách nhiệm của người cầm bút, Nguyễn Tiến Nên tỏ bày trăn
trở và không ngần ngại phân trần “cái khác” trong mỗi con người. Tâm hồn của
con người sẽ trở nên thanh sạch và thánh thiện khi rũ sạch, loại trừ được “cái
khác”. Vì thế, nhà thơ cảm thấy được “tái sinh” khi “tống khứ” được “kẻ bần
tiện” ấy ra khỏi bản thân mình.
“tôi đã vô tình để nó sống tầm gửi khác nào
ốc tha gỗ mục
nó khoác lác rằng chính nó mới cực nhọc
tha tôi
tôi cố tình tống khứ kẻ bần tiện
ai-tha-ai?
tự biết…
tôi ngộ ra khi không còn nó
tôi từ kiếp nộm tái sinh.”
Qua những thi ảnh, thi liệu trong “Tái sinh”, Nguyễn Tiến Nên
không chỉ thổ lộ xúc cảm hân hoan, vui mừng của mình khi được “gọt giũa”, thanh
lọc bản thân, khi được “tái sinh”; mà trên hết, nhà thơ muốn nhắc nhở chúng ta
phải biết hài hòa và cân bằng mọi thứ trong cuộc sống, đừng để những toan tính,
ích kỷ, đố kỵ len lỏi và chi phối bản thân. Nếu mỗi người có ý thức giữ gìn tâm
hồn mình thanh sạch, an yên thì cuộc sống này sẽ trở nên ý nghĩa và tươi đẹp
hơn.
Nhìn
chung, “Tái sinh” được kết nối bởi
hai mạch cảm xúc nổi bật: ký ức và sự tự nhận thức. Nguyễn Tiến Nên nhiều lần
trở về với gia đình, quê hương, những vùng đất đã đi qua và những dấu mốc của lịch
sử. Khởi từ những trải nghiệm ấy, ông suy ngẫm về thân phận con người, về những
giới hạn của bản thân và khát vọng đổi thay. Ký ức tạo nên chiều sâu cảm xúc. Những
chiêm nghiệm về bản thể tạo nên chiều sâu tư tưởng. Sự đan xen giữa hai mạch
nguồn ấy đã góp phần làm nên diện mạo riêng cho tập thơ “Tái
sinh”.
