Mỗi quãng già thêm, người ta càng mong ước được sống ở quê nhà. Những người già bên này vẫn tự ví mình như người câm, người điếc và bị liệt. Bởi vốn ngoại ngữ ít ỏi, giao tiếp khó khăn rồi thì không thể lái xe, không thể tự đi đâu trên đất Mỹ thênh thang này. Đến hồi trải qua giây phút đớn đau, buộc phải đong đếm từng giây phút còn lại của đời mình thì ý nghĩ muốn nằm ngủ vĩnh viễn nơi cỏ xanh quê nhà lại càng thúc giục.
Nhưng đời nào cả nhà bên đó đồng ý. Mạ tặc lưỡi, mợ chẳng bao giờ chịu về xứ mình để sống mô, con cái cậu lại càng không. Nên chi với cả nhà, ai cũng nghĩ lần này cậu về quê là lần cuối cùng trong đời, sẽ không còn cơ hội thứ hai, vì cậu lại mắc bệnh nan y.
* * *
Cậu thu xếp về quê đúng đợt Tết. Mạ đi ra đi vào, bàn tính chuyện này chuyện kia. Lo chỗ ăn chỗ ngủ cho cậu thôi mà rộn ràng. Cậu về sẽ ở nhà tôi chứ nhà dì Thảo hơi bất tiện. Tôi bảo sẽ lên ngủ với mạ, cậu ngủ với ba rồi xong có chi đâu mà mạ cứ lo. Mạ nói cậu ở bên đó chăn ấm, nệm êm tiện nghi thoải mái quen rồi, cậu bây lại không được khỏe. Thế nên mạ lục đục đi mua nệm, mua chiếu mới rồi hì hục thu vén chỗ đàng hoàng cho cậu nằm. Bao gà vịt trong chuồng, mạ nhắm nấu tẩm bổ cho cậu.
Mạ thương cậu nhất nhà, lần nào nghĩ về cậu cũng khóc. Khóc hệt như bận trước, khi gửi mẫu máu qua xét nghiệm, mạ đứng bên bàn thờ ông mệ khấn vái để máu mình trùng hợp cái thứ chi chi đó trong mẫu máu của cậu, mong cứu cậu thoát lưỡi hái tử thần thêm lần nữa. Rồi hồi xưa là khóc ngất trong đám tang của ông mệ vì thương trước khi nhắm mắt không ai được nhìn mặt cậu lần cuối.
Hồi ông mất, tôi còn nhỏ nên không nhớ đám tang bữa đó thế nào. Ông đi khi cậu vừa sang đó được hai năm, cuộc sống chưa ổn định, làm chi có tiền về nước chịu tang cha. Hẳn đời này không còn điều chi đớn đau hơn thế, chẳng thể gặp mặt cha mẹ nghe lời trăng trối dạy dỗ cuối cùng, chắc đau khổ và ăn năn lắm.
Bận đám tang mệ, ba thuê người quay hình lưu vào đĩa CD, có ý để hồi nào cậu về xem. Mạ nói ba chu đáo, cái chu đáo của ba làm mạ cảm động vì giây phút ấy mạ đâu nghĩ được chi. Lần đó cậu về là dịp hết khó của mệ, cậu quỳ dưới nền nhà khi tôi mở đĩa đám tang, màn hình ti vi chiếu mạ con tôi lạy mấy cái là cậu lạy mấy cái. Nước mắt cậu chảy dài, mạ ngồi bên cũng khóc nức nở vì thương.
Dù ai có trách cứ hay nói chi, mạ vẫn thương và bao dung vô cùng với cậu. Khác với dì dượng hay trách móc này nọ, cha chết không về được đã quá rồi chừ mạ chết cũng không thèm về. Mạ nói đời ni ai muốn rứa nhưng hoàn cảnh bắt buộc, có về cũng không kịp. Lúc về có khi mở cửa mả rồi, tại mệ đi ngày xấu nên không chờ lâu được. Với lại, đợt đó cậu chuẩn bị làm hóa trị, sức đâu mà về.
Sau khi bình phục, cậu gửi tiền dần dần để xây cất lăng mộ cho ông mệ. Ba đứng ra xây phần lăng ốp đá hoa cương đẹp nhất, loại đá qua thời gian càng giá trị, không bị hao mòn và cũ kỹ. Hồi đó ở làng chưa có lăng mộ nhà ai ốp đá đắt tiền cứng cáp như của ông mệ. Bởi vậy, bà con trong họ mới bớt trách cậu. Với người quê, ngôi nhà cho người đã khuất được ví như niềm tự hào của con cháu. Nhà nào cũng gắng xây phần lăng cho tổ tiên ông bà sao cho to đẹp và sang trọng kiểu cách. Lo được nơi chốn thắp nhang đàng hoàng cho ông bà cũng coi như là hiếu thuận.
Lúc nhỏ tôi từng trách cậu sao chẳng bao giờ về thăm quê. Lớn lên mới biết ở bên đâu sung sướng như bà con mình nghĩ. Khoản tiền bên ấy gửi về to tát là bởi mệnh giá chênh lệch nhiều mà thôi. Dân mình qua đó lao động cực khổ ngày đêm, còng lưng làm móng tay móng chân cho người ta chứ đâu ăn sung mặc sướng, giàu có xa hoa gì.
Mạ dặn tới dặn lui, cậu không phải lo khoản quà cáp cho bà con làng xóm. Về gặp nhau là vui rồi, mấy chi phí đó để dành mà chữa bệnh. Mạ không dặn thì cậu cũng đâu dư dả, cậu nhờ mạ chuẩn bị mấy phong bao lì xì để mừng tuổi mỗi người một ít dù chi cũng mang tiếng Việt kiều về ăn Tết.
Đợt trước, cậu xanh xao tái nhợt, người ốm xo, tóc tai râu ria rụng sạch vì làm hóa trị. Cậu bảo sợ khó về quê thăm mấy đứa em và các cháu. Cậu khóc, mạ cũng khóc. Màn hình máy tính lạnh tanh, kết nối tận nửa vòng trái đất là hay ho lắm rồi. Mạ cứ ước giá lúc ông mệ còn sống mà có mấy thứ này để chuyện trò với cậu, cha mạ con cái nhìn thấy được nhau dẫu không thể ôm hôn, cầm tay hay chạm mặt.
Gọi điện thông báo mẫu máu của mạ và dì gửi qua không ai phù hợp để làm phẫu thuật, cậu ráng cười để an ủi mạ. Bác sĩ bên đây nói tỉ lệ phù hợp giữa anh em một nhà là hai lăm phần trăm, nên chi trong bốn người họa may mới có một người giống. Phải chi hồi trước ông mệ sinh thêm vài người nữa họa may cậu có người ghép tủy phù hợp. Cậu cười lạc quan để xua đi không khí buồn bã thất vọng của mọi người.
Mạ hỏi đi hỏi lại có chắc cậu về được không, sức khỏe liệu đủ cho chuyến bay dài rồi còn ý mợ nữa. Cậu nói bác sĩ cho về sau khi mình làm cam kết, mợ cũng cảm thông vì thật tình ai cũng chuẩn bị tâm lý khi biết cậu chẳng còn sống bao lâu. Đêm nằm, mạ thở dài than vãn sao chẳng có đứa mô về cùng cậu, con cái đã vậy mà mợ cũng hay, lỡ giữa đường có chuyện chi thì mần răng.
Hôm cậu về, cả nhà tôi vào đón ở sân bay. Gặp nhau mừng tủi, mạ và dì ôm cậu khóc sưng mắt. Cậu cười hiền khô, bảo có hơi mệt nhưng mà vui lắm. Mạ hấp tấp đi nấu cháo, pha sữa cậu uống, lật đật thu vén dọn dẹp rồi ứa nước mắt đứng nhìn cậu từ xa. Cậu bảo tôi dẫn cậu ra bờ sông chơi rồi kể vài chuyện xa lắc hồi nhỏ. Hồi cậu tập bơi cho mạ và dì. Và mấy mùa nước lụt nước ngập lên tới bàn thờ, cậu chèo boong chở mệ đi vớt củi…
So với mấy đứa cháu, tôi là đứa chuyện trò với cậu nhiều nhất. Tôi biết cậu buồn khi hai đứa con không có chút tình cảm với quê hương xứ sở và cả mợ nữa. Mợ người Nam, lâu nay chưa từng gắn gó với quê chồng cằn cỗi thì lấy chi để thiết tha. Hai đứa con lớn lên bởi môi trường và nền giáo dục bên đó, những hiện đại và cách sống độc lập của người phương Tây khiến tình cảm gia đình xa cách, không như ở mình.
Tối đó sau khi tiễn bà con về, cậu ngồi nói chuyện với cả nhà, bảo hỏi ý kiến mấy em và các cháu. Những giọt nước mắt chảy dài trên gương mặt của người đàn ông lênh đênh xứ người suốt mấy mươi năm khiến ai nấy đều bối rối. Thực tình hồi chiều, cậu đã kể trước cho tôi, ý tâm sự với cả nhà cũng là do tôi bảo cậu, ba mạ và dì dượng sẽ hiểu chuyện hơn đứa non trẻ như tôi.
Thời gian cậu tuyệt vọng nhất là khi biết mình bị ung thư máu. Lần trước là ung thư hạch nhưng phát hiện kịp thời nên điều trị khỏi. Cậu sống khỏe mạnh từ đó đến nay đã bảy năm. Nhưng lần này may mắn không đến với cậu lần thứ hai. Cậu cần phẫu thuật ghép tủy, cần có mẫu tế bào gốc phù hợp. Cả nhà bên ấy xét nghiệm không ai trùng hợp. Bên này dì và mạ gửi mẫu máu qua, ai cũng hy vọng nhưng rồi bác sĩ lắc đầu.
Hôm đó đi dạo ở công viên gần bệnh viện, cậu gặp người quen. Chú ấy là bạn của cậu ngày xưa, khỏi phải nói gặp lại anh em đồng hương trên đất khách mừng vui biết chừng nào. Hai người tâm sự suốt buổi chiều. Trước khi chia tay, chú ấy để lại một thông tin mà có nằm mơ cậu cũng không nghĩ đến.
Cậu đã có một đứa con trai với dì Nhung, người thương năm xưa của cậu. Dì im lặng bỏ vào Nam khi biết cậu lấy vợ và đi Mỹ, nay nghe nói đã về lại quê. Ký ức ngày cũ trở về, hồi đó cậu với dì Nhung là bạn cùng lớp, hai người thương nhau biết chừng nào nhưng vì hiểu lầm cậu đã chia tay và đến với mợ.
Suốt mấy đêm thức trắng, từ bi quan tuyệt vọng, cậu đã nghĩ thông suốt hơn. Từ nay phải ráng lạc quan vui vẻ, cố gắng chiến đấu với bệnh tật từng giây từng phút với mong ước được trở về nhận mặt giọt máu của mình. Và thêm hy vọng len lỏi biết đâu anh con trai ấy sẽ cho cậu mẫu tế bào phù hợp, giúp cậu sống thêm vài năm trên đời làm cậu vừa đắn đo khổ tâm, vừa hồi hộp lo lắng. Ý nghĩ đó đã lướt qua không chỉ một lần nên cậu hồ nghi mình quá ích kỷ.
Cậu nói tôi là đứa sống có cảm xúc, tôi làm báo đi nhiều, tiếp xúc nhiều đã gặp trường hợp nào na ná chuyện của cậu chưa, họ xử lý sao cho trọn bề hả con. Tôi ngậm ngùi, chuyện bi kịch ở đời này nhiều lắm, mỗi người mỗi cuộc đời, không phải ai cũng suôn sẻ chỉ cần mình gắng qua khúc gập ghềnh đó coi như là bình an. Bình an đến từ thâm tâm không phải suy nghĩ hay hối tiếc, lo lắng gì. Nói thì dễ nghe vậy thôi nhưng tâm thế của cậu, từ khi biết mình phụ người ta, để người ta một mình nuôi con ở bên này, cậu không chịu đựng được sự căm ghét bản thân mình. Lại rối bời thêm bởi ý nghĩ biết đâu thằng con chưa từng gặp mặt, chưa từng nuôi nấng có thể cho mình thêm vài năm tuổi thọ. Cậu ích kỷ không con?
Tôi thấy mình mắc nghẹn bởi câu hỏi của cậu, tính nói lại thực tình con người ai cũng ích kỷ, đời sống này làm người ta mỗi ngày càng ích kỷ với nhau. Cậu nghĩ cậu ích kỷ khi đã không biết chuyện chi ở bên này, cũng có thể dì Nhung ích kỷ khi không để cậu hay tin, biến cậu trở thành người bội bạc, mợ ích kỷ khi có ý cản ngăn không cho cậu về quê, con cái cậu ích kỷ khi chỉ biết sống cho riêng mình mà không hiểu cảm xúc của cha. Tôi cũng ích kỷ khi tôi giấu đi suy nghĩ của mình.
- Là thằng Chính phải không?
Mạ trầm ngâm sau khi ngỡ ngàng. Hèn chi mỗi lần gặp nó, mạ lại cảm giác quen thuộc và có cảm tình. Nó hiền lành, tốt bụng lắm. Dì Nhung còn mạnh giỏi, hai mạ con giờ ở trên thị xã chứ đâu xa. Vài đám cưới trong làng, mạ có gặp lại dì.
- Mà người chi lạ, định mang bí mật này suốt đời à bây?
Không hiểu sao tôi đinh ninh và có niềm tin rằng anh Chính đã làm cha, hẳn anh sẽ hiểu và cảm thông cho cậu. Người ta ghét nhau thì dễ chứ thương nhau đâu khó khăn chi. Anh hiền lành nên không đến nỗi xua đuổi hay ruồng rẫy cậu đâu. Dì Nhung cũng vậy, dì đâu cố ý giấu biệt bí mật ấy, dì đã thổ lộ với bạn dì đó thôi. Biết đâu ấy lại là lời nhắn nhủ có chủ ý. Với lại chuyện cũ rồi, nay ai cũng sắp đi hết mấy ngả cuộc đời, hẳn dì sẽ không cấm cản cha con gặp nhau hay chê trách chuyện năm xưa. Xem như ấy là chuyện của số phận, của ông trời sắp đặt chứ chẳng phải tội lỗi của ai hết.
Cậu nắm tay mạ, nức nở hỏi liệu anh có đủ tư cách để nhận con không? Nhung có tha thứ không? Chẳng ai dám khẳng định, đến cả người nhanh nhảu như dì Thảo cũng sững người vì quá bất ngờ. Dì cứ vỗ đùi nói “như phim, như phim ri bây”. Tính dì bỗ bã xưa chừ nên chẳng ai trách, thậm chí thấy vẻ mặt của dì cả nhà không nhịn được cười.
- Rồi mợ và mấy cháu ở bên biết chưa?
- Họ biết nên mới đồng ý cho anh về.
Cậu nói nhẹ nhàng vậy thôi nhưng hẳn cả gia đình đối diện với chuyện này chẳng dễ dàng chi. Nhiều người đàn ông tới phút cuối đời mới thú thật với người gối ấp tay kề ở bên rằng tôi từng có đứa con ở đây, ở đó. Phút giây cuối đời họ thổ lộ để anh em nhận mặt nhau, để xin lỗi người còn sống và đỡ giãi bày phân bua dông dài. Chuyện của cậu thì khác chớ, vì cậu không hề hay biết.
Tôi từng gặp anh Chính vài lần trên thị xã. Anh là chủ tiệm sửa đồng hồ ngay trước cổng chợ. Tính tình có vẻ hiền lành, ít nói. Người ta nói máu mủ ruột rà thì không trật đi đâu được, ắt có chút chi đó liên quan dính dáng và giống nhau y tạc cho coi.
Đêm đó ai cũng mất ngủ. Mạ thở dài lăn qua trở về, mạ nói để mạ gặp dì Nhung, đánh tiếng cậu về coi dì có biểu hiện chi không. Cậu chỉ ở tới mồng năm rồi phải qua bên để điều trị tiếp nên không chần chừ lâu được. Cậu bảo chỉ cần gặp được nhau là vui rồi, không cần nhắc chuyện máu mủ ruột rà để cứu mạng chi cả. Mạ đốt nhang cho ông mệ rồi khấn vái để cả nhà có một cái Tết đoàn viên, trọn vẹn. “Ông mệ mình ắt sẽ phù hộ, chỉ đường dẫn lối để cháu con về nhận mặt.”
* * *
Ngày cuối năm, sáng sớm mạ đã dặn cả nhà áo quần chỉnh tề để lên thị xã. Tôi dìu cậu, cảm thấy cả thân người bên cạnh run run như sắp đổ xuống bên mình. Bậc thềm tam cấp nhà dì Nhung đếm tới đếm lui năm bậc mà hai cậu cháu loay hoay cả buổi. Cậu đưa mắt nhìn tôi như hỏi lần nữa, tôi gật đầu.
Khi hai cậu cháu đi qua cánh cửa, tôi biết rồi đây cậu sẽ quay về. Cậu cũng nghĩ mình sẽ về quê, sẽ ráng sống thêm chừng chục năm nữa. Tết nào cũng sum vầy vui vẻ gói bánh, thắp nhang ấm cúng đón giao thừa với cháu con chứ không cô quạnh và buồn bã như bên ấy. Lúc về với đất lại có thể nằm vẹn nguyên bên ông mệ, bên dòng tộc nhà mình giữa cỏ xanh quê nhà.
Cả nhà anh Chính đang đứng trong phòng khách, anh cúi đầu vòng tay chào cậu, bên cạnh là dì Nhung mỉm cười độ lượng. Bằng giọng nhẹ nhàng y hệt cậu, anh thưa:
- Dạ, ba mới về.
D.A
